1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà
nước ta chủ trương xây dựng một “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam” thực sự của dân, do dân, vì dân, với mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Không ngừng xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân
trí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội.
Cùng với việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất,
đồng bộ, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật đi vào
cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh,
thống nhất và công bằng. Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc
biệt đó là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là một biện pháp
không thể thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm
hình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện “sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” của người dân.
Xác định đúng tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân nên trong Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta nhấn mạnh phải “phát huy dân chủ đi
đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng
pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật” [20,tr.135]. Đây chính là điều kiện đảm bảo cho công cuộc đổi mới và
hội nhập quốc tế thành công, khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam
trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
cho nhân dân trong những năm qua còn nhiều hạn chế, chưa được đặt ngang
tầm với yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật. Kiểm điểm 3 năm thực hiện
Chỉ thị số: 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khoá IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến,
khiếu kiện đông người…làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa
bàn Tỉnh.
3
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường tuyên truyền giáo dục đưa
pháp luật vào cuộc sống của đồng bào dân tộc Khmer, để họ hiểu và làm theo
pháp luật, giảm bớt những hủ tục lạc hậu, những vụ vi phạm pháp luật qua đó
nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần ổn định tình hình
an ninh trật tự ở địa phương. Với những lý do trên tác giả chọn vấn đề: "Giáo
dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang hiện
nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình, bởi đây là vấn đề cấp thiết cả về
lý luận và thực tiễn ở Kiên Giang hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Do yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công tác tư tưởng, công tác
tuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền pháp luật, cho nên Đảng và Nhà nước
ta đã có những văn bản cụ thể về công tác tuyên truyền pháp luật. Chẳng hạn:
Chỉ thị số: 315/CT ngày 07/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giao
cho Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo công tác tuyên truyền pháp luật; Chỉ thị
số 02/1998 CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng chính phủ “Về tăng
cường công tác phổ biến pháp luật” và Quyết định số: 03/1998 ngày
19/6/1998 của Bộ tư pháp hướng dẫn các ngành, chính quyền địa phương các
cấp về “Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân”;
Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá
IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”;
Thông báo số 74-TB/TW, ngày 11/5/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khoá X) về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung
ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
Long”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Huỳnh Thanh Quang, 1993; “ Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã vùng đồng bào
Khmer tập trung ở tỉnh Kiên Giang hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Việt Dũng, 2000; “Đổi mới việc thực
hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Kiên
Giang hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa
học của Ngô Kim Y, 2001; “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư
5
tưởng của Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay”,
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Sỹ Đệ, 2005;
"Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ xã vùng có đông đồng bào
Khmer tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay", Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng của Thái Thị Duy Quyên, 2005; Phân viện thành phố
Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2003): Một số
giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam
bộ trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, thành phố Hồ
Chí Minh; Trung tâm Khoa học về tín ngưỡng tôn giáo, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh (2003): Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng bào Khmer
Tây Nam bộ hiện nay, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
Nhìn chung các công trình trên đây của các tác giả đã nghiên cứu một
cách sâu sắc có hệ thống về lý luận giáo dục pháp luật và giáo dục ý thức
pháp luật trên phạm vi cả nước. Đặc biệt có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên
cứu đời sống, văn hoá, tư tưởng của đồng bào dân tộc Khmer dưới nhiều gốc
độ như: Triết học, Xây dựng Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Luật
học...Tuy nhiên có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình, luận án,
luận văn nào nghiên cứu vần đề “Giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào
dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang hiện nay” từ góc độ công tác tuyên truyền.
Do vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm Luận văn tốt nghiệp Cao học ngành
6. Cái mới của đề tài
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thực trạng
giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh
Kiên Giang hiện nay, từ đó nâng cao nhận thức trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức
hoạt động thực tiễn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc giáo dục ý
thức pháp luật đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Kiên Giang.
- Các giải pháp đề ra trong Luận văn có thể được áp dụng trong việc xây
dựng chương trình giáo dục pháp luật cho đồng bào Khmer ở tỉnh Kiên Giang.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên cứu,
giảng dạy và học tập ngành chính trị học - chuyên ngành công tác tư tưởng.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết.
