Tìm hiểu qui định pháp luật về tổ chức và hoạt động ở UBND xã nghĩa bình - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên em xin gửi đến quý thầy, cô trong trường Đại học
Nội Vụ Hà Nội và các thầy, cô trong khoa Quản lý nhà nước cùng với sự đồng
ý của thầy Ts. Tạ Quang Ngọc đã tận tụy truyền dạy kiến thức cho em, để em
có thể hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Trong quá trình làm bài của mình, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các anh chị cán bộ văn phòng UBND xã cung cấp số liệu cho em được
hoàn thành công việc một cách thuận lợi nhất. Nhưng do điều kiện về thời
gian có hạn và khó khăn nhất định trong công tác tìm hiểu thực tế nên bản
tiểu luận này còn mang nhiều tính chất chủ quan.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cám ơn tới anh Hồ Hữu Dũng công chức
tư pháp UBND xã Nghĩa Bình cùng các bác, các cô, chú đang công tác tại
UBND xã nơi em lấy số liệu.
Với thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế
còn hạn chế nên bài tiểu luận kết thúc học phần của em còn nhiều thiếu sót.
Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, sự đam mê tìm tòi học hỏi, em rất
mong nhận được chỉ bảo tận tình của quý thầy cô.
Ngày 14 tháng 1 năm 2017
Sinh viên thực hiện


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN..................................................................................................1
MỤC LỤC........................................................................................................2
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ UBND XÃ NGHĨA BÌNH........3
1. ĐĂC ĐIÊM TỰ NHIÊN, CƠ CÂU TÔ CHƯC CHINH TRI, VĂN HÓA XÃ HỘI CUA UBND XÃ NGHĨA
BÌNH................................................................................................................................................3
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND Xã Nghĩa Bình....................................................3
1.2. Đặc điểm về địa lí, cơ quan ở địa phương.............................................................................3

LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật là một hoạt động
đưa pháp luật về gần với nhân dân hơn, đây là một hoạt động vô cùng cần
thiết và quan trọng.
Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động
thực thi pháp luật, là cầu nối để truyền tải pháp luật vào cuộc sống. Muốn
thực hiện pháp luật dưới hình thức nào thì trước hết phải có hiểu biết pháp
luật. Vậy nên em xin đề cập đến hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật ở xã Nghĩa Bình. Tại cơ quan em có điều kiện được thực tập và tìm
hiểu với công việc tư pháp, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Việc
tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật giúp hình thành ý thức pháp luật
trong nhân dân, tạo lòng tin vào pháp luật, thói quen và ý thực tôn trọng pháp
luật của mỗi người dân nhằm phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong
đời sống và xã hội.
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật là hoạt động gắn với
các cơ quan Nhà nước nhằm mục đích đáp ứng ý thực về pháp luật của người
dân. Bởi vậy công tác này được các cơ quan đẩy mạnh thực hiện và đưa ra
những kế hoạch để hoàn thành tốt công tác này.
Là một sinh viên, trong quá trình làm bài em đã được tìm hiểu về công
việc tư pháp, các hoạt động về tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật qua
đó thấy được phần nào những khó khăn, vướng mắc cũng như kết quả đã đạt
được tại địa phương.
Do đó em đã chọn đề tài:
“ Tìm hiểu qui định pháp luật về tổ chức và hoạt động ở UBND xã
Nghĩa Bình ”
Lý luận về công tác tư pháp, tuyên truyền giáo dục pháp luật rất phong

1



5. Nhưng với tinh thần chủ động, quyết tâm khắc phục khó khăn trong
chỉ đạo điều hành nên UBND xã Nghĩa Bình đã hoàn thành các mục tiêu, chỉ
tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng đã đề
ra.
1.3. Chức năng quyền hạn
Ban tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã, tham mưu

3


UBND xã thực hiện chức năng quản lí nhà nước về : Công tác xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lí văn bản quy phạm pháp luật; phổ
biến, giáo dục pháp luật; quy phạm án dân sự; chứng thực; hộ tịch; trợ giúp
pháp luật; hòa giải cơ sở và các công tác tư pháp khác.
Ban tư pháp chịu sự chỉ đạo, quản lí về tổ chức, biên chế và công tác
của UBND xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên
môn, nghiệp vụ của Phòng tư pháp.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể:
*) Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật :
- Trình UBND Xã các văn bản để tổ chức thực hiện các chế độ, chính
sách và pháp luật về quản lý Nhà nước trong hoạt động tư pháp trên địa bàn
xã;
- Thẩm định và chịu trách nhiệm trước UBND xã về nội dung thẩm
định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do HĐND - UBND xã ban
hành theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh theo sự chỉ
đạo của UBND xã và hướng dẫn của phòng tư pháp ;
- Rà soát hệ thống văn hóa văn bản quy phạm pháp luật do HĐND và
UBND xã ban hành.
*) Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

pháp
*) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của UBND xã hoặc
theo Quy định của pháp luật ;
*) Tham mưu cho UBND xã và triển khai công tác trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước.

5


CHƯƠNG II: NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1. Khái niệm:
- Phổ biến pháp luật là hoạt động truyền đạt thông tin về pháp luật đến
cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân cư trú trong xã hội, để cán bộ,
công chức và nhân dân hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
- Giáo dục pháp luật là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có định
hướng lên các đối tượng giáo dục hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm
đối với pháp luật và hành vi xử sự theo pháp luật hiện hành
2. Mục đích của phổ biến giáo dục pháp luật:
Được xem dưới nhiều góc độ khác nhau như là đối tượng, cấp độ hình
thức hoặc thời gian cần thiết cho hoạt động đó. Có thể khái quát mục đích của
hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay qua
các nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất: Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao
nhận thức pháp lý, sự hiểu biết về pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần
thiết cho công dân. Đây là mục đích hàng đầu của tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật ở nước ta. Bởi lẽ đại bộ phận nhân dân đang ở trong tình
trạng ít hiểu biết về pháp luật. Do đó, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật nhằm mở rộng khối kiến thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết kiến
thức pháp luật là hết sức cần thiết.

đoạn hiện nay.
- Quy định số 03/1998/QĐ-TTg ngày7 tháng 1 năm 1998 về việc ban
hành triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm
2002 thành lập hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 1 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình phổ biến , giáo dục phaps liật từ
năm 2003 đến năm 2007

7


- Chỉ thị số 32/CT/TW ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Ban bí thư
trung ương Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức
pháp luật trong nhân dân.
- Báo cáo tổng kết chương trình phổ biến , giáo dục pháp luật của chính
phủ từ năm 2003-2007
- Nghị quyết số 61/2007/NQ- CP ngày 07/12/2007 của chính phủ V/v
tiếp tục thực hiện chỉ thị số 32/CT- TW, Quyết định số 37/QĐ- TTg ngày
12/3/2008 đến năm 2012,
- Quyết định số 1212/ QĐ- UBND ngày 08/5/2008 của UBND tỉnh lâm
Đồng V/v ban hành chương trình phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 20082012. và nhiều Quyết định ban hành các Đề án có liên quan
- Một số văn bản pháp luật của địa phương hướng dẫn chi tiết, các kế
hoạch cụ thể cho từng năm,quý hay đợt tuyên truyền giữa các cơ quan ban
ngành có liên quan.
4. Thực trạng chấp hành pháp luật tại xã Nghĩa Bình
Trong những năm gần đây ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân
dân xã Nghĩa Bình từng bước được nâng lên, đã có nhiều chuyển biến về mặt
nhận thức, ý thức được vai trò pháp luật đối với cuộc sống của mình. Công
tác tuyên truyền pháp luật kết hợp với nhiều cơ quan ban ngành khác đã triển
khai một cách nghiêm túc các kế hoạch, hình thức tuyên truyền phong phú

Tủ sách pháp luật của các Uỷ ban nhân dân xã được quản lý và khai
thác sử dụng có hiệu quả, hiện nay có xã đã có gần 200 đầu sách pháp luật,
phục vụ tốt cho việc nghiên cứu tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân.
Việc theo dõi quản lý tủ sách pháp luật theo quy định, việc phân loại xắp xếp
các loại sách khoa học thành 4 loại sách gồm: Các Bộ luật, Luật; Pháp lệnh;
sách tham khảo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; công báo, báo chí, từ
năm 2012 đến nay tủ sách pháp luật của các xã được mua bổ sung các đầu
sách pháp luật mới, phục vụ tốt cho cán bộ và nhân dân tới tìm đọc.

9


Đối với công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, Uỷ ban nhân dân xã đã
thường xuyên triển khai tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân các
quy định của Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ
về Đăng ký và quản lý hộ tịch để nhân dân trong xã biết và thực hiện nghiêm
túc các quy đinh của nhà nước về đăng ký hộ tịch.
Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác Tư pháp
hộ tịch trong việc phát triển kinh tế - văn hoá- xã hội và giữ gìn an ninh trật tự
trên địa bàn xã, trong thời gian qua cấp uỷ, chính quyền xã Nghĩa Bình đã
tăng cường quan tâm củng cố công tác Tư pháp của bằng việc: Cử và tạo điều
kiện cho công chức Tư pháp- Hộ tịch xã được theo học các lớp đào tạo hệ vừa
học, vừa làm Đại học Luật ở Huyện để nâng cao trình độ chuyên môn; giới
thiệu công chức Tư pháp- Hộ tịch xã tham gia Ban chấp hành Đảng uỷ xã
nhiệm kỳ 2011- 2015; quy hoạch công chức Tư pháp - Hộ tịch xã vào đội ngũ
cán bộ lãnh đạo nguồn kế cần cho giai đoạn tiếp theo; chú trọng công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ hoà giải cho đội ngũ hoà giải viên ở các thôn bản trong xã,
tăng cường củng cố và kiện toàn Hội đồng tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật và đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, phối hợp Mặt trận tổ
quốc cùng các ban, ngành đoàn thể trong xã tổ chức tốt công tác truyên truyền

trình, kế hoạch công tác tư pháp dài hạn và hàng năm. Trong chương trình cần
xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung công việc, các biện pháp thực hiện,
trong đó phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức và cá nhân thực hiện;
- Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động được đề ra trong chương
trình, kế hoạch;
- Kiểm tra, đôn đốc các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện
các chương trình, kế hoạch công tác tư pháp trong quá trình tổ chức thực hiện;
- Định kỳ tổ chức giao ban, sơ kết, tổng kết công tác tư pháp ở cấp xã,
chia sẻ kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác tư pháp trong thời
gian tiếp theo; đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng các tổ

11


chức, cá nhân có thành tích trong công tác tư pháp cơ sở; Việc triển khai thực
hiện nhiệm vụ này do công chức tư pháp - hộ tịch chủ trì giúp ủy ban nhân
dân cấp xã thực hiện. Công chức tư pháp - hộ tịch có vai trò là người trực tiếp
xây dựng, theo dõi, báo cáo tình hình thực hiện các chương trình - kế hoạch
công tác tư pháp. Để đảm bảo tính phù hợp, đúng đắn của chương trình, kế
hoạch công tác tư pháp, việc xây dựng chúng cần phải có sự tham gia góp ý
kiến của một số công chức chuyên môn cấp xã, các tổ chức, đoàn thể quần
chúng có liên quan trên địa bàn. ủy ban nhân dân cấp xã, với tư cách là chủ
thể quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về việc ban hành, tổ chức thực hiện và
kiểm tra tình hình thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác tư pháp, phải
tạo cơ chế làm việc cho công chức tư pháp - hộ tịch trong việc phối hợp với
các công chức chuyên môn, cơ quan, đoàn thể liên quan trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ.
1.2. Quản lý công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp xã.
Để thực hiện chức năng quản lý của mình, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm
quyền ban hành các quyết định, chỉ thị theo quy định của pháp luật. Các văn

Đảng, các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước và thẩm quyền của Uỷ
ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải hiểu rõ tình hình chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội ở cơ sở để tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành hoặc
đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản kịp thời, có tính khả thi
cao và đáp ứng được với yêu cầu quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp
xã.
1.3. Chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng quy ước, hương ước của thôn,
làng, bản, ấp, khóm, cụm dân cư phù hợp với pháp luật, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước Hương ước, quy ước là những văn bản quy phạm
xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng
thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân
dân. Cùng với pháp luật, hương ước, quy ước đảm bảo duy trì an ninh trật tự,

