ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ NGỌC THƯƠNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. CHU THỊ TRANG VÂN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bộ luật hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự
Người chưa thành niên
Trách nhiệm hình sự
Toà án nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................1
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
...........................................................................................................................1
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.......................................................................................................1
Tôi xin chân thành cảm ơn!...............................................................................1
NGƯỜI CAM ĐOAN.......................................................................................1
Dương Thị Ngọc Thương..................................................................................1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ở nước ta trong những năm qua, hệ thống pháp luật và việc thực thi
pháp luật đã có những tác động rõ rệt đối với đời sống của toàn xã hội.
Những quy định trong Hiến pháp, trong các luật và văn bản dưới luật luôn
đề cao tính nhân đạo và nhân văn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà
nước. Hệ thống pháp luật phục vụ cho việc thực thi các quyền và lợi ích cơ
lớn, họ là sức sống hiện tại và tương lai của dân tộc. Thanh niên luôn là lực
lượng chiến lược mà mỗi quốc gia, dân tộc quan tâm đầu tư, phát triển. Sinh
thời, Bác Hồ đã dạy “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là
do các thanh niên” và tương lai đất nước “Việt Nam có được vẻ vang sánh
vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần rất
lớn ở công học tập của các cháu”.
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã xác
định mục tiêu chung “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu
lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; có đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì
cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri
thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành
những công dân tốt của đất nước…”.
Trong phạm vi cả nước thực tế vấn đề NCTN phạm tội đã gióng lên
những hồi chuông cảnh tỉnh đáng báo động. Cụ thể, theo số liệu thống kê của
Bộ Công an trong năm 2010, toàn quốc có 13.572 đối tượng phạm tội là thanh
thiếu niên, tăng nhiều lần so với những năm trước về số lượng phạm tội và cả
2
các vụ trọng án. Về độ tuổi, theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội thì tình hình tội phạm do NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60%;
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm khoảng 32% và dưới 14 tuổi chiếm
khoảng 8% trong tổng số các vụ phạm tội do NCTN và trẻ em thực hiện.
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn của đất nước, là trung tâm
kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa của khu vực phía Nam, với dân số trên 8
Về sách bình luận khoa học, sách chuyên khảo, sách giáo trình có các
nghiên cứu: “Chương XVIII – Những đặc thù về TNHS đối với NCTN phạm
tội” trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2007, TS. Trịnh Quốc Toản, TS. Hoàng Văn Hùng;
“Chương XVI – TNHS đối với NCTN phạm tội”, trong sách giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (Tập thể Tác giả do GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên).
Đối với các công trình dưới dạng bài viết được đăng trên các tạp chí
khoa học pháp lý có thể kể đến các công trình như: bài viết “Tư pháp hình sự
đối với NCTN; Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm
học và so sánh luật học (Phấn thứ I, những khía cạnh pháp lý hình sự)” của
GS.TSKH Lê Văn Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 20-10/2004; ThS. Nguyễn Thanh Trúc có bài viết “Biện pháp miễn
chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với NCTN phạm
tội” trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 20 (136) tháng 12/2008.
Một số đề tài luận văn thạc sĩ cũng đã khai thác nghiên cứu các khía
cạnh của vấn đề về khoa học Luật hình sự hoặc Tội phạm học như: đề tài
“TNHS của NCTN phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam” của Trần Văn
Dũng, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003; đề tài “Bảo đảm quyền con
người của NCTN phạm tội bằng các quy định về hình phạt trong Luật hình
sự Việt Nam” của Lê Vũ Huy, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2011.
4
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đóng góp không nhỏ vào hệ
thống khoa học pháp lý đối với NCTN nói chung cũng như khoa học pháp lý
hình sự về NCTN nói riêng. Các nghiên cứu đó hoặc tiếp cận dưới góc độ
khoa học pháp lý chung, hoặc khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự
hoặc Tội phạm học. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đề cập có hệ
sự Việt Nam và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu TNHS của NCTN phạm
tội, luận văn có một số giới hạn về phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, về địa bàn nghiên cứu Tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn xét xử trong vòng 5
năm từ năm 2007 đến năm 2011.
Thứ hai, về số liệu thống kê dựa theo số liệu của VKSND thành phố
Hồ Chí Minh. Tác giả giới hạn số liệu thống kê về tình hình các vụ án do
NCTN thực hiện được đưa ra xét xử trên 24 Quận Huyện của thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn 5 năm (2007 – 2011). Số liệu được Tác giả thu thập từ
VKSND thành phố Hồ Chí Minh.
4. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài
là Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác Lê Nin và Chủ nghĩa duy
vật lịch sử, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề thanh niên,
giáo dục thanh niên.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu đặc thù, phổ
biến của khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật hình sự nói riêng như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử, nghiên cứu số
liệu,... nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
Từ thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh việc nghiên
cứu đã góp phần hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam và là cơ
Một là, theo từ điển tiếng Việt “trách nhiệm” có nghĩa là điều phải
làm, phải gánh vác hoặc phải nhận về phía mình.
Hai là, “trách nhiệm” là hậu quả bất lợi do hành vi của một người gây
ra, vi phạm bổn phận, nghĩa vụ và người đó phải gánh chịu trước người khác,
trước Nhà nước.
Trách nhiệm pháp lý được đặt ra tùy theo tính chất vi phạm của hành vi
đó đối với từng nhóm quan hệ xã hội khác nhau được pháp luật bảo vệ, bao
gồm các nội dung như: trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm dân sự, TNHS v.v… Dưới góc độ khoa học pháp lý “Trách nhiệm
pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi của một chủ thể vi phạm pháp luật phải
gánh chịu và được thể hiện bằng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước được pháp luật quy định” [65, tr.41]
1.1.2 Trách nhiệm hình sự và các đặc điểm cơ bản của trách
nhiệm hình sự
Thuật ngữ “TNHS” không được ghi nhận dưới dạng định nghĩa nhưng
tinh thần của chế định TNHS lại được ghi nhận trực tiếp tại Điều 2, Điều 8 và
Điều 16 BLHS và gián tiếp như là sự liên kết xuyên suốt các quy định của phần
chung và phần các tội phạm trong BLHS hiện hành. Theo quy định của pháp luật
8
hình sự, một người chỉ có thể phải chịu TNHS khi có đầy đủ cơ sở và những
điều kiện bao gồm cả chủ quan và khách quan. Cơ sở của TNHS được hiểu là
căn cứ buộc một người vi phạm pháp luật hình sự phải chịu TNHS. Việc nghiên
cứu chính xác và nhận thức đúng đắn cơ sở của TNHS sẽ góp phần triển khai tốt
chính sách hình sự và các nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam.
Với pháp luật Việt Nam việc áp dụng chính xác TNHS đối với người
phạm tội có ý nghĩa và mục đích rất quan trọng mang tính chất xã hội “…
nhằm từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới thủ tiêu tình trạng phạm tội và
những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm…” [42, tr 12]
về cơ sở của TNHS sẽ giúp chúng ta đi vào phân tích hai vấn đề cơ sở triết
học và cơ sở pháp lý của TNHS đối với NCTN phạm tội.
a. Về cơ sở triết học
Các nhà làm luật nước ta buộc người thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật phải chịu TNHS về hành vi tội phạm mà họ đã thực hiện, thông qua việc
phân tích về cơ sở triết học của TNHS đối với người phạm tội. Qua đó, giải
quyết mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm “Cơ sở của mọi trách nhiệm kể
cả trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý trong đó có TNHS là sự tự do
của con người. Con người phải chịu trách nhiệm khi có tự do” [33, tr 90]
Trách nhiệm chỉ được đặt ra khi con người có tự do và ngược lại tự do là
cơ sở của trách nhiệm. Hành vi của con người không phải là sự phản ánh trực
diện đối với hoàn cảnh mà nó là sự phản ứng thông qua sự suy xét của lý trí và
sự quyết định của ý chí. Chính vì thế, khi đặt trong cùng một hoàn cảnh, chịu sự
tác động như nhau của những điều kiện bên ngoài nhưng mỗi người khác nhau
lại có cách xử sự khác nhau. Trong trường hợp họ lại chọn cách xử sự xâm hại
đến khách thể được luật hình sự bảo vệ thì họ phải chịu TNHS về chính hành vi
phạm tội của mình. Vì vậy, cơ sở để quy kết TNHS đối với người phạm tội chính
là do họ đã thể hiện sự tự do trong việc lựa chọn cách hành xử trái với quy định
pháp luật, trong khi họ vẫn có thể lựa chọn những cách hành xử khác phù hợp
với lợi ích của bản thân và lợi ích của cộng đồng, xã hội.
10
b. Về cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý của TNHS là những căn cứ có tính chất bắt buộc
chung do luật hình sự quy định các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải
dựa vào đó mới có thể đặt vấn đề TNHS đối với người đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội.
