ĐẶT VẤN ĐÊ
Tranh chấp đất đai luôn là vấn đề gây bức xúc trong các vụ kiện dân sự. Đất
nước ta đang trong kì mở cửa nền kinh tế , bước vào giai đoạn hội nhấp. Thời kì
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đi vào giai đoạn phát triển quá độ thì vấn đề tranh
chấp đất đai và các giấy tờ liên quan đến vấn đề đất đai hiện nay đang ngày càng
phức tạp và rất khó giải quyết. Sau đây là vấn đề cụ thể về tranh chấp đất đai có
liên quan tới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , qua phân tích và nghiên cứu
tình huống cụ thể chúng ta thấy rõ hơn vai trò của pháp luật trong việc quy định
và giải quyết tranh chấp về vấn đề đất đai trên thực tế.
Tình huống:
Vụ án dân sự giữa nguyên đơn là bà Võ Thị Thành với bị đơn là bà Phan
Thị Tòng tại thị xã T, tỉnh L.
Nội dung vụ án : Tháng 7 - 2005, bà Võ Thị Thành cầm cố giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà Thành cho bà Phan Thị Tòng để vay l.000.000
đồng, nhưng bà Tòng chưa đưa tiền cho bà Thành và cũng không trả giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho bà Thành, nên bà Thành khởi kiện yêu cầu bà Tòng
trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Tòng cho rằng giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bà Thành bà đã cầm cố cho bà Hồ Thị Mỹ Hương, bà
Hương lại cầm cố cho ông Lưu Công Tấn nên không đồng ý trả.
1
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 50/2007/QĐST-DS
ngày 31-7-2007, Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh L đã quyết định:
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 104/2007/TLST- DS
ngày 15-3-2007 về việc “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là bà Vô Thị Thành với
bị đơn là bà Phan Thị Tòng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ
Thị Mỹ Hương, ông Lưu Công Tấn.
Ngày 31-10-2007, bà Thành kháng cáo.
Tại quyết định dân sự phúc thẩm số 05/2008/QĐ-PT ngày 26-02-2008,
Tòa án nhân dân tỉnh L quyết định:
GIẢI QUYẾT VẪN ĐÊ
3
1. Đối tượng tranh chấp trong vụ kiện?
Đối tượng tranh chấp trong vụ kiện trên là giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác lập mối
quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc sử dụng
đất...Ở Việt Nam , Nhà nước là chủ thể sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng
không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức ,
hộ gia đình , cá nhân...
Chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với
người sử dụng đất trong việc sử dụng đất trong phạm vi sử dụng đất là giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, theo quy định của pháp luật đất đai , cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những nội dung của hoạt động
quản lí nhà nước về đất đai, đồng thời cũng là một quyền đầu tiên mà bất kỳ
người sử dụng đất hợp pháp nào cũng được hưởng.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để người sử dụng đất được
Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ thực hiện các quyền
mà pháp luật đã trao cho người sử dụng . Do đó có thể thấy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là loại giấy tờ có ý nghĩa quan trọng , thể hiện sự cong nhận
của nhà nước đối với quyền sử dụng đất hợp pháp, đồng thời giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là một trong những căn cứ pháp lí xác định thaamr quyền của
4
cơ quan nhà nước có kiên quan trong việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền
sử dụng đất.
Trong tình huống đề bài đưa ra là vụ việc bà Võ Thị Thành cầm cố giấy chứng
chất là giá trị quyền sử dụng của mảnh đất.
Thứ hai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là vật, vì để
có thể trở thành vật trong giao lưu dân sự thì phải đáp ứng 4 điều kiện :
- Điều kiện 1 : Là bộ phận của thế giới vật chất. Đây là một điều kiện không
thể thiếu để trở thành vật trong giao lưu dân sự
- Điều kiện 2: Con người phải chiếm hữu được.
- Điều kiện 3: Mang lại lợi ích cho chủ thể và phải có đặc trưng giá trị.
- Điều kiện 4: Vật phải đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai.
6
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đáp ứng được điều kiện thứ 1,thứ 2
và thứ 4,còn điều kiện thứ 3 về mang lại lợi ích cho chủ thể và mang đặc trưng
giá trị thì không đáp ứng được. Bởi vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ
là văn bản chứa đựng Quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
xác định ai là người có quyền sử dụng một mảnh đất nào đó,đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền bảo hộ. Cho dù mất hoặc bị ai đó chiếm đoạt thì cũng
không ảnh hưởng gì đến quyền sử dụng đất của người đó,giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không có giá trị.
Thứ ba, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là sự xác nhận về quyền sử
dụng đất của cá nhân, tổ chức, bản thân nó cũng không phải là quyền sử dụng
đất, do đó nó cũng không là quyền tài sản.
Thứ tư, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là giấy tờ có
giá. Bởi theo điểm 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010
thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát
hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất
định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Giấy tờ có giá bao gồm: hối phiếu
đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu,
cổ phiếu, các loại chứng khoản,… quy định tại Pháp lệnh ngoại hối năm 2005,
5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định
của pháp luật về đất đai.
8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của
pháp luật.
9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.
Như vậy, bà A không thể khởi kiện ra tòa án về việc kiện đòi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được vì tranh chấp này không thuộc thẩm quyền của tòa
án.Tòa án chỉ giải quyết kiện đòi lại tài sản,giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lại không phải là tài sản theo như giải thích ở bên trên.Việc này đã được quy định
rất rõ ở công văn Số: 141/TANDTC-KHXXV/v thẩm quyền giải quyết các yêu
cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản :
Để bà Thành có thể đòi lại được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
theo quan điểm của nhóm em thì có các cách giải quyết sau đây
Cách thứ nhất đó là Bà Thành sẽ phải gửi đơn yêu cầu đến cơ quan công
an nơi cư trú của bà Tòng để xử lý hành vi của bà Tòng và yêu cầu ông Lưu
9
Công Tấn là người chiếm hữu bất hợp pháp trả lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho mình.Ông Lưu Công Tấn là người chiếm hữu bất hợp pháp bởi vì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bà Thành,bà Hương đem giấy chứng
nhận này cầm cố cho ông Tấn,ông Tấn biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không phải của bà Hương nhưng vẫn nhận cầm cố.Nếu ông Lưu Công Tấn
nhận quyền sở hữu tài sản.
Cách thứ 2 đó là gửi đơn đến UBND xã, thị trấn nơi bà Thành cư trú để
được giải quyết theo thẩm quyền.
11