7
Chương 1
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA NÓ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
1.1. Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1.1. Ý thức pháp luật
1.1.1.1. Khái niệm
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có những quy luật và
đặc điểm chung của ý thức xã hội. Song, ý thức pháp luật lại có tính độc lập
tương đối so với tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội khác, với những
đặc điểm riêng của mình. Điều này được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, cũng như bất kỳ hình thái ý thức xã hội nào, ý thức pháp luật
của một thời đại bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội của thời đại đó. Nó chịu
sự tác động của các điều kiện vật chất của xã hội. Sự chuyển biến của nền
ánh mối quan hệ của con người đối với những quy tắc được chấp nhận
trong xã hội nhất định, với tính cách là một yếu tố áp đặt từ bên ngoài. Yếu
tố này, được phục tùng vô điều kiện, nhưng đồng thời cũng nhận sự đánh
giá nhất định. Khác với ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá
nhân theo những quan điểm riêng mà con người đánh giá chính “cái tôi”
của mình, nghĩa vụ và công bằng theo ý thức đạo đức mang tính nội tâm và
tự nguyện, ý thức pháp luật là thể hiện sự tuân thủ, công nhận nghĩa vụ và
công bằng do Nhà nước quy định, nên nó mang tính áp đặt và cưỡng chế.
Giữa ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức đạo đức có mối quan hệ
tác động lẫn nhau, vì chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã
hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế. Quan hệ giữa ý thức pháp luật, ý
thức chính trị, ý thức đạo đức là mối quan hệ hữu cơ, làm tiền đề cho nhau.
Nếu ý thức chính trị tác động chi phối ý thức pháp luật, nhất là thông qua hệ
tư tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật phản ánh những yêu cầu
chính trị dưới góc độ pháp luật. Chính mối quan hệ chặt chẽ này làm cho một
số người lầm tưởng ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị. Ý
thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vi
con người nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn.
9
Trong lịch sử loài người đã từng có những thời kỳ mà luật lệ được coi
là truyền thống đạo đức. Cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và sự
hình thành Nhà nước, ý thức pháp luật ra đời và phát triển song song cùng với
ý thức đạo đức. Đây là sự phát triển có tính chất “cộng hưởng” rất cao; bởi lẽ,
một ý thức pháp luật mạnh chỉ nảy sinh và tồn tại trên nền tảng của những giá
trị đạo đức tốt và ngược lại.
Ý thức pháp luật là một hiện tượng mang tính giai cấp, nó phản ánh đời
sống pháp luật. Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành vi xử
sự của con người bằng các quy tắc, nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định.
thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh một mặt của tri thức pháp
luật mà không đề cập đến tâm lý pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan
điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ
thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành,
pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về
tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con
người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ
chức xã hội [14, tr.229].
Có quan niệm đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ hơn, khi nêu
lên được cả tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật:
Ý thức pháp luật - một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể
những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con
người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với
pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng
hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật
hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vi
hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà
nước, tổ chức [31, tr.290].
Trên cơ sở kế thừa các yếu tố hợp lý của các quan niệm nêu trên, có
thể rút ra định nghĩa ý thức pháp luật như sau: ý thức pháp luật là một hình
thái ý thức xã hội phản ánh trực tiếp đời sống pháp luật thông qua những
quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp)
11
đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp
luật, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp
pháp hay không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, các tổ chức
trong xã hội.
thức pháp luật thành: ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ý
thức pháp luật xã hội. Ý thức pháp luật cá nhân là những tư tưởng và tâm lý
pháp luật của một con người cụ thể. Do sự khác biệt về điều kiện sống, hoàn
cảnh gia đình, môi trường giáo dục, trình độ học vấn, sự từng trải của mỗi
người nên ý thức pháp luật của mỗi cá nhân cũng khác nhau, đa dạng và
phong phú.
Ý thức pháp luật của nhóm phản ánh những đặc điểm của từng nhóm
xã hội tương ứng. Trong xã hội thường có nhiều nhóm khác nhau, do điều
kiện sống, nhu cầu lợi ích riêng của mỗi nhóm mà những thành viên trong
nhóm có những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ tương đối giống nhau
đối với pháp luật.