13


vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất,
khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong nhân
dân, xóa đói, giảm nghèo, góp phần duy trì và phát huy thuần phong mỹ tục,
đề cao các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần
thực hiện chính sách dân số, bài trừ các hủ tục và tệ nạn xã hội. Hương ước,
quy ước có vai trò là bộ phận hỗ trợ đắc lực pháp luật trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội tại cộng đồng dân cư đối với những vấn đề và nội dung mà
pháp luật không điều chỉnh, đồng thời còn là công cụ thực hiện mở rộng, phát
huy dân chủ ở cơ sở, giúp nhân dân trong tiến trình tham gia giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước. Theo Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn và Nghị quyết số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17 tháng
4 năm 2008 hướng dẫn thi hành các điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và
Điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Uỷ ban nhân
dân cấp xã có nhiệm vụ chỉ đạo, hỗ trợ các làng, bản, thôn, ấp, khóm, cụm

duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012
với các nội dung cụ thể sau: - Xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến,
giáo dục pháp luật theo hướng dẫn của các cơ quan tư pháp cấp trên, phù hợp
với đặc điểm kinh tế - xã hội, yêu cầu và điều kiện thực tế của địa phương.
Trong kế hoạch phải xác định cụ thể mục đích, yêu cầu, đối tượng, nội dung,
hình thức, biện pháp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, tiến độ, thời
gian thực hiện, các biện pháp và hình thức phối hợp thực hiện; đồng thời quy
định việc báo cáo theo định kỳ và thường xuyên về tiến độ thực hiện phổ
biến, giáo dục pháp luật. - Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện hoặc kiến
nghị biện pháp phù hợp để tổ chức thực hiện kế hoạch này như điều chỉnh kế
hoạch, nội dung, tạo điều kiện về kinh phí, lực lượng và các điều kiện cần
thiết bảo đảm thực hiện. - Sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật ở xã, phường, thị trấn; - Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật với cơ quan tư pháp cấp trên; đề nghị cơ quan nhà

15


nước có thẩm quyền khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích và tích
cực tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài ra, thực hiện Pháp
lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ủy ban nhân dân cấp xã có
nhiệm vụ tham gia vào việc thông tin kịp thời và công khai các chính sách,
pháp luật của Nhà nước, các quy định của chính quyền địa phương về thủ tục
hành chính giải quyết các công việc có liên quan đến dân, các nghị quyết của
Hội đồng nhân dân. Để thực hiện các công việc trên, công chức tư pháp - hộ
tịch cần theo dõi, cập nhật các văn bản pháp luật, bám sát sự chỉ đạo, hướng
dẫn của cơ quan cấp trên và nhiệm vụ chính trị của địa phương để chủ động
xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục
pháp luật trên địa bàn. Đồng thời phát huy và thu hút được sự tham gia của
đông đảo các tổ chức, đoàn thể và cá nhân ở địa phương có ý nghĩa quyết

bố trí trang thiết bị cần thiết cho hoạt động của tủ sách; sắp xếp, phân loại,
bảo quản, giới thiệu sách; tổ chức phục vụ bạn đọc...… Ngoài ra, công chức
tư pháp - hộ tịch phải thường xuyên quan hệ với nhà trường, các ban, ngành,
đoàn thể ở cơ sở để tuyên truyền, vận động cán bộ, nhân dân và học sinh đọc
và tìm hiểu các loại tài liệu, sách, báo pháp luật có trong tủ sách; luân chuyển
sách, báo, tài liệu pháp lý giữa điểm bưu điện văn hoá xã, thư viện, tủ sách
pháp luật của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học và bộ đội biên
phòng đóng trên địa bàn là những hoạt động cần thiết để nâng cao hiệu quả
khai thác và sử dụng tủ sách pháp luật. Công chức phụ trách tủ sách không chỉ
đơn thuần là người giữ tủ sách, bảo quản và cho mượn sách mà còn là người
hướng dẫn cán bộ, nhân dân sử dụng sách, báo, tài liệu pháp lý; tuyên truyền,
động viên nhân dân tích cực tìm hiểu pháp luật. Có thể nói, tủ sách pháp luật
có phát huy được đầy đủ tác dụng thiết thực hay không, điều đó còn phụ
thuộc rất nhiều vào vai trò, trình độ, tinh thần trách nhiệm của công chức phụ
trách tủ sách pháp luật. Muốn vậy, công chức phụ trách tủ sách pháp luật luôn
phải tự học hỏi để nâng cao trình độ chính trị, pháp lý, chuyên môn, nghiệp

17


vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao. Để việc luân
chuyển, trao đổi sách, báo, tài liệu pháp luật được thuận lợi và đạt hiệu quả
cao, công chức tư pháp - hộ tịch cần báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc luân chuyển sách, báo, tài liệu pháp
luật để phối hợp thực hiện.
1.5. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt
động hòa giải ở cơ sở; bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ
hoà giải trên địa bàn theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên Tổ hoà
giải là một tổ chức của nhân dân, do nhân dân bầu ra và được thành lập ở
thôn, xóm, bản, ấp, khóm, tổ dân phố và các cụm dân cư, trực tiếp gắn bó

hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoà giải được phê duyệt,
với sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên, phối hợp với các luật gia, chuyên
gia có kinh nghiệm tổ chức thực hiện các kế hoạch đó; + Sưu tầm, tổng hợp
tài liệu nghiệp vụ cần thiết về công tác hoà giải để cung cấp cho các tổ hoà
giải, nếu có điều kiện cấp đến tận tổ viên Tổ hoà giải. - Sơ kết, tổng kết công
tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo công tác hoà giải với cơ
quan tư pháp cấp trên: + Theo dõi, tổng hợp, thống kê số liệu về các loại vụ
việc tiếp nhận, các vụ việc đã hoà giải thành, đang hoà giải, hoà giải không
thành, số vụ việc chuyển lên cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết, để từ đó
đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, tồn tại, khó khăn, nguyên nhân, hiệu quả
của công tác này; + Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà
giải; + Báo cáo công tác hoà giải với cơ quan tư pháp cấp trên. - Tổ chức thi
đua, khen thưởng đối với hoạt động hòa giải ở địa phương: + Trên cơ sở mục
tiêu, phương hướng hoạt động hoà giải ở địa phương, phát động phong trào
thi đua trong hoạt động hoà giải ở cơ sở; + Sơ kết, tổng kết phong trào thi đua
trong hoạt động hòa giải ở cơ sở; + Thực hiện khen thưởng hoặc đề xuất cấp
trên khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình trong công tác hoà giải ở

19


cơ sở. - Tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí và các điều kiện vật chất phục vụ
công tác hòa giải ở cơ sở từ nguồn ngân sách của ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc huy động từ các tổ chức và cá nhân trên địa bàn. Hoà giải là việc hướng
dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận, tự giải quyết với nhau
tận gốc các tranh chấp, mâu thuẫn, những việc vi phạm pháp luật có tính chất
nội bộ. Đây là hoạt động đòi hỏi người thực hiện phải hiểu biết pháp luật,
kinh nghiệm cuộc sống cũng như có phẩm chất đạo đức và uy tín với cộng
đồng. Do đó, công chức tư pháp - hộ tịch với vai trò là đầu mối, giúp Uỷ ban
nhân dân hướng dẫn và quản lý các tổ chức hoà giải ở cơ sở có trách nhiệm

hoạch định và xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về hộ tịch, ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây: - Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật; - Tuyên truyền,
phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý
và đăng ký hộ tịch; - Quản lý, sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
theo quy định của Bộ Tư pháp; - Lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch; - Cấp bản
sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch; - Tổng hợp tình hình và thống kê biến động
về hộ tịch để báo cáo ủy ban nhân dân cấp huyện theo định kỳ 6 tháng và
hàng năm. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm về hộ tịch theo
thẩm quyền. Công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm tham mưu, giúp ủy
ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý và đăng ký hộ tịch với các nội dung
công việc cụ thể sau: - Thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ
tịch ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định việc đăng ký hộ tịch; Thường xuyên kiểm tra và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự kiện
hộ tịch. Đối với những khu vực người dân còn bị chi phối bởi phong tục, tập
quán hoặc điều kiện đi lại khó khăn, cán bộ tư pháp - hộ tịch phải có lịch định
kỳ đến tận nhà dân để đăng ký những sự kiện hộ tịch đã phát sinh. - Chịu
trách nhiệm trước ủy ban nhân dân cấp xã về những sự kiện hộ tịch phát sinh

21


trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà không được đăng ký hoặc đăng ký không
đúng sự thật, sai pháp luật. - Sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
theo quy định của Bộ Tư pháp; - Tổng hợp tình hình và thống kê chính xác số
liệu hộ tịch để ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo ủy ban nhân dân cấp huyện
theo định kỳ 6 tháng và hàng năm; - Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân
dân chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý và đăng ký hộ tịch; Giữ gìn, bảo quản, lưu trữ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch; khi thôi giữ nhiệm vụ
phải bàn giao đầy đủ cho người kế nhiệm.
1.8. Thực hiện một số việc về quốc tịch thuộc thẩm quyền theo quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status