Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn1 of 56.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 4
4. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 5
7. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 5
8. Cấu trúc khóa luận ..................................................................................... 5
NỘI DUNG ...................................................................................................... 6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .......................................................... 6
1.1. Những vấn đề lí luận .............................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật............................. 6
1.1.1.1. Khái niệm không gian ................................................................... 6
1.1.1.2. Không gian nghệ thuật .................................................................. 6
1.1.2. Các hình thức tồn tại của không gian nghệ thuật ............................. 7
1.1.2.1. Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian ............................. 7
1.1.2.2. Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại ..................... 8
1.1.2.3. Không gian trong văn học hiện đại................................................ 8
1.2. Giới thiệu chung về nhà văn Tô Hoài .................................................... 9
1.2.1. Tác giả Tô Hoài ................................................................................ 9
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác.......................................................................... 11
1.3. Tô Hoài với tác phẩm Chuyện cũ Hà Nội ............................................ 15
1.3.1. Tô Hoài với đề tài Hà Nội .............................................................. 15
1.3.2. Chuyện cũ Hà Nội - tập kí sự độc đáo............................................ 17
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn1 of 56.
tiếng từ rất sớm với tác phẩm. Dế mèn phưu lưu ký. Văn chương của ông
hướng về cuộc đời, số phận con người lấm láp đời thường. Ông ra đi vì tuổi
đời nhưng văn chương của ông vẫn còn nguyên giá trị.”
1.2. Hà Nội mảnh đất “phồn hoa đô hội”, “nghìn năm văn hiến” đã đi
vào từ lịch sử đến thơ ca in đấu ấn trên nhiều phương diện từ văn hóa vật chất
đến văn hóa tinh thần. Đề tài về Hà Nội đã từng được viết bởi được nhà văn
Nguyễn Tuân với những nét hào hoa, một Hà Nội nhiều màu sắc tươi mát,
lãng mạn của Vũ Bằng với “mùa xuân của Hà Nội là mùa xuân có mưa liêu
riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh” hay một Hà Nội của
Thạch Lam với những món ăn tinh tế, những kí ức ấm áp ngày tết, với đêm
đông, gió lạnh …Riêng đối với Tô Hoài từ một cách nghe, cách cảm xúc một
cách nhìn, gương mặt, tâm hồn của những con người Hà Nội xưa, đã chạm
vào tầng sâu của đời sống con người, trải qua những năm tháng tích lũy vốn
sống, kinh nghiệm, Tô Hoài đã tạo nên những nhận thức mới về mảnh đất
Thăng Long xưa qua không gian thật đặc sắc và ấn tượng.
1.3. Sáng tác của Tô Hoài rất phong phú trên nhiều lĩnh vực. Ông viết
truyện ngắn bút kí, tiểu thuyết, lí luận, viết kinh nghiệm sáng tác và viết cho
thiếu nhi.Tô Hoài là người hiểu biết rộng, sự hiểu biết của ông bao trùm nhiều
1
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn3 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn4 of 56.
mặt của xã hội. Đối với đề tài về Hà Nội ông đã để lại một dấu ấn thật đặc
biệt trong mắt bạn đọc, là người Hà Nội mảnh đất và con người nơi đây đã tạo
cảm hứng và định hướng nghệ thuật cho nhà văn từ những ngày đầu cầm bút.
Cho đến hôm nay, khi Tô Hoài đã mất nhưng dấu ấn mà Hà Nội được thể hiện
qua trang viết của Tô Hài vẫn còn nguyên giá trị.