Ý thức pháp luật xã hội là tổng thể những tư tưởng và tâm lý pháp luật
phản ánh đời sống pháp luật của một xã hội. Ý thức pháp luật xã hội xuất
phát từ ý thức pháp luật cá nhân, nhưng không phải là tổng số giản đơn hay
trung bình cộng sự phản ánh của các cá nhân mà là một “nguyên thể” mới về
chất những ý thức pháp luật cá nhân, là một hệ thống hoàn chỉnh hình thành
từ sự tác động lẫn nhau giữa ý thức pháp luật cá nhân với cá nhân, cá nhân
với tập thể… và chịu sự qui định bởi ý thức pháp luật của bộ phận tiên tiến
đại diện cho xã hội (giai cấp thống trị).
Ba là, căn cứ vào nội dung và tính chất của sự hình thành ý thức pháp
luật, thì có thể chia ý thức pháp luật thành: tri thức pháp luật và thái độ pháp
luật. Tri thức pháp luật là bao gồm những tư tưởng, quan điểm của con người
về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất. Tri thức pháp luật là kết
quả của sự phản ánh tri giác, có mục đích, có tổ chức của hoạt động tư duy;
cho nên sự phản ánh này rất sâu sắc, là cơ sở hình thành lý luận, học thuyết
về Nhà nước và pháp luật của một giai cấp nhất định.
13
Thái độ pháp luật là một bộ phận của ý thức pháp luật phản ánh trực
14
đó cho thấy, nếu tri thức pháp luật không chuyển thành tình cảm đối với pháp
luật, nghĩa là có thái độ tôn trọng, tin tưởng vào luật pháp để từ đó hình thành
động cơ đúng đắn trong việc chấp hành pháp luật, thì không thể có những hành
vi đúng đắn trong hành động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, tri thức,
thái độ, tình cảm pháp luật là những yếu tố cơ bản cấu thành ý thức pháp luật
của con người.
Việc tìm hiểu cơ cấu của ý thức pháp luật, tức là nghiên cứu mối quan
hệ bên trong của các yếu tố cấu thành ý thức pháp luật, giúp chúng ta tìm hiểu
con đường hình thành ý thức pháp luật, sự đánh giá về ý thức pháp luật, cũng
như phương thức tác động giáo dục để hình thành và nâng cao ý thức pháp
luật cho nhân dân.
1.1.2. Giáo dục ý thức pháp luật
1.1.2.1. Khái niệm
Qua nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố, các giáo
trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của các cơ sở đào tạo đại học
và sau đại học trên phạm vi cả nước cho thấy cho đến nay chưa có những
quan niệm thật sự rõ ràng về giáo dục ý thức pháp luật.
Vậy làm thế nào để có quan niệm đúng đắn về giáo dục ý thức pháp
luật? Để hiểu đúng đắn, khoa học khái niệm giáo dục ý thức pháp luật thì
trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là giáo dục.
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hướng của chủ
quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và
sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả
năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội. Giáo dục theo nghĩa hẹp
không bao hàm trong đó những ảnh hưởng của các nhân tố khách quan, nghĩa là
không tính đến những điều kiện ảnh hưởng bên ngoài lên đối tượng giáo dục.
Theo nghĩa rộng: giáo dục đó là quá trình ảnh hưởng của những điều
kiện khách quan như chế độ chính trị xã hội, trình độ phát triển kinh tế, tư
hướng của chủ thể giáo dục
Hai là, từ mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan với
những tác động của nhân tố chủ quan trong giáo dục hình thành ý thức của
con người cho phép nghiên cứu sâu sắc những vấn đề về giáo dục pháp luật
16
trong quá trình đi tới mục tiêu hình thành ý thức pháp luật của đối tượng
được giáo dục.
Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan
và chủ quan tác động vào ý thức con người. Trong đó giáo dục ý thức pháp
luật chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật, đó là sự tác
động có mục đích, có định hướng của nhân tố chủ quan. Sự phân biệt trên đây
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phân định rõ ràng về nội dung, hình
thức, phương pháp giáo dục.
