Truyền thuyết và lễ hội về lý triều quốc sư nguyễn minh không ở chùa cổ lễ nam định - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN VĂN THUÂN

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ LÝ TRIỀU QUỐC SƯ
NGUYỄN MINH KHÔNG Ở CHÙA CỔ LỄ - NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN VĂN THUÂN
(Thích Mật Tôn)

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ LÝ TRIỀU QUỐC SƯ
NGUYỄN MINH KHÔNG Ở CHÙA CỔ LỄ - NAM ĐỊNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 01 25

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ CHÍ QUẾ

Hà Nội – 2017



MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................ .01
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... .03
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. .03
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... .04
2.1. Lược điểm lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ................................. .04
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không
và lễ hội chùa Cổ Lễ, Nam Định .......................................................................... .08
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... .13
4. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ .13
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................. .13
6. Dự kiến đóng góp của luận văn....................................................................... .14
7. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................... .15
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI…………………………………...…….16
1.1. Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài…………………………...… 16
1.1.1. Một số khái niệm………………………………...…………………………16
1.1.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội…………………………………24
1.2. Khái quát về chùa Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định)………………………...26
1.2.1. Thị trấn Cổ Lễ……………………………………………………………...26
1.2.2. Chùa Cổ Lễ……………………………………………...………………….31
1.3. Nhân vật lịch sử -Thiền sư Nguyễn Minh Không ……………………....... 36
Tiểu kết chương 1……………………………………………………………...…40
Chương 2: TRUYỀN THUYẾT VỀ LÝ TRIỀU QUỐC SƯ NGUYỄN MINH
KHÔNG Ở CHÙA CỔ LỄ, NAM ĐỊNH…………………………………….....42
2.1. Truyền thuyết về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không…………..……....42
2.2. Nhận xét truyền thuyết về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không……...48
2.3. Sự chuyển hoá thể loại để mở rộng giá trị thẩm mỹ trong hệ thống truyền
thuyết về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không………………………….......56

thể loại tự sự dân gian đƣợc nhận diện bởi sự liên quan đặc biệt đến lịch sử dân tộc.
Truyền thuyết và lễ hội vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhờ truyền
thuyết, lễ hội bám chặt gốc rễ vào mảnh đất đời sống, trở thành một nhu cầu không
thể thiếu trong đời sống tâm linh của con ngƣời. Truyền thuyết là chiếc cầu nối
giữa niềm tin, cảm xúc của cộng đồng với tín ngƣỡng, phong tục, tập quán. Niềm
tin trong truyền thuyết đƣợc hiện thực hóa trong lễ hội.
Thiền sƣ Nguyễn Minh Không còn đƣợc gọi là Lý triều Quốc Sƣ, Đức Thánh
Tổ, là một Thiền sƣ giỏi về Phật pháp, pháp thuật, có công chữa bệnh cho vua Lý...
Dân gian còn tôn Ông là Ông Tổ nghề đúc đồng ở Việt Nam. Tên tuổi Thiền sƣ
Nguyễn Minh Không gắn liền với bao truyền thuyết, lễ hội ở nhiều chùa ở khu vực
đồng bằng Bắc Bộ. Đây là hiện tƣợng văn hóa rất đáng lƣu ý.
Trong cuộc đời tu luyện Phật học, cứu nhân độ thế, Quốc sƣ Nguyễn Minh
Không có nhiều công lao trong việc xây dựng chùa, tháp, trong đó có ngôi chùa Cổ
Lễ (Trực Ninh - Nam Định). Sau khi Ông mất, nhân dân Cổ Lễ phối thờ Ông tại
ngôi chùa này để thể hiện lòng tôn kính đối với vị cao tăng, có công với dân, với
nƣớc.
Lễ hội chùa Cổ Lễ (Trực Ninh - Nam Định) là một trong những lễ hội truyền
thống tiêu biểu của tỉnh Nam Định, tƣởng niệm Thiền sƣ Nguyễn Minh Không
(ngày14 tháng 9 Âm lịch), một ngày trọng đại đi vào tiềm thức nhân dân trong
vùng.
Mặt khác, trong hoàn cảnh đất nƣớc Việt Nam hiện nay đang đổi thay từng
ngày, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trƣớc tốc độ phát triển về mọi lĩnh vực cùng
với hội nhập quốc tế, văn hóa truyền thống dễ bị mai một nếu nhƣ chúng ta không
3


có ý thức gìn giữ và lƣu truyền cho thế hệ sau. Trong sự đa dạng, phong phú của
văn hóa truyền thống dân tộc, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của
truyền thuyết, lễ hội ở địa phƣơng, vùng, miền, góp phần tạo nên giá trị văn hóa cổ
truyền dân tộc.

Nam cho rằng: “Truyền thuyết thƣờng dùng để chỉ những câu chuyện cũ những sự
việc lịch sử còn đƣợc quần chúng truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính
xác có thể do truyền rộng mà sai lạc, đồng thời cũng có thể do tƣởng tƣợng của dân
chúng phụ họa thêu dệt mà càng sai lạc hơn” và truyền thuyết “phần nhiều chƣa
đƣợc xây dựng thành truyện. Chúng mới chỉ là từng mẩu chuyện”[9,tr.48]. “Nếu
truyền thuyết - hiểu theo nghĩa rộng - đạt đến chỗ hoàn chỉnh thì tùy theo nội dung,
nó có thể trở thành cổ tích hay thần thoại…”[9,tr.49].
Trên tạp chí Nghiên cứu văn học từ 1960 - 1961 có đăng tải cuộc tranh luận
sôi nổi về truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ. Điều các tác giả bàn đến ở đây là
những vấn đề truyền thuyết này đặt ra và còn nhiều tranh cãi.
Báo nhân dân số 549, ngày 29 - 4 - 1969, đăng bài viết Nhân ngày giỗ tổ Vua
Hùng của cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng. Bài báo nêu ra vấn đề mấu chốt của
truyền thuyết là mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết.
Năm 1971, công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự
dân gian Việt Nam, tập trung những bài nghiên cứu về truyền thuyết đã xuất bản.
Các tác giả Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia Khánh và Kiều Thu
Hoạch có những đóng góp lớn, trong đó đáng chú ý là bài Truyền thuyết anh hùng
trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu Hoạch. Ông đƣa ra định nghĩa, phân
loại truyền thuyết, đồng thời đƣa ra cái nhìn tổng quát, kiến giải sâu sắc về bản chất
thể loại. Ông nhận xét: “Có thể nói lễ hội là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu
đƣợc của truyền thuyết anh hùng Việt Nam... chính nhờ những lễ hội mà truyền
thuyết anh hùng có dịp đƣợc nhắc nhở, đi sâu vào ký ức của nhân dân”[22,tr.220].
Năm 1973, trong bài Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn
xướng tín ngưỡng phong tục, tác giả Nguyễn Khắc Xƣơng nêu lên mối quan hệ
giữa thần thoại, truyền thuyết và lễ hội: “Thần thoại, truyền thuyết lƣu truyền bằng
5


miệng trong dân gian đã đƣợc tái hiện cụ thể và sinh động trƣớc nhân dân qua nghệ
thuật diễn xƣớng hỗn hợp”[84,tr.98].

gian Việt Nam (vốn là luận án Tiến sĩ Ngữ văn cùng tên của tác giả), Trần Thị An,
(Nxb Khoa học xã hội, 2014), xác lập hệ thống tiêu chí nhận diện thể loại truyền
thuyết dân gian Việt Nam; mô tả thực trạng tồn tại của thể loại này trong một số
loại hình văn bản, thẩm định chất dân gian của các truyền thuyết đƣợc ghi chép; chỉ
ra các cấp độ văn học hóa đan xen vào việc văn bản hóa truyền thuyết; phân tích
một số truyền thuyết cụ thể để chỉ ra sự vận động của truyền thuyết từ góc độ văn
bản.
Điểm qua các nghiên cứu chuyên và không chuyên về truyền thuyết trong
văn học dân gian Việt Nam, tôi rút ra một số nhận định sau:
Thời kỳ đầu, các nhà nghiên cứu đều thống nhất: Truyền thuyết ra đời sau
thần thoại nhƣng vẫn có yếu tố song trùng với thần thoại. Mặt khác, truyền thuyết
và cổ tích cũng có những nét gần gũi nhau. Thời kỳ sau, các nhà nghiên cứu đều
coi truyền thuyết là một thể loại riêng của văn học dân gian. Đặc biệt, các tác giả
chứng minh, đi sâu phân tích về đặc trƣng, nội dung, ý nghĩa, phân loại truyền
thuyết một cách rõ ràng, độc lập so với thể loại khác trong văn học dân gian.
Những năm gần đây, có nhiều hƣớng nghiên cứu mới về truyền thuyết, trong
đó nổi bật là hai hƣớng nghiên cứu: Hƣớng nghiên cứu truyền thuyết dựa trên văn
bản thuần túy và hƣớng nghiên cứu truyền thuyết vừa dựa trên văn bản, vừa gắn
với hoạt động diễn xƣớng, đặc biệt thông qua lễ hội. Trong hai hƣớng nghiên cứu
này, chúng ta thấy hƣớng thứ hai ngày càng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm hơn và
mang lại ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về Lý triều Quốc sƣ
Nguyễn Minh Không ở chùa Cổ Lễ, Nam Định, tôi cũng kế thừa các hƣớng nghiên
cứu này.
2.1.2. Lược điểm lịch sử nghiên cứu về lễ hội
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín
ngƣỡng và lễ hội đƣợc quan tâm nhiều hơn, trên các bình diện khác nhau nhƣ: Tôn
giáo học, khoa học xã hội, văn học dân gian... Vấn đề lễ hội và tôn giáo tín ngƣỡng
7



Trong sách An Nam chí lược của Lê Tắc (thế kỷ XIII - XIV), có một mục
viết về Thiền sƣ Nguyễn Minh Không và Thiền sƣ Giác Hải cùng đi khuyến hóa
lấy đồng. Nhƣng những thông tin mà An Nam chí lược nêu ra rất sơ sài, không đầy
đủ để hình dung về nhân vật Nguyễn Minh Không.
Trong cuốn Nam ông mộng lục, tác phẩm còn lại duy nhất của Hồ Nguyên
Trừng, hoàn thành năm 1483, gồm 31 chuyện, có chuyện về Thiền sƣ Nguyễn
Minh Không với tiêu đề: Minh Không thần dị. Nội dung sách ghi chép về các sử
thoại và một số chuyện về những nhân vật nƣớc Nam thời Lý - Trần, gồm đủ loại:
nhà nho, thầy thuốc, đạo sĩ, nhà thơ, thầy tu, tƣớng sĩ, các vua đời Trần, hoặc bà
con thân thích với tác giả. Đối với Hồ Nguyên Trừng, đó là những sự kiện và
những con ngƣời tiêu biểu của nƣớc Nam. Câu chuyện về Thiền sƣ Nguyễn Minh
Không rất sơ sài, không viết rõ về quê quán, lai lịch của Thiền sƣ Nguyễn Minh
Không. Đặc biệt, sách Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng bị lẫn lộn giữa sự
tích Không Lộ và sự tích Minh Không.
Trong sách Thiền uyển tập anh ngữ lục, tái bản năm 1715, dƣới thời Lê, niên
hiệu Vĩnh Thịnh (thứ 11), có bài viết về ngƣời kế thừa tâm pháp của dòng Tì-ni-đalƣu-chi (đời thứ 13), ghi chép tiểu sử, hành trạng của Thiền sƣ Nguyễn Minh
Không. Thiền uyển tập anh ghi chép khá rõ ràng: có hai vị Thiền sƣ Không Lộ và
Thiền sƣ Minh Không. Thiền sƣ Không Lộ họ Dƣơng, Thiền sƣ Minh Không tức
Nguyễn Chí Thành (1066 -1141), trụ trì chùa Quốc Thanh, phủ Trƣờng Yên, quê ở
hƣơng Đàm Xá, châu Đại Hoàng. Nhƣng Thiền uyển tập anh không nhắc đến
chuyện vua Lý Thần Tông mắc bệnh “hoá hổ” và câu chuyện Thiền sƣ Nguyễn
Minh Không chữa bệnh hóa hổ cho vua nhƣ nhiều sách khác nói đến.
Trong sách Lĩnh Nam chích quái do Trần Thế Pháp biên soạn (cuối thế kỷ XV),
viết chung truyện Thiền sƣ Nguyễn Minh Không nhƣng lại nằm trong phần phụ lục
ghi về Thiền sƣ Từ Đạo Hạnh. Vì thế, lai lịch, xuất thân của Thiền sƣ Nguyễn
Minh Không không đƣợc quyển sách này ghi rõ.

9




1120, khi thì lại để trỏ vào nhà sƣ Nguyễn Chí Thành, hiệu là Minh Không, quê
làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, Ninh Bình có công chữa khỏi ác tật cho Lý Thần
Tông, đƣợc phong Lý triều quốc sƣ. Minh Không từng ở chùa Không Lộ, hƣơng
Giao Thủy (nên có lẽ vì thế cũng mang tên Không Lộ chăng?); nhà sƣ mất năm
1141. Theo sách Thiền uyển tập anh, thiền sƣ Dƣơng Không Lộ là ngƣời kế thừa
thứ chín của phái thiền sƣ Vô Ngôn Thông; thiền sƣ Nguyễn Minh Không là ngƣời
kế thừa đời thứ mƣời ba, phái thiền sƣ Tì-ni-đa-lƣu-chi”[79,tr.62]. Nhƣ vậy, bài
viết phần nào làm sáng tỏ nhân vật Nguyễn Minh Không.
Năm 1984, tác giả Phạm Đức Duật viết bài Sự tích Không Lộ - Minh Không
qua quyển sách chữ Hán mới sưu tầm, đăng trên Tạp chí Hán Nôm, (số 1). Tác giả
trình bày những vấn đề nhận thức đƣợc về Thiền sƣ Không Lộ, Minh Không qua
quyển Quốc sư bảo lục của Đặng Xuân Bảng. Qua đó, tác giả khẳng định: “dù có
nhiều lớp văn hóa đan xen nhƣng Không Lộ và Minh Không là hai ngƣời khác
nhau”[12, tr.140]
Trong cuốn Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, năm
1999, tác giả Trần Thị An và Nguyễn Thị Huế ghi truyện Thiền sƣ Nguyễn Minh
Không cùng với Thiền sƣ Từ Đạo Hạnh, cốt truyện gần giống với Lĩnh Nam chích
quái.
Năm 2000, nhà nghiên cứu dân gian Lê Xuân Quang ra mắt cuốn sách
Truyện Đức Không Lộ - Minh Không, Nxb Văn hoá dân tộc. Trong cuốn sách này,
tác giả điểm lại một số truyền thuyết liên quan đến Thiền sƣ Nguyễn Minh Không.
Tác giả Chu Huy trong bài Về nhân thân hai vị Quốc sư thời Lý Dương
Không Lộ và Nguyễn Minh Không, đăng trên Tạp chí Văn hoá nghệ thuật (số8),
2006, chứng minh hai vị Thiền sƣ đời Lý Dƣơng Không Lộ và Nguyễn Minh
Không có công lao hành trạng giống nhau, là hai nhân vật khác nhau trong lịch sử.
Năm 2008, tác giả Nguyễn Xuân Diện công bố Những phát hiện mới nhất về
Tứ Bất Tử Việt Nam, cho rằng ngoài Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Thánh
Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiền sƣ Nguyễn Minh Không từng có thời kỳ
11

12


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu truyền thuyết về Lý triều Quốc sƣ Nguyễn Minh
Không, đƣợc ghi chép bằng văn bản và những truyền thuyết đƣợc truyền miệng
trong dân gian. Đặc biệt, tôi cũng nghiên cứu truyền thuyết về Lý triều Quốc sƣ
Nguyễn Minh Không dƣới góc độ diễn xƣớng. Đó là lễ hội chùa Cổ Lễ, Nam Định,
để thấy đƣợc hết giá trị của truyền thuyết này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu, phân tích, đánh giá các giá trị tƣ tƣởng thẩm mỹ của
những truyền thuyết về Lý triều Quốc sƣ Nguyễn Minh Không, dƣới góc độ khoa
học văn học dân gian, trên các phƣơng diện: Giá trị tƣ tƣởng qua nội dung phản
ánh, ý nghĩa nghệ thuật qua các mô-típ cơ bản, ý nghĩa tín ngƣỡng trong tâm thức
của ngƣời dân. Để làm đƣợc điều này, theo đặc trƣng thể loại truyền thuyết, luận
văn có khảo sát các chi tiết lễ hội chùa Cổ Lễ, Nam Định.
4. Mục đích nghiên cứu
Luận văn là bƣớc tổng hợp mới về những thành tựu nghiên cứu, tìm hiểu
truyền thuyết và lễ hội về Lý triều Quốc sƣ Nguyễn Minh Không ở chùa Cổ Lễ,
Nam Định. Luận văn hệ thống hóa, khảo sát diện mạo truyền thuyết và lễ hội về Lý
triều Quốc sƣ Nguyễn Minh Không ở chùa Cổ Lễ, Nam Định.
Trong khuôn khổ của đề tài, ngƣời viết phân tích, tổng hợp những đặc điểm,
nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết. Qua đây, những truyền thuyết về Thiền
sƣ Nguyễn Minh Không đƣợc xem xét trong mối quan hệ với lễ và hội đƣợc tổ
chức ở địa phƣơng. Từ đó, với tƣ cách là nhà sƣ xuất gia ở chùa Cổ Lễ, Nam Định,
ngƣời viết sẽ đánh giá khách quan, không suy diễn cảm tính về truyền thuyết và lễ
hội chùa Cổ Lễ, Nam Định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, ngƣời viết sử dụng một số phƣơng pháp nghiên

Lễ hội chùa Cổ Lễ, Nam Định đƣợc khảo tả chi tiết, cụ thể phần lễ, phần
hội, để thấy đƣợc mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội.
14


Trên cơ sở kế thừa, tham khảo các tài liệu nghiên cứu về Thiền sƣ Nguyễn
Minh Không ở chùa Cổ Lễ, Nam Định, luận văn đóng góp phần nhỏ vào việc bảo
lƣu và phát triển vốn văn học dân gian của địa phƣơng nói riêng và dân tộc nói
chung.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính đƣợc trình bày trong luận
văn:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Truyền thuyết về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không ở Chùa
Cổ Lễ, Nam Định
Chương 3: Lễ hội về Lý triều Quốc sư Nguyễn Minh Không ở Chùa Cổ Lễ,
Nam Định

15


Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm truyền thuyết
Từ khi truyền thuyết đƣợc quan tâm nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu đƣa
ra định nghĩa về truyền thuyết theo quan niệm và cách hiểu của họ.
Theo tác giả Kiều Thu Hoạch, trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người
Việt, các tác giả Nhóm Lê Quý Đôn, trong công trình Lược khảo lịch sử văn học

là ở chỗ vè lịch sử kể về những sự kiện vẫn đang nóng hổi ý nghĩa thời sự bằng
hình thức văn vần, thể loại truyền thuyết kể về những sự kiện lịch sử đã lùi xa vào
quá khứ bằng hình thức văn xuôi”[53,tr.15].
Tác giả Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
cho rằng: “Truyền thuyết thƣờng dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc
lịch sử còn đƣơc quần chúng truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính xác có
thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do sự tƣởng tƣợng của quần chúng phụ
họa thêu dệt mà càng sai lạc hơn và truyền thuyết phần nhiều chƣa đƣợc xây dựng
thành truyện. Nó mới chỉ là những mẩu chuyện... Hiện nay, truyền thuyết Việt Nam
tìm đƣợc còn ít ỏi, đƣợm khí cổ tích nhiều hơn thần thoại. Vì vậy, khi sƣu tầm thì
xếp lẫn vào cổ tích và coi nhƣ truyện cổ tích”[9,tr.49].
Đầu thập niên 90, cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đại học
Tổng hợp, đƣợc viết lại, nhà nghiên cứu Lê Chí Quế dành một phần viết về truyền
thuyết, trong đó tác giả đƣa ra khái niệm và đặc biệt về phân loại truyền thuyết một
cách hợp lý, đầy tính thuyết phục hơn: “Truyền thuyết là một thể loại tự sự dân
gian, phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo
thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kỳ”[57,tr.49].
Trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa: “Truyền thuyết là một nhóm
những sáng tác dân gian mà đặc điểm chung là trong đó có các yếu tố kì diệu,
huyễn tƣởng nhƣng lại đƣợc cảm nhận là xác thực diễn ra ở ranh giới giữa thời gian
17


lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử. Trong những truyền
thống văn hóa khác nhau về loại hình, khái niệm truyền thuyết mô tả những hiện
tƣợng không hoàn toàn giống nhau và liên hệ một cách khác nhau với các thể loại
dân gian khác, kể cả thần thoại”[27,tr.341]. Tác giả nhấn mạnh những đặc trƣng cơ
bản của truyền thuyết nhƣ: truyền thuyết là “sáng tác dân gian”, nghệ thuật nổi bật
là dùng các yếu tố kì diệu, huyễn tƣởng” nhằm mục đích làm cho ngƣời đọc tin vào
câu chuyện đƣợc kể từng diễn ra thật trong quá khứ.

Ngoài khái niệm về truyền thuyết, cần có thêm các tiêu chí thống nhất, giúp
chúng ta nhận diện, phân biệt truyền thuyết với các thể loại khác.
Tác giả Kiều Thu Hoạch tổng hợp và chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thể
loại truyền thuyết là các đặc tính: tính hƣ cấu lịch sử, tính cố định cụ thể, tính hƣ
ảo, thần kì và các mô-típ khi xây dựng: mô-típ sinh nở thần kì, mô-típ chiến công
phi thƣờng, mô-típ hóa thân.
Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch về đặc điểm
của truyền thuyết, tác giả Lê Trƣờng Phát trong cuốn Thi pháp văn học dân gian,
trình bày một cách cụ thể hơn về các mô-típ thƣờng đƣợc sử dụng ở từng phần
trong mô hình lƣợc đồ kết cấu chung của truyền thuyết. Đó là: Ở phần mở đầu,
truyền thuyết có các kiểu mô-típ: Sự thụ thai kì lạ để sinh ra nhân vật; tƣớng lạ từ
ngay lúc lọt lòng; những biểu hiện khác thƣờng, hơn đời ngay từ lúc còn trẻ; nhân
vật xuất hiện giữa thời thế đặc biệt; nhân vật xuất thân nghèo khổ hoặc ngƣợc lại.
Phần kết gồm các kiểu mô-tip: Sự vinh phong, gia phong tên hiệu, mĩ tự của các
triều đại sau; các chi tiết về nghi lễ thờ cúng; hóa thân của nhân vật; sự hiển linh,
hiển Thánh của nhân vật. Riêng phần thứ hai, đoạn kể về cuộc đời và sự nghiệp của
nhân vật, tập trung kể lại hành trạng, hành động của nhân vật và thƣờng không sử
dụng các mô-típ. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật có hành trạng, hành động riêng.
Tính hiện thực lịch sử, vì vậy, thƣờng đƣợc thể hiện đậm đặc nhất ở phần này.

19


Nhƣ vậy, quan điểm trên của tác giả Kiều Thu Hoạch là cơ sở, giúp chúng
ta nhận diện tác phẩm của thể loại truyền thuyết, phân biệt nó với thần thoại, cổ
tích - những thể loại tự sự dân gian gần gũi với truyền thuyết nhất.
Phân loại truyền thuyết
Hiện nay, chúng ta thấy có nhiều ý kiến phân loại thể loại truyền
thuyết. Sự phong phú về cách phân loại truyền thuyết là xuất phát từ những quan
niệm và tiêu chí khác nhau.

các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
1.1.1.3. Khái niệm lễ hội
Thuật ngữ “lễ hội” mới chỉ đƣợc dùng phổ biến gần đây. Trƣớc kia chỉ dùng
từ hội, hội hè. Khoảng vài chục năm qua, chữ “lễ” mới đƣợc sử dụng nhiều hơn,
khi gọi là “hội lễ”, lúc ngƣợc lại gọi là “lễ hội”.
Lễ hội hay hội lễ, thuật ngữ này đều biểu hiện hai yếu tố lễ và hội, gắn bó
chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau. Cụ thể nhƣ sau:
Lễ: Lễ là một hệ thống các hành vi, động tác biểu hiện lòng tôn kính của dân
làng đối với thần linh, lực lƣợng siêu nhiên, phản ánh nguyện vọng, ƣớc mơ của
con ngƣời. Lễ trong lễ hội là hệ thống hành vi liên kết, có trật tự cùng hỗ trợ nhau,
gồm (cúng bái, lễ rƣớc, tế, cầu khấn) nhƣ: Lễ rƣớc nƣớc - Lễ Mộc Dục - Tế gia
quan - Rƣớc, đám rƣớc - Tế, đại tế - Lễ túc trực - Lễ hàn. Lễ không chỉ mang tính
thiêng, còn biểu thị sự tôn kính của con ngƣời đối với những sức mạnh vô hình
chƣa lý giải đƣợc nhƣng lại muốn chế ngự.
Hội: Là hoạt động vui chơi giải trí, đem lại một cảm giác thoải mái nhẹ
nhàng, rũ bỏ tất cả những lo toan, phiền muộn. Con ngƣời đƣợc hòa nhập vào cuộc
vui. Toàn bộ diễn trƣờng của lễ hội tạo thành một sân khấu lớn chứng kiến và tổ
chức mọi trò vui, hứa hẹn mọi điều may mắn, con ngƣời vui hết mình trong tinh
thần sảng khoái của tình cảm cộng đồng.
Nếu nhƣ lễ là một hệ thống tĩnh có tính quy phạm, nghiêm ngặt đƣợc cử
hành tại đình, đền, chùa, miếu, ngƣợc lại, hội là sinh hoạt dân dã phóng khoáng

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status