người Hà Nội”.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến – Hội viên hội nhà văn Hà Nội nói: “bản
lĩnh và phẩm chất văn chương của Tô Hoài đã thuyết phục được nhiều người,
nhiều thế hệ với hàng trăm tác phẩm văn học đã làm rạng rỡ tên tuổi ông và
là niềm tự hào của văn hóa Thăng Long - Hà Nội”
Trong giới cầm bút ông nổi tiếng là người đi nhiều, để rồi sau những
chuyến đi ấy, ông lại trở về với thành phố thân yêu của mình. Trong lòng Hà
Nội, Tô Hoài sống với gia đình bạn bè, cũng trong lòng xã hội đóTô Hoài trở
về với thế giới sáng tác. Đến nay Tô Hoài đã đi xa, nhưng văn chương của
ông, những con chữ trên trang sách của ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình lâu
dài cùng người đọc. Riêng về Hà Nội, ông có cả chục tập sách trong đó không
thể không nhắc tới Chuyện cũ Hà Nội, và nếu như có dịp đặt chúng bên nhau,
độc giả sẽ nhận ra nét đặc biệt trong tình yêu của nhà văn với vùng đất địa
linh nhân kiệt. Đọc các sáng tác của Tô Hoài - một người con Hà Nội, để hiểu
Hà Nội hơn, yêu Hà Nội hơn.
Trong lời giới thiệu về Chuyện cũ Hà Nội, nhà Hà Nội học Nguyễn
Vinh Phúc khẳng định: “Có thể coi đó là một thứ Vũ trung tùy bút thời hiện
đại, vì với những mẩu chuyện không dài, Tô Hoài với tư cách là một nhân
chứng đã ghi lại muôn mặt đời thường của cái Hà Nội thời thuộc Tây. Tuy
mới qua sáu bảy chục năm mà dường như không mấy ai nhớ nữa, thậm chí đã
trở thành chuyện đời xưa”.
Hay theo Vương Trí Nhàn thì tác giả viết về Hà Nội thật là nhiều. Song
có lẽ chỉ có Tô Hoài là mang lại được cái chất riêng của vùng đất mà mình đã
từ đó trưởng thành. Và giữ được cái chất đó, trong suốt cuộc đời cầm bút.
Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, tác phẩm Chuyện cũ Hà Nội có
vai trò quan trọng. Tác phẩm này đã được Uỷ ban nhân thành phố Hà Nội
3
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn5 of 56.
văn Tô Hoài.
4
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn6 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn7 of 56.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng là tập Chuyện cũ Hà Nội của nhà văn Tô Hoài gồm 114
chuyện.
Phạm vi nghiên cứu là Không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê phân loại.
Phương pháp phân tích.
Phương pháp nghiên cứu liên nghành.
Phương pháp so sánh đối chiếu.
7. Đóng góp của khóa luận
Tìm hiểu Không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
nhằm làm nổi bật phong cách sáng tác nghệ thuật cũng như những đóng góp
của Tô Hoài nói chung về đề tài Hà Nội.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư tiệu tham khảo, phần nội dung chính
của khóa luận gồm hai chương chính:
Chương 1: Những vấn đề chung.
Chương 2: Những không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội của
Tô Hoài
5
thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan.
6
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn8 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn9 of 56.
1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
1.1.2.1. Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian.
Đặc điểm chung trong sáng tác văn học dân gian là ba giới, ba tầng, ba
cõi: thượng giới, trần gian, và địa ngục, với thần linh, người, ma quỷ.Ở đó,
con người có thể tự do đi lại trong ba cõi mà ít gặp sự trở ngại nào. Đó chính
là tính chất tôn giáo trong văn học dân gian.
Không gian thần thoại: Không gian có tính chất đặc thù là tính nguyên
sơ hoang dã, không gian vũ trụ là cõi hồng hoang âm u, lạnh lẽo vắng bóng
con người, “ban ngàylà một cõi hỗn độn mờ mịt, tối tăm, lạnh lẽo. Từ cõi hỗn
độn ấy, thần Trụ Trời xuất hiện, ông lấy đầu đội trời cao lên và dùng chân đạp
đất xuống thấp” (Thần Trụ trời).
Không gian sử thi: Đó là không gian mang tính chất thần thoại, hư ảo,
kì diệu, không gian thay đổi theo ý thức của thần linh, xong không gian mang
tính địa vực. Trong Iliat và ôđixê của Home nổi bật lên là không gian của các
hòn đảo, không gian của các chiến trường rộn lớn, trời đất bao la...
Không gian trong truyện cổ tích: Là sự say đắm trong những giấc mơ
ngọt ngào của người xưa, là ước mơ về một cuộc sống ấm no, không còn
những áp bức bất công. Bởi thế không gian ở đây có đặc tính là ít tính chống
đối của môi trường vật chất - tính siêu dẫn của không gian. Ở đó con người có
thể tự do hoạt động tự do di chuyển mà không gặp trở ngại và luôn có sự giúp
đỡ của lực lượng thần kì, siêu nhiên.
Không gian trong ca dao: ca dao là tiếng nói chân thật của tình cảm,
với các tác giả văn học hiện đại không không gian nghệ thuật mang tính khái
quát cao, phạm vi phản ánh rộng lớn. Đó là không gian xã hội, không gian
con người phải vật lộn với cuộc sống đầy sóng gió. Không gian nghệ thuật
mang tính cá nhân trong thời đại này cũng phản ánh cuộc sống, số phận từng
các nhân trong mối quan hệ hữu cơ với cuộc sống vì vậy không gian cũng
mang đậm dấu ấn cá nhân như trong phong trào thơ Mới chúng ta thấyđó
không gian nhỏ hẹp, quẩn quanh, bế tắc thường gằn liền với tình yêu và nỗi
8
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn10 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn11 of 56.
buồn. Với Chế Lan Viên là không gian nghệ thuật đầy hư ảo mộng mị, ma
quái kinh dị, với những máu, tủy, sọ người cùng những tiếng rên than… hay
lạc vào không gian chốn quê bình yên thơ mộngtrong thơ Nguyễn Bính với
giậu mồng tơi, đàn bướm lượn vòng. “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa
xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
Không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống con người lao
động, số phận kém may mắn. Con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung
tâm của bức tranh cuộc sống, bám sâu vào hiện thực để phản ánh chân thực
những nỗi khổ nhọc nhằn vất vả của con người trên hành trình mưu sinh
(Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
Tóm lại không gian nghệ thuật là một phạm trù lớn có vị trí quan trọng
trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Đó là
một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời sống
bằng hình tượng nghệ thuật về cuộc sống. Không gian nghệ thuật góp phần
thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Không gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi theo dòng chảy của văn học.
nhanh chóng chuyển sang “cánh đồng ” văn xuôi. Ở đây, ông đã phát huy triệt
để năng khiếu và sở trường của mình. Tác phẩm đầu tay của Tô Hoài là Nước
lên (1940), Giăng thề (1941), Dế mèn phưu lưu ký (1941), O chuột (1942).
Trong đó Dế mèn phưu lưu ký được bạn đọc chú ý hơn cả.
Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị. Trước cách mạng tháng
Tám, thời kỳ Mặt trận Dân chủ, ông đã tích cực tham gia phong trào Ái hữu
thợ dệt ở Hà Đông và Thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1943, Tô Hoài
tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt minh, viết báo
bí mật.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài làm báo cứu quốc - cơ quan
của tổng bộ Việt Minh. Ông đi vào mặt trận phía nam, tới Tuy Hòa, Nha
Trang, lên chiến trường Tây Nguyên rồi xuống mặt trận An Khê. Tháng 10
năm 1946 ông được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng Sản. Kháng
chiến toàn quốc, Tô Hoài lên Việt Bắc tiếp tục làm báo, sau đó ông công tác
tại Hội văn nghệ Việt Nam. Năm 1949 ông tham gia chiến dịch sông Thao.
10
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn12 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn13 of 56.
Năm 1950, ông lại đi chiến dịch Biên Giới. Năm 1952, ông theo bộ đội chủ
lực tiến vào giải phóng Tây Bắc. Những chuyến đi ấy đã giúp ông trưởng
thành về mặt tư tưởng và tạo cho ông vốn sống phong phú.
Năm 1957 trong Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam , ông được
bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn, từ năm 1958 là phó Tổng thư kí. Ông liên
tục tham gia ban chấp hành Hội nhà văn đến năm 1980, ông còn là ủy viên
Đoàn chủ tịch Uỷ ban Liên hiệp văn học nghệ thuật, từng làm Gám đốc Nhà
xuất bản Hội nhà văn và Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn. Trong một thời gian
hầu như sự nghiệp văn học chủ yếu lại được khẳng định trong vòng 55 năm
dưới chế độ cách mạng. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm đủ các thể lọai:
Truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, hồi kí, bút kí…Trong đó có nhiều tác
phẩm đặc sắc. Tô Hoài xứng đáng được coi là cây bút văn xuôi lực lưỡng bậc
nhất có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình văn học mới. Ông là nhà văn
có bản lĩnh nghệ thuật vững vàng, nêu cao tấm gương lao động cần mẫn, bền
bỉ và giàu sáng tạo.
