Thực trạng kiến thức về phòng chống hivaids của cán bộ y tế xã tại một số trạm y tế xã thuộc 3 huyện Kim Bảng, Duy Tiên và Bình Lục tỉnh Hà Nam 2014 - Pdf 45

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức
khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu,
tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa
sự phát triển bền vững của đất nước. Trên thế giới, khoảng 35,3 triệu người đang
sống chung với HIV/AIDS vào cuối năm 2012 [1]. Theo UNAIDS, trung bình mỗi
ngày thế giới có thêm khoảng 7.000 người nhiễm HIV [2]. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm
HIV toàn quốc theo số báo cáo là 248 người trên 100.000 dân. Tính đến hết
30/11/2013, số trường hợp nhiễm HIV là 216.254 trường hợp và dự báo số con số
này sẽ tăng lên đến 263.317 người, chiếm tỷ lệ 0,29% dân số vào năm 2015 [3], [4].
Ở Việt Nam, địa bàn phân bố dịch cũng ngày càng được mở rộng, tính đến
30/11/2013, toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78% xã/phường, gần 98%
quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố, có thêm 3 huyện và 47 số xã/phường phát hiện
mới có người nhiễm HIV [3]. Bên cạnh đó, thiếu hụt nhân lực cho công tác phòng,
chống HIV/AIDS, đặc biệt là nhân lực có chuyên môn về HIV/AIDS lại đặt ra một
thách thức lớn cho công tác phòng, chống HIV/AIDS với các chỉ tiêu cán bộ hiện
tại tuyến tỉnh chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu cán bộ có trình độ đại học, tuyến
huyện hiện chỉ có 20% số huyện có cán bộ chuyên trách cho công tác phòng, chống
HIV/AIDS. Năm 2009, tại các địa phương trên toàn quốc, trong đó chỉ có 23,7%
cán bộ có trình độ đại học hoặc trên đại học, 56% cán bộ có trình độ cao đẳng và
trung cấp, 20,2% là có trình độ phổ thông [4]. Điều này đòi hỏi các công tác dự
phòng dịch HIV cần phải được quan tâm hơn nhiều so với các lĩnh vực khác.
Cùng với đó, trước tình hình nguồn lực quốc tế hỗ trợ cho công tác phòng,
chống HIV/AIDS đang giảm mạnh, giai đoạn 2013-2020 là 9.952 tỷ đồng, mới chỉ
đáp đáp ứng được 37% tổng nhu cầu kinh phí cho các hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS, đòi hỏi cần phải thực hiện tốt công tác phòng, chống HIV/AIDS tại
tuyến xã, phường vì đây là tuyến cuối cùng triển khai tất cả các hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS đến từng cộng đồng, từng hộ gia đình và từng người dân như


Bình Lục tỉnh Hà Nam năm 2014.


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Kiến thức chung về HIV/AIDS
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm HIV
HIV (Human Immunodeficiency Virus) là virus suy giảm miễn dịch ở
người, có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình
trạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho
những nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống
của người bị nhiễm [9].
1.1.1.2. Khái niệm AIDS
AIDS là viết tắt của Tiếng Anh (Acquered Immuno Deficiency Syndrome) có
nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Viết tắt theo tiếng Pháp là SIDA
(Syndrome de Immuno Deficience Acquise), dùng để chỉ giai đoạn cuối của quá
trình nhiễm HIV/AIDS, ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể đã suy yếu
nên người nhiễm HIV dễ dàng mắc bệnh như ung thư, viêm phổi, lao, viêm da, lở
loét toàn thân hay suy kiệt v.v… Những bệnh này nặng dần dẫn đến cái chết [10].
1.1.2. Một số kiến thức cơ bản liên quan đến HIV/AIDS.
1.1.2.1. Các đường lây truyền chính HIV/AIDS
Các đường lây truyền chính là:


Lây truyền qua đường tình dục: đây là phương thức lây truyền HIV quan trọng

và phổ biến nhất trên thế giới. Sự lây truyền xảy ra qua quan hệ tình dục khác giới
giữa nam và nữ: giao hợp âm đạo-dương vật từ nam sang nữ và từ nữ sang nam, qua


5

 Giai đoạn 2: không triệu chứng còn gọi là pha mạn tính. Giai đoạn này kéo dài
trong nhiều năm tiếp sau giai đoạn sơ nhiễm còn gọi là giai đoạn nhiễm trùng tiềm
tàng của một nhiễm trùng mãn tính. HIV tiếp tục tồn tại và nhân lên với nhịp điệu
thay đổi tùy mỗi cá thể nên tải lượng virus lúc tăng lúc giảm nhưng không bao giờ
dưới ngưỡng phát hiện và bệnh nhân vẫn có thể lây truyền cho người khác. Tế bào
TCD4 ở mức trên 500 tế bào/mm3 trong nhiều năm nhưng luôn có xu hướng giảm.
 Giai đoạn 3: có triệu chứng còn gọi là pha kết thúc của nhiễm HIV. Trong giai
đoạn này bệnh nhân bắt đầu có biểu hiện lâm sàng nặng nhẹ tùy thuộc cá thể. Có
thể có những biểu hiện của suy giảm miễn dịch ngày càng tăng dần với số lượng tế
bào TCD4 giảm dần từ mức dưới 200 đến 0 tế bào/mm3 và tải lượng virus tăng trở
lại. Về sau, nhất là khi số lượng tế bào TCD4 giảm tới mức 200, bệnh nhân bị mắc
một số bệnh trong 26 bệnh định nghĩa AIDS của CDC thì sẽ tiến tới tử vong sau
vài tháng đến vài năm [10].
1.1.3. Phòng chống lây truyền HIV
1.1.3.1. Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con:
Chiến lược can thiệp dự phòng lây truyền từ mẹ sang con của chương trình
phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) và Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) hướng dẫn các quốc gia thực hiện chương trình Phòng lây truyền HIV từ
mẹ sang con gồm 4 thành tố [12]:


6

Hình 1.2: Bốn thành tố trong dự phòng lây truyền mẹ con
(Nguồn: Cục Phòng Chống HIV/AIDS Bộ Y tế, Hướng dẫn thực hiện dự phòng
lây truyền HIV từ mẹ sang con, 2011)
1.1.3.2. Dự phòng sau phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV

