Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LỆ

QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ
NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THỊ HOÀI LÊ

Hà Nội, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi tham khảo dùng
trong luận văn đều được trích dẫn nguồn rõ ràng và có độ chính xác cao nhất trong
phạm vi hiểu biết của tôi. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay
gian trá, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng./.
Hà Nội, ngày

tháng 8 năm 2017
Tác giả

ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Du .......................................................... 60
3.4. Kiến nghị ................................................................................................................ 72
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 74


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

CSHT

Cơ sở hạ tầng

ĐTXDCB

Đầu tư xây dựng cơ bản

KT - XH

Kinh tế xã hội

NSNN

Ngân sách nhà nước

ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức


Ngân hàng thế giới

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

TPCB

Trái phiếu chính phủ

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

KCN

Khu công nghiệp

GPMB

Giải phóng mặt bằng


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số thứ tự

Tên bảng

Bảng 2. 1A

Bảng 2.7.

Ý kiến về mức độ phù hợp của chính sách, quy định nhà nước đối
với dự án XDCB

Bảng 2.8.

Ý kiến về mức độ cân bằng trong phân bổ lợi ích, rủi ro giữa các
bên liên quan dự án XDCB


DANH MỤC HÌNH
Số thứ tự

Tên hình

Hình 2.1.

Ý kiến của doanh nghiệp về mức độ đúng đắn, hợp lý của định hướng
phát triển dự án PĐTXDCB

Hình 2.2

Ý kiến của doanh nghiệp về mức độ hợp lý của chính sách xúc tiến
đầu tư đối với dự án XDCB

Hình 2.3

Ý kiến của doanh nghiệp về mức độ hợp lý của chính sách tài chính
đối với dự án XDCB

trình đầu tư xây dựng cơ bản: từ khâu quy hoạch, kế hoạch, duyệt chủ trương đầu
tư, chuẩn bị và thẩm định phê duyệt, thực hiện dự án đến khâu thanh quyết toán.
Trong những năm qua, nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnh vực xây
dựng cơ bản ngày một lớn, năm sau luôn cao hơn năm trước. Do đó, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, công trình dân dụng, công trình giao thông và các dự án phát triển kinh tế
xã hội ngày càng cải thiện, bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân được thay
đổi rõ rệt.
Tiên Du là huyện nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Bắc Ninh, giáp ranh với các
huyện trong tỉnh, huyện Tiên Du có điều kiện phát huy tiềm năng đất đai, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh, mạnh trong những năm gần đây.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản hàng năm chủ yếu thu
từ nguồn đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, ngân sách tỉnh
hỗ trợ và nguồn trái phiếu Chính phủ. Các dự án đầu tư đã phát huy được hiệu quả,
bộ mặt nông thôn ngày một thay đổi, cơ sở hạ tầng nông thôn Tiên Du như: điện,
đường, trường học, trạm y tế xã đã dần kiên cố, đời sống của nhân dân được nâng
cao. Tuy nhiên, có một vấn đề thực tế đặt ra rằng: trong địa bàn huyện, đa phần các
doanh nghiệp tham gia dự án lại là các doanh nghiệp nhà nước, hoặc có mối quan
hệ với nhà nước. Điều này làm cho quá trình đấu thầu các dự án trở thành vấn đề
nổi cộm: đấu giá dự án thường bị “dìm giá” khi các doanh nghiệp móc ngoặc với
nhau, làm cho các dự án xuống cấp nhanh chóng. Thêm vào đó, đối với quá trình
quản lý nguồn chi NSNN cho các dự án, thường bị chậm, khiến các doanh nghiệp
khó khăn. Các vấn đề trên làm cho chính khu vực nhà nước (quản lý công, chi tiêu
công cho các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN) và khu vực tư nhân (các
1


doanh nghiệp không phải nhà nước) đang có những xung đột nhất định, ngay tại địa
bàn Tiên Du.
Nhìn lại quá trình quản lý dự án, công tác bố trí và giải ngân nguồn vốn ngân
sách nhà nước cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản chúng ta thấy nổi lên một số

xác; (4) khuôn khổ pháp luật phù hợp; (5) quản lý kinh tế vĩ mô tốt; (6) đấu thầu
cạnh tranh và minh bạch. Tuy nhiên, nghiên cứu này vấp phải một số ý kiến rằng
2


mang tính chất định tính quá cao, không lượng hóa được tác động của từng yếu tố
đối với quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, và
còn thiếu hẳn một phần là kết hợ với các khu vực tư nhân để thực hiện – và đây mới
là phần được cho là xu hướng phổ biến trên thế giới.
Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện các dự án đầu tư XDCB tại Úc và lấy trường
hợp nghiên cứu điển hình là dự án Airport Link, Banks (2008) cho rằng một dự án
được cho là đã quản lý thành công thì phải thực hiện tốt các vấn đề sau: (1) cam kết
chính trị mạnh mẽ của nhà nước; (2) có luận chứng kinh tế đúng đắn; (3) tìm hiểu
thị trường trước khi tiến hành công bố dự án hoặc thực hiện dự án; (4) năng lực của
nhóm cán bộ thực hiện dự án từ khi hình thành ý tưởng về dự án đến khi xây dựng
dự án. Tương tự, Pascual (2008) khi nghiên cứu dự án xây dựng đường cao tốc tại
Philippine đã cho thấy, một dự án đầu tư XDCB được coi là thành công khi được hỗ
trợ về khung pháp lý, chính sách và phải có chương trình truyền thông tốt. Các
nghiên cứu này cho thấy phần nào các chỉ tiêu phải đánh giá về quản lý dự án, song
lại khó áp dụng tại các nước đang phát triển như Việt Nam.
Một trong những hướng nghiên cứu được các nhà kinh tế học thể chế nhắc đến
nhiều đối với đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước là nguyên nhân của
những thất bại xuất phát từ đâu nếu chỉ dùng nguồn vốn này. Một số nhóm nghiên
cứu như UNESCAP (2011), Ward etal (2005) cho rằng khu vực các nước Châu Á
Thái Bình Dương – trong đó có Việt Nam – khi thực hiện các dự án thông qua
nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thường thất bại bởi (1) khu vực công chưa đủ
điều kiện thực hiện các dự án đầu tư XDCB – vốn là loại dự án do các doanh nghiệp
nhà nước hoặc có liên quan đến nhà nước thực hiện; (2) thiếu thể chế, văn bản
hướng dẫn và bị cản trở bởi chính các công chức – và hiện tại được tóm tắt bằng
cụm từ “không được chính khu vực công ủng hộ”; (3) Chưa có một quy trình chuẩn

cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng loại vốn này, trong đó có cơ sở pháp
lý. Cùng quan điểm với hai tác giả trên là Trần Minh Phương (2012) xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng giao thông, trong đó cũng có những yếu tố đã
được các nghiên cứu ngoài nước nhắc đến như các yếu tố về thể chế, chính sách,
đồng thời gợi ý chính sách thu hút vốn đầu tư đối với phát triển hạ tầng trên quan
điểm cho rằng đầu tư có thể do bất cứ một bên nào thực hiện, song người sử dụng
đường bộ phải là người có trách nhiệm hoàn trả. Đây là một quan điểm rất mới tại
Việt Nam vào thời điểm đó, và để ra một khoảng trống nghiên cứu về công tác phối
hợp đầu tư giữa khu vực công và khu vực tư nhân, cũng như đánh giá khả năng thu
hồi vốn dựa trên khả năng trả nợ của đối tượng hưởng lợi từ dự án.
Đối với cụ thể các phương thức quản lý dự án, có một số nghiên cứu như
Đinh Kiện (2010), Bùi Thị Hoàng Lan (2012) đã đề cập đến xây dựng cơ sở hạ tầng
bằng phương thức BOT (xây dựng – vận hành – chuyển giao), và đã nhận xét rằng
năng lực quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước còn yếu kém, hệ thống pháp lý,
4


chính sách chưa hoàn thiện và hiệu quả, trên cơ sở đó đề cập đến giải pháp về quy
hoạch dự án cũng như khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, các nghiên cứu này quá
nặng về mảng kỹ thuật mà bỏ qua mặt kinh tế của dự án. Một nghiên cứu gần đây
được tác giả Nguyễn Thủy Lan thực hiện với đề tài “Đổi mới quản lý dự án đầu tư
xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước tại các tổ chức khoa học và công nghệ
thuộc Chính phủ” đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về QLDA đầu
tư xây dựng bằng nguồn vốn NSNN, bên cạnh đó tác giả cũng đã đề xuất một số
giải pháp đổi mới QLDA đầu tư xây dựng nguồn vốn NSNN đến năm 2020 và tầm
nhìn đến 2030.
Đối với khía cạnh quản lý nhà nước, có thể kể đến Nguyễn Thị Bình (2013), Trần
Văn Hồng (2002). Các tác giả này đã nghiên cứu đầu tư theo chu trình hoạt động,
bao gồm xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư, lập – thẩm định – phê duyệt đầu tư,
triển khai dự án, thẩm định chất lượng và bàn giao công trình… Một số nghiên cứu


Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng đầu tư XDCB và công tác quản lý dự án đầu tư XDCB từ
nguồn vốn NSNN của huyện Tiên Du trong những năm qua, từ đó đề xuất giải pháp
tăng cường quản lý dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN của huyện Tiên Du,
tỉnh Bắc Ninh.
3.2.

Nội dung nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dự án đầu tư XDCB từ

-

nguồn vốn NSNN.
Đánh giá thực trạng đầu tư XDCB và công tác quản lý dự án đầu tư XDCB

-

từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Tiên Du trong thời gian qua, đưa ra yếu tố
ảnh hưởng đến công tác công tác quản lý dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
của huyện.
Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn

-

NSNN của huyện Tiên Du trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.


4.2.2. Phạm vi về không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu hoạt động quản lý tại các công trình và tại Ban quản
lý các dự án xây dựng huyện Tiên Du, các phòng liên quan: Tài chính – kế hoạch, phòng
kinh tế và hạ tầng, phòng Tài nguyên môi trường huyện Tiên Du, Các ủy ban nhân dân
cấp xã có thực hiện các dự án đầu tư phát triển XDCB bằng nguồn NSNN.
4.2.3. Phạm vi về thời gian
-

Số liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập tại phòng Tài chính – Kế toán

được lưu trữ tại ủy ban nhân dân huyện, nhằm có cái nhìn tổng quan về các dự án
phát triển – đặc biệt là các dự án đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Tiên Du, kéo dài
khoảng từ năm 2010 đến hết năm 2016, trong đó thời gian tập trung là từ 2010.
-

Thời gian phỏng vấn tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 03 năm 2017 đến

tháng 7 năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Quy trình nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề ra bên trên, quy trình nghiên cứu được
tác giả tiến hành theo khung như sau:
Nghiên cứu tài liệu
trong và ngoài nước

Điều tra bằng bảng hỏi
đối với doanh nghiệp
tham gia xây dựng và
cán bộ quản lý


lý luận đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN, làm căn cứ hình thành khung lý thuyết
nghiên cứu.
Ngoài ra, thu thập dữ liệu thứ cấp từ thống kê của Chi cục thống kê tỉnh Bắc
Ninh, của phòng Tài chính kế toán thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Du và các
đơn vị có liên quan trong thực hiện dự án.
5.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp trong luận văn được tác giả thu thập bằng phương pháp phỏng vấn
các cán bộ quản lý nhà nước và điều tra bằng bảng hỏi đối với doanh nghiệp tham
gia thực hiện các dự án.
Thứ nhất, phỏng vấn viết (anket) đối với các cán bộ quản lý Nhà nước
Mục đích phỏng vấn là để có được thông tin đánh giá sâu và đa chiều về hoạt
động quản lý đối với dự án đầu tư XCDB bằng NSNN, đồng thời định hướng giải
pháp chính sách nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý này tại địa bàn huyện Tiên Du.
Nội dung phỏng vấn là các chức năng hoạt động quản lý đối với các dự án đầu tư
XDCB và đề xuất hoàn thiện quản lý – chủ yếu là quản lý nhà nước đối với dự án
này. Kết quả phỏng vấn cung cấp thông tin giúp tác giả làm rõ thực trạng hoạch
định phát triển dự án, xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, quy định và pháp
luật cho dự án, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với dự án, giám sát, đánh giá
dự án tại địa bàn huyện Tiên Du.
Đối tượng phỏng vấn là 30 cán bộ quản lý nhà nước làm việc trong lĩnh vực đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó 15 người trực tiếp quản lý tại huyện Tiên Du,
10 người thuộc tỉnh Bắc Ninh và 5 người thuộc các cơ quan quản lý nhà nước thuộc
8


bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Số lượng này được cho là phù hợp (theo
Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2012), và cũng phù hợp với tình hình
thực tế tại huyện Tiên Du, khi số lượng cán bộ quản lý không nhiều. Việc phỏng
vấn lấy ý kiến cán bộ quản lý tại huyện Tiên Du thực hiện bằng cách liên lạc đặt
hẹn cho cuộc gặp, tiếp đó gửi bảng hỏi phỏng vấn viết qua email trước cho người


phiếu điều tra qua e-mail. Việc điều tra qua email giúp tiết kiệm thời gian và kinh phí
điều tra, còn khảo sát trực tiếp giúp tác giả có điều kiện tìm hiểu sâu, quan sát và giải
thích những vấn đề mà trả lời phiếu điều tra qua e-mail không thể hiện đầy đủ.
5.2.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập được các kết quả, tác giả sử dụng phương pháp so sánh để tiến
hành phân tích các vấn đề làm được qua các năm của công tác quản lý đầu tư
XDCB trên địa bàn huyện Tiên Du, đồng thời sử dụng Excel 2013 để nhập dữ liệu
và phân tích dưới dạng thống kê mô tả các vấn đề đạt được trong quá trình phỏng
vấn cũng như điều tra đối với các doanh nghiệp tham gia trên địa bàn huyện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư xây XDCB và quản lý

dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước.
- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá việc quản lý dự án

đầu tư XDCB từ NSNN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
-

Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn

NSNN trên địa bàn huyện Tiên Du trong thời gian qua.
-

Định hướng và đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý dự án đầu tư

XDCB từ nguồn vốn NSNN của huyện Tiên Du trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn

việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng các tài sản cố định nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền
kinh tế quốc dân (Mai Văn Bưu, 2001).
Đặc điểm chung của dự án đầu tư XDCB
Đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước, dự
án đầu tư XDCB thường được tài trợ bằng vốn ngân sách nhà nước trong giai đoạn
đầu, và mang những đặc điểm sau đây (theo Phan Thị Thu Hà, 2005)
Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi
hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn. Nguồn vốn này nằm ứ đọng trong suốt
quá trình xây dựng. Vì vậy trong quá trình xây dựng chúng ta phải có kế hoạch huy
động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn
lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian
ngắn chống lãng phí nguồn lực.

11


Thời gian dài với nhiều biến động: Thời gian tiến hành một dự án xây dựng cho
đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều thời gian với
nhiều biến động xảy ra.
Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng
lâu dài, có khi hàng chục, hàng trăm năm…
Cố định: Các thành quả của hoạt động xây dựng cơ bản là các công trình xây
dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng. Vì vậy cần được bố trí hợp lý
địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với
quy hoạch tổng thể đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng
lãnh thổ.
Liên quan đến nhiều ngành: Hoạt động xây dựng cơ bản rất phức tạp liên quan
đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc ở phạm vi nhiều địa phương với nhau. Vì vậy
khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các

và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ
Nhà nước”. Theo quan điểm này thì ngân sách nhà nước được xác định bằng các
nguồn thu – chủ yếu từ thuế, cũng như các khoản lãi được đầu tư của nhà nước như
đầu tư thông qua các doanh nghiệp nhà nước, các khoản được viện trợ và vay từ
nước ngoài. Các khoản chi trong dự toán của NSNN chủ yếu bao gồm chi thường
xuyên, chi đầu tư phát triển và chi trả nợ nước ngoài.
Đối với NSNN còn được tách ra thành 2 mảng chính là ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương (phân cấp ngân sách trong quản lý). Bản thân các địa bàn,
ngoài đầu tư của Chính phủ thì còn có các cơ quan liên quan chủ động đầu tư.
Động cơ của nhà nước tham gia vào đầu tư XDCB
ADB (2008) chỉ ra ba nguyên nhân chính thúc đẩy nhà nước tham gia vào đầu tư
XDCB là: thu hút vốn đầu tư tư nhân với yêu cầu của việc giảm áp lực tài trợ với
NSNN, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải cách lĩnh vực.
Thời điểm hiện tại, đối với các nước đang phát triển thì áp lực của việc gia tăng
dân số, phát triển kinh tế các địa phương, xây mới các công trình cơ sở hạ tâng đang
là một áp lực lớn đối với xã hội. Các công trình này ít có khả năng sinh lời trực tiếp
nên cần phải có vốn của nhà nước, đóng vai trò là “vốn mồi” để cùng huy động
nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Một đặc điểm nổi bật của nhà nước là ít có động lực
thiết lập tính năng suất, chất lượng, hiệu quả cho các hoạt động, sản phẩm và dịch
vụ tạo ra; trong khi khu vực tư nhân với động cơ lợi nhuận luôn duy trì nguyên tắc
hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ. Với cho phép khu vực tư
nhân tham gia đầu tư xây dựng hạ tầng, nhà nước mong muốn sẽ tăng hiệu quả sử
dụng nguồn lực sẵn có.
Để có thể khởi động, xúc tiến, thực hiện và phát triển việc đầu tư, đòi hỏi nhà
nước phải đánh giá, phân bổ trách nhiệm rõ ràng cho các bên – chủ yếu đối với bên
thực hiện dự án 100% NSNN hoặc các bên có sử dụng vốn NSNN (đối với các dự
13


án có sự tham gia của khu vực tư nhân hoặc người hưởng lợi từ dự án). Từ các kết

Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xác định và xây dựng mục tiêu, xác định

từng loại công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án là quá trình phát
triển kế hoạch thực hiện thống nhất, theo một trình tự nhất định, lôgic. Giai đoạn

14


này có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập
kế hoạch truyền thống.
-

Điều phối thực hiện: Đây là quá trình triển khai và phân phối các nguồn lực

bao gồm: Tiền vốn, lao động, trang thiết bị vật tư nguyên nhiên liệu và đặc biệt
quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian, chi tiết hoá về thời gian thực
hiện, lập lịch trình cho từng nội dung công việc và cho toàn bộ dự án, trên cơ sở đó
bố trí tiền vốn, nhân lực vật tư và thiết bị cho phù hợp.
-

Giám sát: Đây là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình thực hiện dự án, phân

tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất những giải pháp, biện pháp
tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án.
Cùng với với hoạt động giám sát là công tác đánh giá dự án giữa kỳ, cuối kỳ nhằm
sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị và đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu
quả dự án.
Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư XDCB là hoàn thành các công việc của dự án
theo đúng yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật và chất lượng trong phạm vi ngân sách được
duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép.

quản lý và sử dụng vốn XDCB bằng nguồn vốn NSNN còn nhiều bất cập và tồn tại
điều đó dẫn tới thất thoát vốn xây dựng cơ bản ở hầu hết các dự án xây dựng bằng
nguồn vốn NSNN.
Như vậy, xuất phát từ thực trạng bất cập của cơ chế quản lý XDCB bằng vốn
NSNN, nên cần phải đổi mới lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của dự án xây dựng và chống thất thoát, lãng phí là tất yếu khách quan (Nguyễn
Bạch Nguyệt, 2004).
Thứ ba, quản lý dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn nhằm
đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội trong hoạt động xây dựng. Cơ chế quản lý
XDCB nói chung và quản lý XDCB bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước nói
riêng còn tồn tại nhiều vấn đề bức xức như: Quy hoạch, kế hoạch đầu tư chưa đồng
bộ, chất lượng chưa cao; quy hoạch, kế hoạch theo ngành chưa gắn chặt với từng
vùng địa phương; một số quyết định chủ trương về xây dựng thiếu chính xác; tình
trạng xây dựng các công trình dàn trải diễn ra phổ biến... Vì vậy, để đảm bảo tính
hiệu quả trong XDCB bằng nguồn vốn NSNN đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý
(Nguyễn Bạch Nguyệt, 2004).
Thứ tư, thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ:”Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”.
Các công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đều phục vụ lợi
ích cho nhân dân, cho nên cần phải bàn bạc với nhân dân, phải công khai minh bạch
các dự án được xây dựng mới, có như vậy các công trình được xây dựng mới phù
hợp, phát huy hiệu quả, chất lượng công trình được đảm bảo, tránh thất thoát, lãng
phí, tiêu cực (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2004).
16


1.3. Nội dung quản lý dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân
sách nhà nƣớc ở địa phƣơng
Tùy thuộc mục đích nghiên cứu, các chủ thể có thể lựa chọn cách tiếp cận khác
nhau về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư XDCB xét theo chu trình dự án hoặc


Hoạch định phát triển DAĐT trong xây dựng cơ bản bao gồm các nội dung cơ
bản là: (i) các quan điểm phát triển, (ii) các mục tiêu phát triển, (iii) các giải pháp,
nguồn lực.
1.3.1.1. Quan điểm phát triển
Quan điểm phát triển là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt chức năng hoạch
định từ việc xác định mục tiêu đến những nhiệm vụ, nguồn lực. Nhà nước cần thể
hiện rõ ràng cam kết dài hạn và ổn định đối với việc phát triển đầu tư XDCB bằng
vốn NSNN. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, quan điểm phát triển XDCB
trong xây dựng hạ tầng thường bao gồm hai khía cạnh cốt lõi sau:
-

Định hướng phát triển DAĐT trong xây dựng cơ bản phù hợp với định

hướng chung của quốc gia.
-

Cam kết và ủng hộ rõ ràng, nhất quán về mặt chính trị của nhà nước đối với

DAĐT trong xây dựng cơ bản, đặc biệt là đầu tư bằng NSNN.
1.3.1.2. Mục tiêu phát triển
Phát triển DAĐT theo hình thức XDCB trong xây dựng hạ tầng hướng tới các
mục tiêu sau:
-

Tăng vốn đầu tư tư nhân đóng góp vào dự án nhằm giảm áp lực với NSNN

và tăng giám sát của khu vực tư nhân với chất lượng công trình.
-


-

Chính sách, quy định về xác định và lựa chọn dự án;
18


-

Chính sách, quy định về lựa chọn hình thức hợp đồng cho dự án;

-

Chính sách, quy định về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án;

-

Chính sách, quy định về ưu đãi và đảm bảo đầu tư;

-

Chính sách, quy định về phân bổ rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân;

-

Chính sách, quy định về xây dựng và vận hành công trình.

Theo các yếu tố cần thiết cho thực hiện dự án bao gồm các nội dung cơ bản:
chính sách xúc tiến đầu tư; chính sách tài chính, tín dụng; chính sách đất đai; chính
sách môi trường.
a. Chính sách, quy định về xúc tiến đầu tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status