Tô Hoài vào nghề bằng truyện ngắn Nước Lên (1940). Cho đến nay đã
ra đi nhưng 70 năm cầm bút ông đã để lại trên 160 đầu sách. Đây là con số mà
không phải nhà văn nào cũng đạt được. Hành trình sáng tác của Tô Hoài được
chia làm hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám. Mỗi chặng đường
sáng tác Tô Hoài có những thành tựu nổi bật riêng nhưng tựu trung lại, vẫn
viết chủ yếu về hai vùng đề tài lớn là Hà Nội và miền núi, vẫn thống nhất
trong một cảm quan hiện thực đời thường và một nghệ thuật thể hiện mang
đậm phong cách tác giả.
Trước cách mạng 1945: Đối tượng trong sáng tác của Tô Hoài giai
đoạn này là loài vật và cuộc sống, con người ở vùng quê nghèo làm nghề thủ
công ở ven thành.
Truyện về loài vật: Dế mèn phưu lưu ký, Một cuộc bể dâu, Dê và lợn,
Ba an em, Võ sĩ bọ ngựa, Đám cưới chuột, Trê và cóc. Mỗi truyện viết về loài
vật Tô Hoài đã phản chiếu những cá tính, những phẩm chất và thói tật, những
tốt - xấu, dở - hay trong trạng thái tự nhiên của con người.
12
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn14 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn15 of 56.
Truyện về vùng quê ven thành: Trước cách mạng Tô Hoài viết về vùng
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn16 of 56.
tác phẩm như: Núi cứu quốc (tập truyện - 1948), Truyện Tây Bắc (Tập truyện
- 1953), Miền tây (tiểu thuyết - 1967), Lên Sùng Đô (bút kí Họ hàng ở Phìn Sa
(tiểu thuyết -1984), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (Tiểu thuyết - 1971). Tác phẩm
của ông đã tạo nên sự đối sánh giữa hai cuộc đời cũ - mới trên chất liệu những
phong tục, những cảnh sinh hoạt hàng ngày với những tập tục tồn tại lâu đời
trong đời sống sinh hoạt của các dân tộc mền núi. Từ đó nhà văn khai thác
triệt để, để tạo dấu ấn riêng trên từng trang sách của mình.
Sáng tác cho thiếu nhi cũng là một trong những đề tài khá phong phú
mà tác giả Tô Hoài đã dành một khối lượng tác phẩm lớn tiêu biểu nhất là Dế
mèn phưu lưu kí một trong những tác phẩm đặc sắc và được dịch ra nhiều thứ
tiếng, ngoài ra còn có Con mèo lười, Cá đi ăn thề, Đàn chim gáy, Chim chích
lạc rừng,Cậu miu, Vừ A Dính (195..), Kim Đồng (196...), Đảo Hoang (Tiểu
thuyết-1980), Chuyện Nỏ Thần (tiểu thuyết - 1984), Nhà Chử (tiểu thuyết1985), tuyển tập văn học thiếu nhi (truyện - 2 tập - 1999).
Đề tài cá nhân trong các hồi kí và tự truyện. Trong sự nghiệp sáng tác
của Tô Hoài, hồi kí là thể loại in đậm phong cách nghệ thuật của tác giả.với các
tác phẩm như: Cỏ Dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều những kỉ niệm
vui buồn được hiện lên qua nhiều cung bậc trong sự tồn tại khách quan qua lăng
kính cảm quan đời thường của nhà văn.
Ngoài những đề tài trên Tô Hoài còn có một số tác phẩm lí luận, kinh
nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc
ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn
(1997)...