Theo tinh thần của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: “Những gì
có thể là cơ sở của TNHS đối với việc áp dụng hình phạt cũng như việc áp
với sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đời sống tâm sinh lý của NCTN cũng
bắt đầu có những biến đổi sâu sắc. NCTN chịu sự tác động chủ yếu của môi
trường sống và họ chịu sự chi phối có tính chất quyết định bởi nền giáo dục
của gia đình, nhà trường và xã hội. Chính vì vậy, có thể kết luận dưới góc độ
tâm sinh lý, NCTN là người chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam theo hệ thống một số văn bản pháp
luật quy định về khái niệm NCTN cụ thể tại Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005
“Người từ đủ từ 18 tuổi trở lên là người thành niên…”, Điều 161 Bộ luật Lao
động năm 2012 “Người lao đồng chưa thành niên là người lao động dưới 18
tuổi”, Điều 68 BLHS hiện hành “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi…”.
Việc xác định NCTN theo pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với các
Công ước của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, khái niệm NCTN trong pháp luật
Việt Nam không đồng nhất với khái niệm trẻ em như các Công ước của Liên
hợp quốc. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Điều 1
quy định“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, quy định này không
trái với các Công ước của Liên hợp quốc vì tại Công ước về quyền Trẻ em.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam khái niệm NCTN và trẻ em là hai khái
niệm khác biệt, NCTN là người chưa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là người chưa đủ
16 tuổi. Như vậy, thông qua các quy định trong các Công ước của Liên hợp
quốc và các văn bản pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể kết luận: “NCTN là
người chưa đủ 18 tuổi”.
12
b. Đặc điểm của người chưa thành niên
Lối sống, đạo đức và nhân cách của mỗi người được hình thành, phát
triển từ tuổi thơ và định hình rõ nét khi bước vào lứa tuổi chưa thành niên.
Độ tuổi chưa thành niên hàm chứa trong nó rất nhiều những yếu tố vừa ghi
nhận, vừa loại bỏ, vừa định dạng, vừa biến động trong nhận thức, tâm lý,
Vấn đề xác định tuổi theo quy định của luật hình sự là tính tuổi tròn,
tuổi đủ, nghĩa là phải đủ ngày, đủ tháng. Ví dụ: NCTN là người chưa đủ 18
tuổi, như vậy 17 tuổi, 11 tháng 29 ngày vẫn được xem là người chưa đủ 18
tuổi vẫn là NCTN.
Việc tính tuổi của NCTN sẽ căn cứ trên những giấy tờ có ghi nhận ngày
sinh mà trước hết chính là giấy khai sinh của họ. Tuy nhiên, trên thực tế có
những trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị
cáo vì những lý do như: bị can, bị cáo không có giấy khai sinh, không có giấy
tờ tùy thân,… Điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng
trong việc xác định tuổi của bị can, bị cáo. Chính vì thế, Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động,
thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT –
VKSTC – TANDTC – BCA – BTP – BLĐTBXH ngày 12/7/2011 về hướng
dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là
NCTN, theo đó tuổi chịu TNHS sẽ được tính dựa vào Điều 6 của Thông tư
liên tịch với những quy định rất cụ thể về xác định tuổi của bị can, bị cáo:
- Trong trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác
định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị
can, bị cáo.
- Trong Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không
xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì phải lấy tháng cuối cùng và
ngày cuối cùng của tháng đó trong quý làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trong trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối
14
năm, nhưng không xác định được ngày tháng thì phải lấy ngày 30 tháng 6
(Nửa đầu năm) hoặc ngày 31 tháng 12 (nửa cuối năm) làm ngày sinh của
bị can, bị cáo;
người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Bên
cạnh đó, Điều 68 của BLHS cũng quy định giới hạn ở ngưỡng trên để xem xét
theo hệ thống áp dụng tư pháp“NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội
phải chịu TNHS theo những quy định của chương này, đồng thời theo những
quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của
chương này”. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa NCTN phạm tội
“NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS là tội phạm”.
Thứ ba, cơ sở của pháp lý của TNHS của NCTN phạm tội được quy
định trong BLHS Việt Nam cụ thể được quy định tại chương X của BLHS
hiện hành và các văn bản pháp luật của Nhà nước về các nội dung liên quan
đến NCTN phạm tội.
