VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƢƠNG THỊ CẨM NHUNG
TỘI PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƢƠNG THỊ CẨM NHUNG
TỘI PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM NĂM 2015
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHẠM VĂN TỈNH
2.2. Sự thể hiện nội dung tội phạm hóa tại phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự
Việt Nam năm 2015 ..................................................................................................41
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN HÓA NHỮNG
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI PHẠM ................68
3.1. Đánh giá khái quát quá trình tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm
2015 ...........................................................................................................................68
3.2. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự năm
2015 về tội phạm. ......................................................................................................75
KẾT LUẬN ..............................................................................................................84
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1.
Quá trình tội phạm hóa thể hiện trong Chương XIV
43
2.2.
Quá trình tội phạm hóa thể hiện trong Chương XV
44
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và quan trọng để đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nhiệm vụ của pháp luật hình sự là nhằm bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng
giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi
phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ theo pháp luật, đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm.
Bộ luật hình sự (quy ước là BLHS) nước ta được ban hành lần đầu tiên vào
ngày 27/6/1985. Trải qua thời gian 32 năm, BLHS nước ta đã qua nhiều lần sửa đổi,
bổ sung và thay thế bằng BLHS khác nhau. Cụ thể: BLHS năm 1985 được sửa đổi
bổ sung 5 lần vào những khoảng thời gian như 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992,
10/5/1997 và lần thứ năm trong hai kỳ họp của năm 1999 gọi là Bộ luật hình sự
năm 1999; BLHS 1999 được ban hành ngày 21/12/1999 và sau đó được sửa đổi bổ
sung 2 lần vào ngày 19/6/2009 và ngày 27/11/2015 được gọi là BLHS 2015; BLHS
2015 tuy chưa có hiệu lực thi hành nhưng cũng đã trải qua 1 lần sửa đổi bổ sung vào
ngày 20/6/2017.
Có thể thấy, trong thời gian qua, pháp luật hình sự Việt Nam, cụ thể là Bộ luật
hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đã đóng vai trò vô cùng quan trọng, có
tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hướng đến việc
bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. BLHS 1999 đã thể hiện
được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm,
tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, truy tố, xét xử
các hành vi phạm tội, góp phần kiểm soát và kiềm chế tình hình tội phạm, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trước những thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, việc xuất hiện
nhiều mối quan hệ xã hội mới, cũng như nhiều tội phạm mới với phương thức phạm
Trên cơ sở những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách hình
sự nói chung, nghiên cứu quy định trong BLHS hiện hành, cũng như BLHS năm
2015 chúng tôi thấy còn những khoảng trống, bất cập về lý luận. Quá trình tội phạm
2
hóa được thực hiện trong thời gian qua cũng cho thấy chủ yếu mang tính đối phó
với tình hình tội phạm diễn ra trên thực tế mà chưa có được tính dự báo trong đó.
Điều này có thể thấy được thông qua việc BLHS năm 1985 sau khi được sửa đổi bổ
sung năm 1991 thì lại tiếp tục được sửa đổi bổ sung ngay những năm sau đó. Hoặc
gần đây nhất là BLHS năm 2015 vừa mới thông qua, chưa có hiệu lực thi hành đã
phải tạm hoãn thi hành để sửa đổi, bổ sung ngay sau đó.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề tội phạm hóa theo quy định của BLHS năm 2015,
tình hình áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua, từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện BLHS là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện
chính sách hình sự, hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung.
Với nhận thức như vậy, đề tài: “Tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 2015” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội phạm hóa là một trong những chính sách về tội phạm và hình phạt có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Thời gian qua trong khoa học pháp lý hình sự
đã có một số công trình nghiên cứu riêng về chính sách này. Có thể kể đến một số
công trình tiêu biểu như: Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự
trong giai đoạn hiện nay của GS – TSKH Đào Trí Úc và tập thể tác giả (1994), Nhà
xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề
cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), PGS – TSKH Lê Cảm (2005),
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự
dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2002) của PGS, TS. Hồ Trọng
Ngũ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tội phạm hoá và phi tội phạm hoá
Chính vì vậy việc nghiên cứu chính sách hình sự trong lĩnh vực “Tội phạm hóa
trong Bộ luật hình sự năm 2015” là thực sự cần thiết có nghĩa về lý luận và thực
tiễn đặc biệt là trong điều kiện đổi mới hiện nay ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần hoàn thiện việc tội phạm hóa trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
4
- Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm hóa như khái
niệm, hình thức, mức độ và các yếu tố làm cơ sở cho tội phạm hóa. Xác định được
vị trí, vai trò của quá trình này trong chính sách hình sự của Nhà nước ta;
- Làm sáng tỏ thực trạng tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự năm 2015, có kết
hợp xem xét sự biến đổi của đời sống xã hội ;
- Đưa ra được những kiến nghị góp phần hoàn thiện nội dung tội phạm hóa
của Bộ luật hình sự 2015.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu và xác định sự phù hợp giữa quy định của pháp luật về tội phạm với
đòi hỏi của thực tế đời sống xã hội, cũng như với tư tưởng lập pháp hình sự mà
Đảng ta đã đề ra ở thời kỳ hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, đề tài được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự
và tố tụng hình sự;
- Về thời gian, Luận văn sử dụng chất liệu nghiên cứu chính là BLHS 1999,
sửa đổi bổ sung 2009 và BLHS 2015;
hình tội phạm của nước ta trong thời gian vừa qua để làm sơ sở phân tích, nghiên
cứu nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số
phương pháp tiếp cận khác như: Lịch sử, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch... đồng thời
sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước như: Bộ luật Hình sự các năm 1985,
1999, 2015, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, các
Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Chương trình hành động... làm tài liệu nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Sự phát triển của toàn cầu hóa và hội nhập góp phần làm cho nền kinh tế Việt
Nam ngày càng phát triển. Bên cạnh những tác động tích cực đối với kinh tế, xã hội,
quá trình hội nhập quốc tế còn làm nảy sinh những tiêu cực trong đời sống xã hội,
trong đó có sự gia tăng của các loại tội phạm mới, có tính chất nguy hiểm cho xã
hội cao. Chính những tác động về mặt xã hội này đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu
để sửa đổi Bộ luật hình sự Việt Nam nhằm mục đích điều chỉnh một cách tốt nhất,
triệt để nhất những hành vi gây nguy hiểm đến xã hội và quyền con người.
6
6.1. Ý nghĩa lý luận
Bộ luật hình sự là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc quản lý xã hội,
phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần quan trọng trong việc giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức
và công dân, góp phần hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để đảm bảo được hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, trong đó phải tính đến việc đánh giá đúng đắn và xác định chính xác
và cụ thể những hành vi nguy hiểm cho xã hội vì thế phải đòi hỏi phải phân hóa cao
độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo
dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quá
trình sửa đổi, bổ sung để từng bước hoàn thiện Bộ luật hình sự thường được thực
bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ và củng cố các quan hệ xã hội mới và tiến bộ. Để quản lý xã
hội bằng pháp luật thì bất kỳ một chính sách pháp luật (quy ước là CSPL) nào do
nhà nước soạn thảo ra đều nhất thiết nhằm vào một hoặc nhiều mục đích nhất định
căn cứ vào hướng triển khai chính sách tương ứng trong đời sống xã hội. Ở nước ta,
trong khoa học Luật hình sự các vấn đề của chính sách hình sự (quy ước là CSHS)
từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học và các
nhà hoạt động thực tiễn và hiện có nhiều quan niệm khác nhau về CSHS.
- Có quan điểm cho rằng chính sách pháp luật là chính sách xây dựng và sử
dụng pháp luật, và một trong những bộ phận quan trọng của chính sách pháp luật là
chính sách hình sự [21, tr.120 – 121] . Xuất phát từ quy định tại Điều 4 của BLHS,
trách nhiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm là trách nhiệm đặc biệt của Cơ quan
công an, Viện kiểm sát, Tòa án. Đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân. Công tác đấu tranh phòng
và chống vi phạm nói chung, tội phạm nói riêng có nền tảng vững chắc là chính
sách kinh tế - xã hội của Nhà nước. Vì vậy, việc đấu tranh nhằm phòng ngừa và
chống tội phạm đòi hỏi phải có nhiều hình thức và biện pháp, trong đó có những
biện pháp cưỡng chế và pháp lý của các cơ quan chuyên trách.