Với gia tài đồ sộ của mình, cho đến nay Tô Hoài là nhà viết văn xuôi có
tác phẩm nhiều nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Hơn nửa thế kỉ
sáng tác không biết mệt mỏi, ông đã dành toàn bộ tâm huyết, sức lực của
mình cho nghệ thuật. Mỗi chặng đường sáng tác của Tô Hoài đều gắn với
14
Tô Hoài không chỉ viết về vùng “Kẻ Bưởi” mà còn viết về Hà Nội với “Băm
sáu phố phường”, không chỉ viết về cuộc sống hiện tại mà còn đi ngược dòng
15
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn17 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn18 of 56.
lịch sử viết về những năm tháng cuối thế kỉ XX trong thời kì thực dân pháp
xâm lước nước ta (tập truyện Người ven thành, tiểu thuyết quê nhà) tái hiện
thời kì đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc ta từ 1935 đến 1945
(tiểu thuyết Mười năm), thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội (tiểu thuyết Những
ngõ phố, người đường phố, truyện ngắn Phố ) và gần đây muôn chuyện đời
thường ở Hà Nội được tác giả tái hiện phản ánh trong “Chuyện cũ Hà Nội”...
Như vậy sau Cách mạng viết về Hà Nội Tô Hoài đã có cái nhìn về chiều dài
lịch sử. Do đó qua muôn chuyện đời thường, nhiều biến cố của đời sống xã
hội đã được hiện diện trong các sáng tác của Tô Hoài.
Viết về Hà Nội, bộ ba tiểu thuyết Quê Người (1941), Mười Năm (1958),
Quê Nhà (1980) đã tạo sự nhất quán về tiến trình lịch sử Hà Nội qua hơn 50
năm từ cuối thế kỉ XIX đến 1945. Tiểu thuyết Quê Nhà viết về thời kì cuối thế
kỉ XIX - thời kì thực dân Pháp đặt chân lên đất Hà thành. Trong tình thế nước
sôi lửa bỏng, khi các cuộc kháng cự của triều đình thất bại, quần chúng nhân
dân nhất tề nổi dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm. Từ vùng Ba Trại, chân núi Ba Vì
đến Kẻ Chợ, từ già đến trẻ, từ nam đến nữ, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Xuất
rồi thủ lĩnh Nghĩa, nhân dân sôi sục tham gia đánh giặc giữ đất, giữ làng. Trong
tác phẩm này hai nhân vật chính được tác giả dày công xây dựng là bà Xuất vợ
góa thủ lĩnh Xuất và Nghĩa - cô con gái Ba Trại đóng giả trai, nén nỗi đau riêng
quyết đứng lên bước tiếp con đường mà người đi trước.
Tiểu thuyết Mười Năm phản ánh một thời kì lịch sử của dân tộc - thời kì
“Một tác phẩm văn học có giá trị bao giờ cũng là câu trả lời những
yêu cầu của con người về Tổ quốc, gia đình, diện mạo của mỗi thời, của mỗi
dân tộc. Đó cũng chính là phương diện văn hóa của văn học”. Lịch sử văn
học Việt Nam đã cho thấy có rất nhiều tác phẩm như vậy và trong đó có
Chuyện cũ Hà Nội của nhà văn Tô Hoài. Từ 10 năm trở lại đây, Chuyện cũ
Hà Nội của Tô Hoài được bạn đọc nhiều nơi biết đến qua những câu chuyện
thật hay và sâu sắc. Đây là một tập kí sự đặc sắc về đề tài Hà Nội, đã từng
được Uỷ ban Nhân Dân TP Hà Nội Thăng Long (1997 - 1988). Người đọc có
thể nhìn thấy tập truyện này như một Vũ Trung tùy bút thời hiện đại... Bằng
những mẩu chuyện nhỏ, tác giả đã ghi lại muôn mặt đời thường của xã hội Hà
17
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn19 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn20 of 56.
Nội thuộc Tây dưới đôi mắt một chứng nhận của thời 60 năm về trước.
Những vấn đề xa xưa ấy không biết “có ai còn nhớ đến”. Được Tô Hoài tái
hiện rất rõ, rất sống động trong Chuyện cũ Hà Nội.
Tác phẩm là một tập kí sự độc đáo hấp dẫn người đọc bởi một lối kể
chân thực, một cách nhìn thấu đáo hồn hậu, thấm đẫm tình yêu sâu lắng xót
xa mà vẫn tràn trề hi vọng về mảnh đất Thăng Long xưa. Tác phẩm được xuất
bản từ năm 1986 gồm 40 truyện và sau đó tái bản lần hai năm 2004 gồm 114
truyện với mở đầu là Phố Mới, và kết thúc là Cửa thiền – Cấu trúc tác phẩm
đã tạo cảm hứng bao trùm về một đời sống văn hóa Hà Nội xưa: Vận động và
phát triển nhưng vẫn trầm lặng và cổ kính.
Không gian tác phẩm được tái hiện từ các vùng quê ven đô đến 36 phố
phường, từ những câu ca dao bình dị kể về sự tích làng Yên Thái, chợ Bưởi,
chùa Bà Sách, gái kẻ có buôm dăm, trai làng nghề dệt cửi đến làng Vòng,
vẻ đẹp văn hóa làm rung động lòng người.
2.1.1. Không gian sinh thái nội đô
Không gian sinh thái trong chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài trước hết là
không gian của những danh lam thắng cảnh, tiêu biểu trong bài Cây Hồ Gươm
tác giả đã tái hiện lại một không gian thiên thật tuyệt đẹp của đất nước “nắng
nghiêng bóng đưa những hàng dâu ngày xưa hắt vào chấm đến cầu Thê Húc,
Có hôm trời quang đứng bên tam quan đền Bà Kiệu, trông lên phía tây trên
làn sóng mái nhà nhấp nhô Hàng Gai, cầu Gỗ thấy in hình màu lam huyền
của ngọn núi Ba Vì, làn cây ven hồ Gươm như làn mi, như ai dướn đôi
mày...”. Hay đó còn là những cây liễu đứng một mình buông tóc trong gió in
bóng hồ điểm trong bức tranh hồ cuối thu phặng lặng, có hoa lộc vừng đỏ hây
rơi tung cánh xuống mặt nước. Một vẻ đẹp thật hài hòa êm dịu, một vẻ đẹp
thật hoàn mỹ để rồi nhà văn phải thốt lên: “ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa
vông - đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết”, chỉ đến mùa đông hoa vông
đỏ khé một góc hồ… không gian thật đẹp và tinh tế. Dưới ngòi bút tài năng
của mình tác giả đã làm cho bạn đọc thấy được khung cảnh của Hồ Gươm
giữa lòng Hà Nội mang một nét đẹp nền nã mà hết sức cổ kính. Ở đó những
cây quanh hồ Gươm hội tụ các thứ cây của làng nước - và thời thế. Vì thế
19
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn21 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn22 of 56.
không phải ngẫu nhiên hồ Gươm sau này hồ Gươm đã trở thành trung tâm
mang nhịp đập trái tim của cả nước và đã được đi vào thơ ca nằm sâu trong
trái tim và khối óc của những người dành tình yêu sâu nặng với mảnh đất này:
“Em đứng đó nhìn bầu trời xa thẳm/ Hồ Gươm xanh in bóng một khoảng trời/
Có phải xưa, viên ngọc của sao rơi/ Mà ở đó thành trái tim Hà Nội (Hồ
mới, không kém phần hấp dẫn so với tiếng rao đêm của Thạch Lam, Tô Hoài
cảm thấy “những tiếng rao hàng nghe cũng thật lạ tai cũng thật quen thuộc”.
Phải chăng tác giả thấy lạ là do giọng nói của mỗi người sống ở từng vùng
khác nhau, hoặc cũng có thể là vì đặc trưng riêng của từng món ăn…nhưng
nếu nghe Tiếng rao đêm ấy, chắc chắn chúng ta sẽ đồng cảm với tác giả rằng,
đằng sau lời mời là một sự khổ cực, cam chụi và chưa nhiều hi vọng. “Phố xá
đêm buồn như châu chấu cắn”. Mỗi ngày lại có một người nghèo khó rời xa
quê hương đến đây để làm ăn với mong muốn cuộc sống của mình sẽ dễ thở
hơn tại cái Thủ đô rực rỡ ấy. Chính vì thế Tiếng rao đêm đối với người dân
nơi này quá đỗi quen thuộc, từ chập tối tới tận trời sáng, âm thanh ấy vẫn
vang lên khắp mọi ngóc nghách của phố phường Hà Nội. Cái tiếng xôi lạp
xườn ấy cất lên là lúc trời đã mờ mờ sáng. Tiếng rao đêm như lan tỏa vào
không gian rộng lớn của đất trời Hà Nội trong những ngày rét mướt với
những cơn gió lạnh đến cắt da cắt thịt như thấm vào lòng người của những
con người tha hương. Cuộc sống của những con người ấy sẽ mãi mãi quẩn
quanh và khốn khó.