Thứ tư, NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của
họ trái với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. NCTN có quyền tự do
lựa chọn cách xử sự của mình cho phù hợp với lợi ích của bản thân mình và
lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, họ lại chọn cách xử sự xâm hại đến
khách thể được luật hình sự bảo vệ thì trong trường hợp này họ phải chịu
TNHS về chính hành vi phạm tội của mình gây ra.
Thứ năm, TNHS của NCTN mang tính chất công, chỉ có Nhà nước
mới có quyền buộc NCTN phạm tội phải chịu TNHS trước Nhà nước, bản
án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án là cơ sở pháp lý quan trọng
nhất để xác nhận NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật
hình sự quy định là bị cáo chính thức bị coi là “tội phạm” và“có tội”. Theo
nguyên tắc hiến định quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9
16
BLTTHS năm 2003 quy định “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án
hội được quy định trong luật hình sự là tội phạm thì họ phải gánh chịu TNHS
trước Nhà nước. Tính chất đặc thù TNHS của NCTN phạm tội thể hiện ở tính
chất, mức độ có giảm nhẹ hơn so với TNHS của người thành niên phạm tội,
xét về hình thức TNHS của NCTN phạm tội thì căn cứ vào phần quy định
chung của BLHS thì hình thức TNHS của NCTN phạm tội còn được áp dụng
ở một chương riêng biệt, độc lập đó là chương X của BLHS hiện hành. Việc
này xuất phát từ tính đặc biệt của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội. Nội dung này cũng xuất phát từ chính sách nhân đạo Nhà nước và phù
hợp với những quy định tại các Điều ước, các Công ước quốc tế.
1.3 SƠ LƯỢC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.3.1 Giai đoạn từ khi sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985
Cách mạnh tháng 8 năm 1945 thành công đã mở ra một thời kỳ mới của
dân tộc Việt Nam, ngày 02/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Từ năm 1945 đến năm
1959, nước ta vẫn sử dụng các văn bản pháp luật được ban hành trong chế độ
thuộc địa trước năm 1945. Trong Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ
tịch chính phủ lâm thời Việt Nam tại Điều 1 quy định: “Cho đến khi ban hành
những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện
hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những
luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này”.
Cùng với việc duy trì pháp luật của chế độ cũ như một giải pháp cấp
thiết, chính quyền cách mạng đã khẩn trương xây dựng pháp luật của chế độ
mới nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nước.
Nguồn luật hình sự chủ yếu là các Sắc lệnh với số lượng tương đối lớn trên
nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, văn hoá xã hội. Giai đoạn 1945-1959
có sự xuất hiện và phát triển của hệ thống án lệ mới.
18
dục thiếu niên nhi đồng, kém kỷ luật, lêu lổng, phạm trộm cắp, phạm pháp
luật nhiều lần, thông tư cũng xác định nguyên nhân là do những thiếu sót
trong việc giáo dục của gia đình và nhà trường, do ảnh hưởng của những thói
hư tật xấu còn sót lại của xã hội cũ, do ảnh hưởng của những phần tử xấu. Từ
việc xác định nguyên nhân trẻ hư hỏng thấy được chính sách hình sự của Nhà
nước ta trong giai đoạn này thừa nhận sự thiếu sót của gia đình, nhà trường và
xã hội cũ. Việc đưa các em vào trường giáo dục cũng căn cứ vào lứa tuổi và
mức độ phạm pháp của các em, tổ chức thành 2 loại trường: loại trường cho
các em từ 9 đến 13 tuổi và loại trường cho các em từ trên 13 đến 17 tuổi. Nhà
nước sử dụng chính sách khoan hồng trong việc không áp dụng hình phạt tù
đối với trẻ hư hỏng mà đưa các em vào các trường giáo dục.
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay
Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của
chúng ta được ban hành. Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã
được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. BLHS
năm 1985 ra đời có vị trí rất quan trọng, nó trở thành công cụ sắc bén của Nhà
nước chuyên chính vô sản để bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa tội
phạm. Bộ luật bao gồm 12 chương với 280 Điều luật. Về chính sách hình sự
đối với NCTN phạm tội, BLHS năm 1985 dành riêng một Chương VII “Những quy định đối với NCTN phạm tội” với 11 điều từ Điều 57 đến Điều 67,
thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta đối với NCTN. Cụ thể tại
Điều 59 BLHS năm 1985 quy định: “Việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN
chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và
trở thành công dân có ích cho xã hội…”. Điều này đã thể hiện việc truy cứu
TNHS đối với NCTN không phải nhằm để trừng phạt họ mà chủ yếu là cải tạo,
20