Thực tiễn nước ta trong những năm qua đã chỉ ra rằng, sự tác động của
những điều kiện mang tính tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang tác động
mạnh mẽ đến nhận thức, lối sống, tình cảm, lòng tin của con người đối với
pháp luật, đó là những biểu hiện của sự tha hoá đạo đức, tham nhũng, hối lộ,
rửa tiền…đã tác động rất lớn đến ý thức pháp luật của mỗi người. Việc tiến
hành các hoạt động giáo dục ý thức pháp luật thiếu những nội dung, hình
thức, phương pháp giáo dục phù hợp thì sẽ không hạn chế được những mặt
tiêu cực của nhân tố khách quan đem lại, từ đó rất khó hình thành và phát
triển ý thức pháp luật tiến bộ ở con người.
Ba là, khái niệm giáo dục ý thức pháp luật xuất phát từ khái niệm giáo
dục trong khoa học sư phạm sẽ cho phép chúng ta thấy được mối quan hệ
giữa cái chung và cái riêng, giáo dục ý thức pháp luật là cái riêng, trong cái
đặc thù, trong mối quan hệ với giáo dục là cái chung, cái phổ biến. Do vậy, sẽ
thấy được việc sử dụng những hình thức, phương pháp và xác định mục tiêu
riêng của giáo dục ý thức pháp luật, đồng thời giáo dục ý thức pháp luật cũng
vực là một yêu cầu khách quan của công tác giáo dục nói chung. Trong giáo
dục ý thức pháp luật thì mục đích được đặt ra là không ngừng nâng cao nhận
thức pháp lý cho đối tượng được giáo dục ý thức pháp luật để họ có kiến thức
vững vàng, nắm bắt được những tri thức về Nhà nước, về pháp luật. Trong
điều kiện ở nước ta hiện nay, thực tế cho thấy rằng Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm đến việc nâng cao dân trí nhất là dân trí pháp lý. Tuy nhiên, do
đặc điểm và điều kiện ở một số vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nên
nhân dân các dân tộc ít người có hạn chế về hiểu biết pháp luật. Vì thế việc
xác định đúng đắn mục đích giáo dục ý thức pháp luật có ý nghĩa thực tiễn
18
đặc biệt quan trọng. Chỉ có thể giáo dục ý thức pháp luật nâng cao nhận thức
pháp lý làm cho mọi người hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn về giá trị xã
hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật từ đó hình thành tâm lý, tình cảm và
thái độ tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật và điều chỉnh hành vi xử
sự của mình theo pháp luật. Khi mà mọi thành viên trong xã hội đã đạt đến
một ý thức “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thì đó là mục
đích cao nhất và là hệ quả của quá trình giáo dục ý thức pháp luật.
- Hai là, hình thành tình cảm pháp lý và niềm tin nội tâm đối với pháp
luật. Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp lý là mục đích đầu tiên vô cùng quan
trọng nhưng bản thân nó chưa phải là sự quyết định hành vi xử sự hợp pháp.
Nếu đã có kiến thức pháp luật, nhưng trong mỗi con người cần phải có tình cảm
pháp lý, nghĩa là có thái độ tôn trọng pháp luật và tin tưởng vào sự công bằng
của pháp luật từ đó mới tạo ra khả năng điều chỉnh hành vi hợp pháp của mình.
Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì mọi hành động dễ bị chệch hướng
khỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục đích, động cơ cá nhân. Thực tế cho thấy
nếu một người có sự hiểu biết pháp luật, có tình cảm và lòng tin vào pháp luật
thì họ sẽ tin theo những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để có được tình cảm
và lòng tin vào pháp luật thì cần phải giáo dục tình cảm, lòng tin và sự công
của hành động gọi là chủ thể” [71, tr.132].
Chủ thể giáo dục ý thức pháp luật trong công tác tuyên truyền giáo dục
ý thức pháp luật được hiểu là tất cả những người, tổ chức theo chức năng,
nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội tham gia vào việc giáo dục ý thức pháp luật
nhằm thực hiện các mục đích giáo dục ý thức pháp luật.
Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục đích giáo dục ý thức pháp luật
với chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý các chủ thể giáo dục ý thức
pháp luật, chúng ta có thể chia chủ thể giáo dục ý thức pháp luật thành hai
loại đó là chủ thể chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
- Chủ thể chuyên nghiệp bao gồm: những người có chức năng, nhiệm
vụ chủ yếu, trực tiếp thực hiện mục đích, nội dung giáo dục ý thức pháp luật,
như các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các hệ thống cơ quan của
Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội…Đây là những chủ thể quan trọng
và chủ yếu của giáo dục ý thức pháp luật.
20
- Chủ thể không chuyên nghiệp: là những người hay tổ chức tuy chức
năng chính không phải là giáo dục ý thức pháp luật, nhưng thông qua các hoạt
động chuyên môn, nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thực
hiện tốt các mục tiêu, nội dung giáo dục ý thức pháp luật. Những người này
gồm các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các cán bộ thuộc các
cơ quan hành pháp, tư pháp, các luật sư, các luật gia, các cán bộ nhân viên
của các đoàn thể, tổ chức xã hội.
Chủ thể giáo dục ý thức pháp luật còn là các công dân, bằng sự tự giáo
dục, bằng ý thức trách nhiệm và gương mẫu thực hiện pháp luật mà có tác
dụng ảnh hưởng giáo dục tích cực đến công dân khác.
Đối tượng của giáo dục ý thức pháp luật:
Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là các cá nhân công dân hay nhóm
cộng đồng dân cư tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động của các hoạt động
động kinh doanh của các doanh nghiệp còn mang tính tự phát, thiếu trật tự kỷ
cương, nhiều mặt trái của nền kinh tế thị trường không ngừng phát sinh, gây
nhiều hậu quả, làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Để khắc phục tình trạng trên, đòi hỏi Nhà nước phải tích cực xây dựng
mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh đồng
thời phải thường xuyên tiến hành giáo dục ý thức pháp luật cho các doanh
nghiệp nhằm giúp cho họ có những kiến thức cơ bản về pháp luật và không
ngừng nâng cao ý thức pháp luật, hình thành ở họ thói quen kinh doanh trong
khuôn khổ của pháp luật.
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là học sinh, sinh viên; đây là
những công dân trẻ, là lực lượng tương lai của đất nước. Tuy nhiên, trong
điều kiện hiện nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước thì đối tượng này vẫn còn thiếu nhiều hiểu biết về pháp luật,
dẫn đến những hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội vẫn còn
phổ biến, thậm chí có chiều hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt là lĩnh vực
hình sự.
Với đối tượng này đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đoàn
thể và gia đình cần phải có những biện pháp phối kết hợp để nâng cao hiệu
quả công tác giáo dục ý thức pháp luật. Khi giáo dục ý thức pháp luật cho đối
tượng này cần phải chú ý xác định rõ từng đối tượng học sinh, sinh viên và
22
dựa theo lứa tuổi, giới tính, ngành nghề đào tạo để xây dựng các nội dung
giáo dục phù hợp. Cần giáo dục ý thức pháp luật bằng nhiều hình thức, trong
đó quan trọng và có hiệu quả nhất là đưa vào giảng dạy pháp luật ở các
trường học. Thông qua đó hình thành một cách bền vững ý thức công dân,
lòng tin, tình cảm vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là các tầng lớp nhân dân, đây là
đối tượng đông đảo nhất trong xã hội bao gồm thanh niên, phụ nữ, nông dân,
quả thiết thực và cụ thể. Nội dung giáo dục ý thức pháp luật là sự cụ thể hoá
mục đích của giáo dục ý thức pháp luật.
Tất cả những nội dung giáo dục ý thức pháp luật là những tri thức cần
thiết cho đối tượng giáo dục sử dụng để phân tích, đánh giá một cách khoa
học những vấn đề thực tế mà họ hay gặp, từ đó định hướng hành vi chấp hành
pháp luật của mình trong hoạt động thực tiễn.