Bên cạnh những Tiếng rao đêm đó chúng ta cũng lại bắt gặp được
không gian sinh hoạt ở phố phường Hà Nội trong một quang cảnh hết sức
nhốn nháo, hỗn tạp và xô bồ qua câu chuyện Cơm đầu ghế. Phố xá hiện lên
qua những quán hàng với nhiều dạng thức khác nhau, một không gian thật đặc
biệt dành cho những người nghèo ở cái thời buổi bấy giờ “bấy giờ là phó Phó
Đức Chính, gần cổng nhà máy điện Yên Phụ, có một dày hàng cơm. Cơm đầu
ghế, quán hàng gian ngoài bày cái chõng tre, đôi khi là tấm cánh cửa được
ngả xuống, xếp gạch làm mễ. Cái chõng, cái ghế dài chơ chỏng. Người ăn
cơm xúm xít chen chúc trong nhà, ngoài hè...”. Qua câu chuyện Cơm đầu ghế
là đó là không gian của quán hàng cơm. Dưới cái nhìn chân thực Tô Hoài đã
21
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn23 of 56.
22
Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn24 of 56.
Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn25 of 56.
xong đó đều là những người cùng cảnh ngộ họ đều đến đây để kiếm sống, bởi
vậy xem ông làm xiếc người ta cũng chỉ cho được một đến hai đồng chinh
như là của bố thí cho một kẻ khốn cùng “Một đồng chinh đây. Rút đinh ra
ghê bỏ mẹ ”
Hay với mẩu chuyện Trèo me trèo sấu đó là những kiếp trẻ em đi trộm
me trộm sấu đem bán để sinh sống hàng ngày, có khi nuôi cả nhà nhưng rồi
những cảnh đau lòng lại xảy ra. Khi buổi sáng ở những gốc cây, giữa những
đám lá đám quả rụng “có cành cây gãy bê bết máu, những vũng máu đã khô
đen. Không biết người ngã gãy chân hay vỡ đầu mà lũ trẻ đã khiêng nhau đi
từ trong đêm” cảnh tượng đau thương ấy như ám ảnh người đọc bởi những
kiếp nghèo ngay cả ở trong thành phố.
Có một Hà Nội buồn thương nghèo khó bởi những kiếp người như thế
thì cũng có một Hà Nội đang đổi thay để hòa nhịp với cuộc sống mới cái mới
xuất hiện nhưng cái cũ chưa hẳn đã mất đi, tất cả đã tạo nên một Hà Nội pha
tạp nhiều giá trị văn hóa. Qua những mẩu chuyện như Cái tàu điện, Chiếc xe
đạp, hay Chiếc xe cút kít… sự xuất hiện của Cái tàu điện đã làm cho phố
phường trở nên nhộn nhịp hơn, đời sống của người Hà Nội tất bật hơn, cái tàu
điện chạy sớm làm náo động cả phố xá. Điều ấy đã thể hiện Hà Nội đã bắt nhịp
với một cuộc sống mới, đã có sự đổi thay xong đồng nghĩa với đó đã mất đi bãi
đê để đá bóng, vật nhau đánh nhau và đúc dế vì những nơi ấy đã nhường chỗ
cho đoàn tàu. Nhưng trong cái không gian lẫn đâu đây vẫn còn những người
nghèo khổ “trên các quãng tàu tránh từ đầu ô đi ra, mỗi khi tàu đỗ tiếng ăn
mày kêu xin, tiếng hát xẩm lại thảm thiết rên rỉ”, rồi có những con người trở