Trên cơ sở đó tác giả cho rằng chính sách hình sự là chính sách xây dựng và
sử dụng pháp luật hình sự. Chính sách hình sự là một bộ phận quan trọng trong
chính sách pháp luật, đồng thời là một bộ phận của chính sách phòng và chống tội
phạm. Đó là đường lối, chiến lược, sách lược và những nguyên tắc do Nhà nước đề
ra trong việc xây dựng và sử dụng các biện pháp pháp lý hình sự để đấu tranh chống
8
tội phạm.
Chính sách xây dựng và sử dụng pháp luật hình sự được gọi là chính sách hình
sự, trước hết được thể hiện thông qua hoạt động xây dựng pháp luật mà kết quả
chính là việc ban hành các văn bản và quy phạm pháp luật. Đây là một lĩnh vực
bảo đảm cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả trên tất cả các
phương diện chính trị, xã hội, pháp lý và kinh tế được ghi nhận trong các văn bản
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Quan điểm khác cho rằng chính sách hình sự liên quan đến các chính sách
khác như chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách tố tụng hình sự, chính sách
pháp luật thi hành án hình sự nên nghiên cứu về chính sách hình sự phải bắt đầu từ
việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm.
Như vậy hai quan điểm sau có phần đồng nhất khi cho rằng suy cho cùng
chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật
tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự đều nhằm mục đích cuối
cùng là đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Qua một số quan điểm trên có thể thấy hiện nay trong lý luận còn chưa có sự
thống nhất hoàn toàn về khái niệm chính sách hình sự. Nhưng nhìn chung các quan
điểm, trường phái, ý kiến đều có cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định. Vấn đề ở đây
không có sự khác biệt trong nhận thức nội dung về chính sách hình sự mà là ở các góc
độ, cách tiếp cận rộng hay hẹp vấn đề nghiên cứu. Hiểu theo nghĩa rộng thì chính sách
hình sự là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm của
Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có
hiệu quả trên mọi phương diện và được ghi nhận trong các văn bản của Đảng, pháp luật
của Nhà nước. Hiểu theo nghĩa hẹp chính sách hình sự là chính sách pháp luật hình sự
(luật nội dung), là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng nhà nước ta về tội phạm và
hình phạt, thể hiện trong quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự và nâng cao ý
thức trình độ luật pháp của nhân dân. Mặc dù khái niệm về chính sách hình sự được
tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến quan niệm về chính sách hình sự khác
nhau chủ yếu về phạm vi rộng, hẹp. Tuy vậy, khi đề cập đến một trong những hình
thức thể hiện chủ yếu và quan trọng của chính sách hình sự thì hầu hết các nhà
nghiên cứu trong giới nghiên cứu khoa học Luật ở Việt Nam đều thừa nhận đó là sự
sáng tạo pháp luật hình sự, đó là quá trình lập pháp hình sự.
10
11
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, sự ghi
nhận khái niệm tội phạm chưa hoàn toàn thống nhất với nhau.
Bên cạnh những đặc điểm truyền thống được ghi nhận giống như trong khái
niệm tội phạm của BLHS của nhiều nước trên thế giới là: Tính nguy hiểm cho xã
hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự thì trong khái niệm tội phạm của BLHS
Việt Nam năm 1999 các nhà làm luật còn quy định thêm tính có năng lực trách
nhiệm hình sự của chủ thể như là đặc điểm của tội phạm. Có thể nói đây là đặc điểm
chưa từng được quy định trong luật hình sự của nhiều nước.
Theo PGS.TS Trần Văn Độ: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội ở
mức độ cao hơn các vi phạm pháp luật khác” [12, t.34]
Theo quy TS Phạm Văn Lợi thì tội phạm được định nghĩa như sau: “Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện có lỗi và bị Bộ luật hình sự quy
định phải chịu hình phạt” [11, t.136]
Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) [7, t.297]
Trong các giáo trình tại các cơ sở đào tạo như Trường Đại học luật Hà Nội,
Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa luật Đại học Huế cũng có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm tội phạm. Có giáo trình cho rằng tội phạm có 4 đặc
điểm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải
chịu hình phạt. Nhưng cũng có giáo trình cho rằng, tính phải chịu hình phạt không
phải là một đặc điểm của tội phạm và đồng thời bổ sung thêm một số đặc điểm khác
như năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi.