Những nội dung của giáo dục pháp luật để hình thành ý thức pháp luật
được xác định theo những cấp độ, đối tượng khác nhau phù hợp với từng nhu
cầu, đặc điểm của từng loại đối tượng. Xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm đối
tượng giáo dục ý thức pháp luật, chúng ta có thể chia nội dung giáo dục ý
thức pháp luật thành các cấp độ sau:
Giáo dục pháp luật phổ cập cho mọi công dân, bao gồm những kiến
thức pháp luật tối thiểu, phổ thông sao cho phù hợp với mọi đối tượng là nhân
dân lao động, nhằm giúp họ có hiểu biết và hình thành thói quen giản đơn
trong việc chấp hành pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ những
quyền lợi hợp pháp của mình khi bị những hành vi bất hợp pháp xâm hại. Cụ
thể là phổ biến, giáo dục các luật như: Luật đất đai, Luật thuế, Luật hôn nhân
và gia đình, Luật giao thông đường bộ, đường thuỷ…
Giáo dục pháp luật có tính chuyên luật, đây là cấp độ cao nhất của giáo
dục ý thức pháp luật, bao gồm những tri thức pháp luật mang tính chuyên sâu
về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nội dung giáo dục ý
thức pháp luật ở cấp độ này thường áp dụng cho việc đào tạo các đối tượng
để trở thành các chuyên gia luật phục vụ cho các tổ chức nghề nghiệp.
- Hình thức giáo dục ý thức pháp luật:
24
Để đạt được mục đích và nội dung của giáo dục ý thức pháp luật cần phải
xác định, sử dụng tổng hợp các hình thức giáo dục ý thức pháp luật; có xác định
đúng, đầy đủ các hình thức giáo dục ý thức pháp luật thì hoạt động giáo dục ý
đây là các hoạt động định hướng giáo dục ý thức pháp luật thông qua các hoạt
động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước như Quốc hội,
Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát. Hình thức giáo dục ý thức pháp luật qua
các hoạt động của các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức
nghề nghiệp, tổ hoà giải, trợ lý pháp lý.
Từ quan niệm và phân loại hình thức giáo dục ý thức pháp luật dẫn đến
yêu cầu chỉ đạo quá trình giáo dục ý thức pháp luật sao cho các chủ thể phải
xác định rõ định hướng, yêu cầu, nội dung giáo dục ý thức pháp luật ngay
trong khi xây dựng các chương trình công tác nghiệp vụ chuyên môn từng
thời kỳ hoặc từng sự việc, trên cơ sở đó chuẩn bị các điều kiện vật chất, cán
bộ, tổ chức các hình thức giáo dục ý thức pháp luật thật phù hợp với từng loại
đối tượng. Để truyền tải các nội dung của pháp luật đến đối tượng cụ thể, cần
phải kết hợp các hình thức giáo dục tuyên truyền khác nhau nhằm phát huy
sức mạnh tổng hợp của từng hình thức, bổ sung, hỗ trợ, bù đắp cho những hạn
chế của từng loại hình thức.
- Phương pháp giáo dục ý thức pháp luật:
Theo lý luận giáo dục học, khái niệm về phương pháp giáo dục nói
chung được hiểu là cách thức, biện pháp sử dụng để truyền đạt và lĩnh hội của
chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm đạt tới mục đích giáo dục.
Dựa vào cơ sở quan niệm trên, phương pháp giáo dục ý thức pháp luật
được hiểu là tổng thể, cách thức, biện pháp mà chủ thể và đối tượng giáo dục
ý thức pháp luật sử dụng để nhằm thoả mãn mục đích truyền đạt và lĩnh hội
nội dung giáo dục ý thức pháp luật. Thực tiễn về giáo dục ý thức pháp luật
trong điều kiện đổi mới đất nước cho ta thấy có hai nhóm phương pháp giáo
dục ý thức pháp luật.
Một là, nhóm các phương pháp áp dụng cho các hoạt động giáo dục ý
thức pháp luật, cụ thể như: phương pháp thuyết phục, giải thích, phương pháp
thực hành trực quan, phương pháp kiểm tra, đánh giá, phương pháp tạo tình
huống, phương pháp nêu gương, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn.