MỞ ĐẦU
Phức chất của benzamiđin với các kim loại chuyển tiếp là một lĩnh vực
nghiên cứu mới, có nhiều triển vọng và có ý nghĩa lớn về mặt nghiên cứu cơ bản
cũng như tiềm năng ứng dụng thực tiễn của chúng. Nhiều phức chất benzamiđin có
khả năng kháng nấm, kháng khuẩn cao. Đặc biệt những nghiên cứu về benzamidin
ba càng nhằm phục vụ cho lĩnh vực phát triển thuốc chứa đồng vị phóng xạ, và hiện
nay tại Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều. Với mục đích góp phần vào hướng
nghiên cứu mới này chúng tôi tập trung nghiên cứu về sự tạo phức của benzamiđin
ba càng dẫn xuất từ thiosemicacbazit với kim loại chuyển tiếp là Ni2+, Pd2+.
Công việc của đề tài là tổng hợp phối tử benzamiđin ba càng dẫn xuất từ
thiosemicacbazit, sau đó tổng hợp và nghiên cứu phức chất của chúng. Với mục
đích này, bản luận văn bao gồm những nội dung chính sau:
1. Tổng hợp phối tử H2L được chia làm hai phần chính:
-
Tổng hợp benzimidoyl clorua
-
Tổng hợp các dẫn xuất 4,4-diankylthiosemicacbazit
2. Tổng hợp phức chất của Pd(II) và Ni(II) với phối tử H2L
3. Nghiên cứu cấu trúc của H2L, phức chất của Pd(II) và Ni(II) với H2L
bằng phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại, phổ cộng hưởng từ hạt nhân
(1H-NMR), phổ khối lượng và phương pháp nhiễu xạ tia X đơn tinh thể.
1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu về các phối tử benzamiđin
cạnh. Sự tạo vòng càng sáu cạnh thường đi kèm với quá trình tách proton của khung
benzamiđin và phối tử có điện tích -1. Tuy nhiên điện tích âm này không định cư
trên một nguyên tử nào mà được giải tỏa đều trên năm nguyên tử phi kim của vòng
chelat. Điều này làm tăng độ bền của các phức chất được tạo thành. Trên thực tế,
người ta đã biết phức chất của benzamidin với gần hết các kim loại ở cuối dãy kim
loại chuyển tiếp thứ nhất và thứ hai [13]. Phức chất của benzamiđin với các kim loại
ở đầu dãy, thuộc nhóm IIIB, IVB, VB và các đất hiếm hầu như chưa được nghiên
cứu. Trong những phức chất đã được xác định cấu trúc, benzamiđin có xu hướng
tạo phức chất vuông phẳng.
1.1.3. Benzamiđin ba càng
Các benzamiđin đa càng sẽ tạo thành khi cho bezimidoyl clorua phản ứng với
các phối tử amino hai càng (hoặc nhiều càng hơn) như aminophenol,
aminometylpyridin… (hình 1.4). Tuy nhiên, những phản ứng như vậy rất dễ dẫn
đến sự đóng vòng nội phân tử hay quá trình nhựa hóa và thường không thu được sản
phẩm như mong muốn. Đến cuối năm 2008, những benzamiđin ba càng đầu tiên
dẫn xuất từ 2-aminophenol (1), 2-(aminometyl)pyriđin (2) và axit antranilic (3) mới
được công bố. Một năm sau đó các benzamiđin ba càng dẫn xuất từ benzoylhidrazin
(4) và thiosemicacbazit (5) tiếp tục được công bố.
3
Hình 1.4. Benzamiđin ba càng dẫn xuất từ 2-aminophenol (1),
2-(aminometyl)piriđin (2), axit antranilic (3), benzoylhiđrazin (4) và
thiosemicacbazit (5)
Benzamiđinba càng dẫn xuất từ thiosemicacbazit
H2LE5 : R1=R2 = Et, NR3R4 = NC4H8
H2LE7 : R1=R2 = Et, NR3R4 = NC6H12
H2LM5 : NR1R2 = Morpholin, NR3R4 = NC4H8
thiosemicacbazit. Ngược lại, nếu phối tử tồn tại dạng C (hình 1.6) sẽ được coi là
dẫn xuất thiosemicacbazon, vì trong đó nguyên tử N của hợp phần thiosemicacbazit
liên kết đôi với nguyên tử cacbon của hợp phần thioure và trên nguyên tử N đó
không còn proton nữa.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các phức chất Pd(II) với của 4
phối tử benzamiđin ba càng dẫn xuất từ thiosemicacbazit:
5
Hình 1.7. Phối tử H2LE5
Hình 1.8. Phối tử H2LE7
Hình 1.9. Phối tử H2LM5
Hình 1.10. Phối tử H2LM7
1.2. Giới thiệu về kim loại
1.2.1. Giới thiệu về Paladi
1.2.1.1. Tính chất chung
Paladi là kim loại chuyển tiếp thuộc nhóm VIIIB, chu kì 5. Cấu hình electron
là [Kr]4d105s0 [6]. Cấu hình electron của Pd như vậy là do sự chênh lệch mức năng
lượng giữa 4d và 5s nhỏ hơn giữa 3d và 4s và điều này cũng tuân theo quy luật là
các obitan có số lượng tử chính càng lớn thì mức năng lượng sẽ càng gần nhau.
Trong tự nhiên, Pd thường tồn tại dưới dạng tự sinh, hợp kim tự sinh hay các
quặng sunfua, asenua [4]. Pd2+ là một axít mềm, điều này cho phép dự đoán Pd2+ sẽ
tạo phức tốt với các phối tử chứa bazơ mềm như S, N.
Các mức oxi hóa có thể có của palađi là 0 trong ([Pd(PPh3)3]), +1 trong
([Pd2(PMe3)6]2+), +2 trong ([Pd(CN)4]2-), +3 trong (Pd2(hpp)4Cl2), +4 trong
([PdCl6]2-), các mức oxi hóa thường gặp là +2 và +4, trong đó mức +2 bền nhất, các
cộng hóa trị nhiều hơn, điều này làm cho liên kết giữa Pd(II) với phối tử thường bền
hơn và khả năng tạo phức chất của Pd(II) cũng tốt hơn Ni(II).
1.2.1.3. Một số phức chất điển hình của Pd(II)
7
a. Phức chất bát diện: PdX62- (X = Cl, Br) , K2[Pd(CN)6], Pd(diars)2I2...
Với “diars” là tên viết tắt của o-phenylenbis(đimetylasin):
b. Phức chất lưỡng chóp tam giác: [Pd(diars)2Cl]+
c.Phức chất vuông phẳng:[Pd(NH3)4]2+, PdCl2-4 , [Pd(CN)4]2-...
1.2.2. Giới thiệu về Niken
1.2.2.1. Tính chất chung
Niken là kim loại chuyển tiếp thuộc nhóm 10 (nhóm VIIIB theo Bảng tuần
hoàn cũ), chu kì 4, nằm ở ô 28. Cấu hình electron là [Ar]3d84s2.
Trong tự nhiên, Ni(II) chủ yếu nằm trong các hợp chất với asen, antimon, lưu
huỳnh và với sắt trong quặng limonit (Fe,Ni)O(OH) [4], Ni2+ là một axit có độ mềm
trung gian.
Năng lượng ion hóa của niken: I1 = 7,5 eV, I2 = 16,4 eV, I3 = 35,16 eV. Giản
đồ Latimer của niken có dạng:
Năng lượng ion hóa thứ ba của Ni khá cao, cao hơn so với I3 của Fe (30,63
eV) và Co (33,49 eV), điều này được giải thích là do sự tăng độ bền của cấu hình
electron theo thứ tự 3d6 (Fe2+) - 3d7 (Co2+) - 3d8 (Ni2+), nghĩa là cấu hình electron
càng bền khi càng tiến gần đến cấu hình electron bão hòa 3d10[6]. Vì năng lượng
ion hóa I3 khá cao và thế khử chuẩn Ni3+/ Ni2+ rất dương nên mức oxi hóa +3 của Ni
rất kém bền, chỉ tồn tại trong một số ít hợp chất với F và O [4].
Trong hợp chất, các mức oxi hóa thường gặp của niken là +2 trong (NiCl2), 0
trong (Ni(CO)4), ít gặp hơn là +3 trong (NaNiO2), +4 trong (K2[NiF6]) và –2 trong
(K2[Ni(CO)6])[6]. Mức oxi hóa bền duy nhất của Ni là +2 [4].
các phương pháp sau: phổ hồng ngoại IR, phổ cộng hưởng từ 1H-NMR, phổ khối
lượng ESI-MS.
1.3.1. Phƣơng pháp phổ hồng ngoại IR
Theo vật lý lượng tử, một phân tử có ba dạng chuyển động cơ bản là: chuyển
động của các electron, chuyển động dao động và chuyển động quay của các nguyên
tử và nhóm nguyên tử [3]. Để thực hiện các chuyển mức dao động, phân tử phải hấp
thụ những bức xạ trong vùng hồng ngoại.
Khi bị chiếu bởi một chùm bức xạ hồng ngoại đa sắc, vật chất thường hấp
thụ một phần của vùng sóng này, dẫn đến cường độ chùm tia đi ra I thường nhỏ hơn
chùm tia tới Io. Tỷ số I/Io gọi là độ hấp thụ ánh sáng, nếu vẽ đường biểu diễn sự phụ
thuộc của độ hấp thụ ánh sáng vào một đại lượng đặc trưng cho bản chất ánh sáng,
chẳng hạn số sóng ν (cm-1), ta sẽ thu được một đường cong phức tạp, với những
cực đại và cực tiểu. Đường cong này gọi là phổ hấp thụ hồng ngoại của chất nghiên
cứu [3].
Những quan sát phổ thực nghiệm của một lượng lớn các hợp chất chứa cùng
một số nhóm nguyên tử giống nhau cho thấy rằng các nhóm này đều thể hiện những
dải hấp thụ với tần số gần như giống nhau, từ đó người ta thống kê lại các tần số
dao động này để làm tài liệu tra cứu.Bằng cách so sánh phổ thực nghiệm với phổ
chuẩn của một hợp chất hay bảng thống kê tần số dao động của các nhóm nguyên
tử, ta có thể nhận biết sự có mặt hay không của một nhóm chức nào đó ở chất
nghiên cứu [3].
Phổ IR của phối tử H2L được đặc trưng bởi hai dải hấp thụ, một có cường độ
trung bình ở vùng 3000 cm-1, và một có cường độ mạnh ở vùng 1660 – 1620 cm-1.
Hai dải này được quy gán cho dao động hóa trị của N-H và C=N của vòng
benzamiđin. Khi tạo phức chất, dải hấp thụ thứ nhất thường biến mất do phối tử
tách proton. Dải hấp thụ thứ hai thường bị dịch chuyển sang vùng sóng dài; mức độ
dịch chuyển cho phép dự đoán kiểu phối trí của H2L. Nếu Δν > 120 cm-1 thì phối tử
tạo phức chất vòng càng và tách proton; nếu Δν > 60 ÷ 80 cm-1 thì phối tử tạo phức
chất vòng càng nhưng không tách proton; còn nếu Δν < 40 cm-1 thì phối tử chỉ tạo
phức chất qua C=S như các thioure đơn giản.
proton cộng hưởng ở mức năng lượng thấp (cộng hưởng ở trường yếu) sẽ có độ dịch
chuyển hóa học cao. Các độ chuyển dịch hóa học của proton và các hạt nhân khác
trong các “môi trường hóa học” khác nhau được tập hợp thành bảng trong các tài
liệu tra cứu. Bằng cách sử dụng nguồn tư liệu này, kết hợp thêm một số tương quan
kinh nghiệm khác, ta có thể rút ra nhiều kết luận quan trọng về cấu tạo phân tử.
11
Phổ 1H-NMR của các benzamiđin thường được đặc trưng bởi sự quay hạn
chế xung quanh liên kết (R1R2N-CS). Nó làm cho các nhóm thế giống nhau gắn trên
nguyên tử N có độ dịch chuyển hóa học khác nhau. Đặc biệt, trong phân tử của phối
tử loại H2L có hai vị trí cứng nhắc đó là (R1R2N-CS) của hợp phần thioure và
(R3R4N-CS) của hợp phần thiosemicacbazit. Chính điều này đôi khi gây khó khăn
cho việc quy gán các tín hiệu cộng hưởng trên phổ 1H-NMR của chúng. Khi có mặt
nhân kim loại, độ linh động của các liên kết này có thể bị thay đổi, làm cho hình
dạng và vị trí của các tín hiệu của R1, R2, R3, R4 có thể bị thay đổi.
1.3.3. Phƣơng pháp phổ khối lƣợng ESI-MS
Nguyên tắc chung của phương pháp phổ khối lượng là phá vỡ phân tử trung
hòa thành ion phân tử và các ion mảnh có số khối A = m/z (m là khối lượng, z là
điện tích ion), sau đó phân tách những ion này theo số khối. Dựa vào phổ khối
lượng có thể xác định phân tử khối và cấu tạo phân tử của chất nghiên cứu [1].
Quá trình ion hóa phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố: cấu tạo của phân tử,
phương pháp bắn phá, năng lượng bắn phá. Có thể thực hiện quá trình này bằng
nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp va chạm electron (EI: electron
ionization), phương pháp ion hóa phun điện tử (ESI: electrospray ionization),
phương pháp ion hóa hóa học (CI: chemicalionization).
ESI là phương pháp ion hóa phổ biến dùng cho nghiên cứu phức chất và phù
hợp với các hợp chất kém bay hơi. Phương pháp này có đặc điểm là quá trình ion
hóa xảy ra êm dịu.Trong kỹ thuật ESI, các ion dương tạo thành có thể gắn thêm một
proton và các ion âm tạo thành có thể mất bớt một proton, do vậy ion dương
tính theo công thức:
2
2
Thừa số cấu trúc: F(hkl) = A(hkl)
+B(hkl)
Biên độ hàm sóng tổ hợp:
N
A(hkl) = f j .cos2π(hx j +ky j +lz j )
j=1
N
B(hkl) = f j .sin2π(hx j +ky j +lz j )
j=1
Trong đó fj là thừa số nhiễu xạ nguyên tử có giá trị phụ thuộc vào số electron xung
quanh hạt nhân hay nói cách khác phụ thuộc vào điện tích hạt nhân. Các nguyên tố
khác nhau sẽ có thừa số fj khác nhau.
Như vậy nếu ta biết được bản chất của từng nguyên tử (loại nguyên tử C, N
hay Fe...) và vị trí của chúng trong ô mạng cơ sở, ta sẽ tính toán được thừa số cấu
trúc F(hkl) c cho mọi ảnh nhiễu xạ. Cấu trúc phân tử của một chấtchính là “mô hình”
13
cho các giá trị F(hkl) c tính toán phùhợp nhất với các giá trị F(hkl) o xác định bằng thực
nghiệm.
Để đánh giá độ chính xác giữa cấu trúc tính bằng lí thuyết tính toán được với
số liệu thực nghiệm người ta sử dụng các phương pháp thống kê. Trong đó, độ sai
- Cân phân tích
- Máy khấy từ
- Máy lọc hút chân không
- Phễu lọc thủy tinh xốp
- Phễu nhỏ giọt 50ml
- Sinh hàn
- Tủ sấy và tủ hốt
2.1.2 Hóa chất
- Benzoylclorua (C6H5COCl)
- KSCN
- Ni(CH3COO)2.2H2O
- [PdCl2(CH3CN)2], NiCl2.6H2O
- Đietylamin(C2H5)2NH
- Trietylamin(C2H5)3N
- Mopholin (morpholine): HN(CH2)4O
- Thionyl clorua SOCl2
- Chỉ thị benzophenon (C6H5)2CO
- Dung môi hữu cơ: axeton, metanol, đietyl ete, điclometan, cacbon
tetraclorua, tetrahiđrofuran (THF).
2.1.3. Chuẩn bị hóa chất
KSCN được nghiền nhỏ, sấy khô trong tủ sấy ở 800C cho đến khi khối lượng
không đổi.
Các dung môi dùng để tiến hành phản ứng được làm khô bằng hệ thống làm khô
dung môi. Axeton và cacbon tetraclorua được làm khô bằng P2O5. Trietylamin và
THF được làm khô bằng Na.
15
2.2. Tổng hợp phối tử
2.2.1. Tổng hợp dẫn xuất của benzoylthioure
Quy trình tổng hợp:
Hòa tan 0,3 mol benzoylthioure trong etanol nóng trong cốc chịu nhiệt 500 ml,
thêm dần dung dịch chứa 32 g muối Ni(CH3COO)2.2H2O (~ 0,15 mol) trong
metanol nóng vào dung dịch trên.
Vừa khuấy vừa đun nóng nhẹ trong vòng 15 phút, sau đó để nguội về nhiệt độ
phòng. Thấy xuất hiện kết tủa màu đỏ tím đối với trường hợp đietyl benzoylthioure
và kết tủa màu đỏ nhạt hơn đối với trường hợp morpholin benzoylthioure. Tiến
hành lọc và sấy khô kết tủa thu được 75,4 g [Ni(Et2-btu)2], iệu suất ~ 95% và 78,5 g
[Ni(Mor-btu)2], hiệu suất ~ 94%.
2.2.3. Tổng hợp dẫn xuất benzimidoyl clorua
Tiến hành phản ứng thế nguyên tử O liên kết với Ni trong hai phức chất
[Ni(Et2-btu)2] và [Ni(Mor-btu)2] bởi nguyên tử Cl bằng cách sử dụng thionyl clorua
(SOCl2), thu được benzimidoylclorua theo phương trình phản ứng sau:
Benzimidoyl clorua
(Niken(II) benzoylthioureato)
Et2-bzm-Cl: R1 = R2 = Etyl
Mor-bzm-Cl: NR1R2 = Mopholin
Quy trình tổng hợp: Lắp hệ thống phản ứng gồm bình cầu hai cổ 750 ml, một
cổ lắp sinh hàn có gắn bẫy dầu, một cổ lắp phễu nhỏ giọt 100 ml.
Cân 52,9 g chất [Ni(Et2-btu)2] (~0,1 mol) hoặc 55,7 g [Ni(Mor-btu)2] (~0,1
mol) cho vào bình cầu, cho thêm vào 100 ml CCl4 khan, tiếp tục nhỏ từ từ 15,6 ml
17
SOCl2 (dthionyl clorua = 1,638 g/ml, 0,21 mol, lấy dư 5%) trong CCl4 khan vào bình
phản ứng, tiến hành khuấy và đun nóng ở nhiệt độ 50oC. Khi đó hỗn hợp phản ứng
dần chuyển sang màu xanh, đun và khuấy thêm khoảng 30 phút nữa cho đến khi
thiosemicacbazit
H2LE5 : R1=R2 = Et, NR3R4 = NC4H8
H2LE7 : R1=R2 = Et, NR3R4 = NC6H12
H2LM5 : NR1R2 = Morpholin, NR3R4 = NC4H8
H2LM7 : NR1R2 = Morpholin, NR3R4 = NC6H12
Quy trình tổng hợp: Lắp hệ phản ứng gồm bình cầu hai cổ dung tích 50 ml,
một cổ lắp sinh hàn có gắn bẫy dầu.
Hòa tan 0,01 mol mỗi thiosemicacbazit trong 20 ml dung môi tetrahiđrofuran
(THF) khan, tiếp theo cho 3,5 ml trietylamin khan (dtrietylamin = 0,7255 g/ml, ~0,025
mol, lấy dư 150%) vào bình phản ứng, khuấy đều, sau đó lại cho thêm 0,01 mol
benzimidoyl clorua và khuấy đều ở nhiệt độ phòng trong thời gian 2h. Sau đó khuấy
ở nhiệt độ 40oC trong 1h. Tiến hành loại bỏ dung môi THF ở dịch lọc bằng máy cất
quay chân không thu được chất rắn vàng nhạt, cho thêm vào đó 10 ml đietyl ete,
tráng nhẹ sau đó để yên cho phối tử tự kết tinh. Khi phối tử đã kết tinh hoàn toàn,
bỏ phần dung dịch ở phía trên, rửa lại phối tử bằng một ít đietyl ete, sau đó làm khô
sản phẩm trong không khí thu được các benzamiđin tương ứng với hiệu suất khoảng
60 - 80 %.
2.3. Tổng hợp phức chất [Pd(HL)Cl]
Hòa tan 0,1 mmol [Pd(MeCN)2Cl2] trong 5 ml CH2Cl2 thu được dung dịch
màu nâu vàng. Thêm tiếp 0,1 mmol phối tử H2L đã hòa tan trong dung môi CH2Cl2,
có màu vàng nâu; dung dịch chuyển nhanh sang màu vàng cam. Tiếp tục khuấy ở
nhiệt độ phòng 1h, sau đó để hỗn hợp phản ứng bay hơi chậm trong không khí, thu
được những vi tinh thể màu vàng với hiệu suất phản ứng tổng hợp đều đạt hơn 80%.
19
2.4. Tổng hợp phức chất của Ni(II) với phối tử H2L
2.4.1. Phƣơng pháp 1
20
SHELXL97 được dùng để tối ưu hoá cấu trúc. Vị trí các nguyên tử hiđro được xác
định theo các thông số lí tưởng bằng phần mềm SHELXL.
21
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thảo luận về quá trình tổng hợp và nghiên cứu phối tử
3.1.1. Tổng hợp phối tử H2L
Các phối tử H2L được tổng hợp theo tài liệu tham khảo [11], quy trình được
chia làm bốn giai đoạn và được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Giai đoạn 1-Điều chế benzoylthioure
Điều chế benzoylthioure qua hai bước:
Tiến hành phản ứng thế giữa benzoyl clorua với kali thioxianat để tạo thành
benzoyl isoxianat.
Thêm amin bậc hai vào để phản ứng với benzoyl isoxyanat, thu được
benzoylthioure.
Phản ứng như sau:
22
Chất đầu benzoyl clorua và chất trung gian benzoylisoxyanat là những chất rất nhạy
nước nên nếu môi trường phản ứng có lẫn nước thì chúng sẽ bị thủy phân tạo axit
benzoic, HCl, HSCN. Các axit này sẽ tác dụng với amin R1R2NH tạo thành muối
amoni tương ứng, làm giảm hiệu suất tổng hợp và tăng lượng tạp chất trong sản
Benzimidoyl clorua là hợp chất rất nhạy nước nên phản ứng tổng hợp cần
tiến hành trong môi trường khan. Phản ứng này sử dụng dung môi CCl4, dung môi
này hòa tan niken benzoylthioureato tốt hơn axeton vì nó ít phân cực hơn và cũng vì
ít phân cực hơn nên CCl4 ít hấp thụ hơi nước và dễ làm khô lại.
Giai đoạn 4 - Điều chế bốn phối tử benzamiđin ba càng
Benzamiđin ba càng thu được khi cho benzimiđoyl clorua phản ứng với các
thiosemicacbazit có mặt Et3N. Phương trình phản ứng như sau:
Như đã trình bày ở giai đoạn 3, chất đầu benzimiđoyl clorua rất nhạy nước
nên phản ứng này cũng cần được tiến hành trong dung môi khan. Nếu có lẫn nước,
benzimiđoyl clorua bị thủy phân tạo thành benzoylthioure. Trong một số trường
hợp, phản ứng này được tiến hành trong dung môi aceton khan. Tuy nhiên chúng tôi
đã sử dụng tetrahiđrofuran THF làm dung môi cho phản ứng, do THF ít hấp thụ hơi
ẩm, ít phân cực hơn axeton nên dễ hòa tan các chất ít phân cực, giúp tăng được
nồng độ các chất tham gia phản ứng.
Một ưu điểm của phản ứng giữa benzimiđoyl clorua với thiosemicacbazit với
sự có mặt của trietylamin dư là có thể dựa vào lượng kết tủa trắng Et 3NHCl tạo
thành để nhận biết phản ứng vẫn còn xảy ra hay đã kết thúc. Nếu lượng kết tủa
không tăng lên trong một thời gian dài, lúc đó phản ứng đã kết thúc.
24
3.1.2. Nghiên cứu phối tử H2L
3.1.2.1. Nghiên cứu phối tử H2L bằng phƣơng pháp IR
Phổ IR của phối tử H2LE5 và H2LE7 được trình bày ở hình 3.1 và hình 3.2;
phổ IR của phối tử H2LM5 và H2LM7 được trình bày ở hình 1 và hình 2 phần phụ lục.
Việc quy gán các dải hấp thụ trên phổ IR của phối tử H2L trình bày trong bảng 3.1.
BO MON HOA VAT LIEU-KHOA HOA-TRUONG DHKHTN
60
55
%T
852
50
45
1058
40
1194
1178
2870
35
1097
1380
3182
905
780
1447
HN
1252
1637
10
N
5
1350
S
1496
1622
0.0
4000.0
3600
3200
2800
2400
1489
CH3
0.95
0.90
N
N
CH3
1626
0.85
S
NH
0.80
1307
HN
0.75
0.70
N
0.40
1391
3221
693
1140
0.35
2855
0.30
1163 1075
780
905
0.25
996
547
0.20
655
864
800
600
400.0