Như vậy, từ các định nghĩa về tội phạm tham khảo trên, có thể thấy khái niệm
về tội phạm được thể hiện dưới hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát
về tội phạm. Nếu theo khái niệm đầy đủ, thì tội phạm được đưa ra với các dấu hiệu:
phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự ghi nhận và bảo vệ.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi
ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ khác
nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả
về nội dung lẫn hình thức. Thực tế xã hội hiện nay đã xuất hiện những hình thức
biến tướng mới của tội phạm. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về nguyên nhân và điều
13
kiện hình thành tội phạm, phương thức và thủ đoạn hoạt động của tội phạm cũng
như đưa ra được các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn được các quốc
gia ưu tiên quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
1.1.1.2. Khái niệm Tội phạm hóa
Thực tiễn đã chứng minh rằng khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu
tranh với tội phạm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải tính đến việc đánh
giá đúng đắn và xác định càng chính xác, càng cụ thể những hành vi nguy hiểm cho
xã hội. Vì thế đòi hỏi phải phân hóa cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và
đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời (trong
những giới hạn cho phép của hoạt động lập pháp) những quy định về hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Và một trong những xu hướng đó là quá trình tội phạm hóa.
Tội phạm hóa (criminalisation) là việc thông qua một hình thức văn bản pháp
lý hình sự, nhà làm luật qui định hành vi nào đó là tội phạm. Trong khoa học Luật
hình sự nước ta hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội phạm hóa:
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì tội phạm hóa là:
“Xác định trong luật hành vi nhất định là tội phạm”. [10]
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì cho rằng: “Tội phạm hoá là việc ghi nhận về mặt
lập pháp trong luật hình sự một hành vi nào đó là tội phạm và quy định biện pháp
cưỡng chế về hình sự tương ứng đối với việc thực hiện hành vi đó” [8, tr.12]
GS.TS Đào Trí Úc cho rằng: “Việc qui định tội được khoa học luật hình sự gọi
pháp hình sự.
- Hành vi có thể đã được điều chỉnh bằng pháp luật hình sự nhưng nay do đòi hỏi
của thực tế nên cần mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự.
- Hành vi có thể đã được điều chỉnh bằng các ngành luật khác nhưng sự điều
chỉnh đó chưa đủ mạnh nên cần thiết phải được điều chỉnh bằng biện pháp hình sự
mới đạt hiệu quả.
Như vậy, bản chất của tội phạm hóa chính là việc ghi nhận trong pháp luật
hình sự một hành vi trước đây chưa phải là tội phạm nhưng nay do tính nguy hiểm
đáng kể của hành vi nên phải quy định nó là tội phạm để xử lý bằng biện pháp hình
sự. Tội phạm hóa chính là sự thể hiện rõ nét mục đích của nhà làm luật, căn cứ của
luật và xu hướng phát triển của chính sách hình sự.
15
Bằng việc tội phạm hóa nhà làm luật cho chúng ta thấy, từng giai đoạn phát
triển tương ứng của xã hội, nếu không quy định trách nhiệm hình sự đối với loại
hành vi nào đó (mà trong giai đoạn trước đây chỉ bị coi là hành vi trái đạo đức) hoặc
nếu chỉ tiếp tục áp dụng chế tài pháp lý của ngành luật tương ứng khác ít nghiêm
khắc hơn luật hình sự đối với loại hành vi nào đó (mà trước đây chỉ bị coi là vi
phạm pháp luật) thì sẽ không còn đủ sức ngăn chặn đối với loại hành vi đó nữa; mặt
khác, loại hành vi nào đó mặc dù mới xuất hiện và trước đây chưa được quy định là
vi phạm pháp luật trong bất cứ ngành luật nào, nhưng do tính nguy hiểm cho xã hội
cao hơn cả và tương đối phổ biến hơn cả mà việc thực hiện loại hành vi đó bị lên án
về mặt đạo đức và bị dư luận xã hội phản ứng gay gắt hơn cả nên vì vậy, loại hành
vi đó phải bị tuyên bố là tội phạm.
Ví dụ như trong BLHS Việt Nam năm 1999, nhà làm luật đã bổ sung thêm một
loạt các cấu thành tội phạm mới mà trong BLHS năm 1985 trước đây chưa quy định
như: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171), Tội vi phạm quy định về
cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (Điều 179), Tội vi phạm quy định
trình tội phạm hóa phải tham khảo có chọn lọc các thành tựu tiên tiến của khoa học
pháp lý hình sự trên thế giới, đặc biệt là trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế của
nước ta hiện nay.
1.1.2 . Các hình thức tội phạm hóa
- Một trong những hình thức của tội phạm hóa là quy định tội danh mới. Tội
danh mới là tội danh mà hành vi cấu thành của tội phạm đó chưa từng được quy
định trong điều luật nào của pháp luật hình sự trước đây. Ví dụ như so với BLHS
năm 1985 thì trong BLHS năm 1999 xuất hiện thêm một số tội danh mới như: tội
phá thai trái phép (Điều 243); tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có
(Điều 251), các tội phạm trong lĩnh vực máy vi tính (các điều 224-226)…
Đây có thể là những hành vi mới xuất hiện do chuyển biến của xã hội nhưng
để bảo vệ các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì nhà làm luật xem xét điều
chỉnh các hành vi này bằng biện pháp hình sự.
Đó cũng có thể là những hành vi trước đây đã xảy ra nhưng được điều chỉnh
bằng các biện pháp phi hình sự khác, bởi mức độ và tính chất nguy hiểm của hành
17
vi chưa tới mức phải điều chỉnh bởi pháp luật hình sự, nhưng trong tình hình mới
nhà làm luật xem xét thấy cần thiết phải tiến hành tội phạm hóa.
- Phân hóa tội danh trước đây thành các tội danh mới: Trước đây có những tội
có cấu thành tổng quát, quy định những dấu hiệu mang tính khái quát cao và được
áp dụng cho một nhóm khách thể rộng. Vì cấu thành có tính khái quát cao nên các
tội này gặp khó khăn khi áp dụng trên thực tế vào từng trường hợp cụ thể và có thể
dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, việc phân hóa các tội có cấu thành tổng
quát thành các tội có cấu thành cụ thể hơn sẽ làm tăng thêm sự chính xác khi xác
định cụ thể phạm vi điều chỉnh của điều luật đó, nên hình thức này cũng có thể được
xem là một hình thức tội phạm hóa.
- Một hình thức nữa của tội phạm hóa đó là mở rộng phạm vi xử lý bằng biện
1.2.1 . Các căn cứ, nguyên tắc tiến hành tội phạm hóa
1.2.1.1 . Các căn cứ tội phạm hóa
Theo quan điểm của tác giả L.I.Belyaeva về khái niệm các căn cứ tội phạm
hóa: “Các căn cứ tội phạm hóa là những quan điểm cơ bản mang tính chỉ đạo để nhà
làm luật tiến hành quá trình tội phạm hóa trong những điều kiện lịch sử cụ thể.”.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm này, như vậy, căn cứ của tội phạm hóa là những gì
đã dẫn đến nhu cầu cần thiết phải thay đổi pháp luật hình sự. Và để xác định một
hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội phạm, làm cơ sở cho việc tội phạm
hóa, nhà làm luật bao giờ cũng phải dựa vào những căn cứ sau:
Thứ nhất, hành vi phạm tội là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội tức là hành vi đó xâm phạm, đe dọa xâm phạm đến các quan hệ xã hội quan trọng
cần được bảo vệ bằng biện pháp hình sự.
Trong xã hội có giai cấp, hành vi nguy hiểm cho xã hội suy cho cùng là hành
vi xâm hại đến lợi ích của giai cấp thống trị. Chính vì vậy, nhà làm luật cần dựa
vào nhu cầu củng cố và bảo vệ các quan hệ xã hội và sự phù hợp với lợi ích của
giai cấp thống trị trong xã hội đó để xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho
xã hội. Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, trong từng điều kiện kinh tế xã hội
khác nhau, các quan hệ xã hội và lợi ích cũng có sự thay đổi dẫn đến tính nguy
hiểm cho xã hội của các hành vi xâm phạm cũng có sự thay đổi. Và việc sử dụng
pháp luật hình sự để đấu tranh chống lại lại hành vi nguy hiểm cho xã hội đều xuất
phát từ nhu cầu bảo vệ các quan hệ phát triển tiến bộ của xã hội. Khi quy định các
19
hành vi nào đó có tính nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, nhà làm luật phải dựa trên
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự như: nguyên tắc hành vi, nguyên
tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hóa TNHS,
cá thể hóa hình phạt... cũng như phải quán triệt những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện tại và nhiệm
vụ đấu tranh với tội phạm, bảo vệ trật tự pháp luật thời kỳ đó. Việc quy định những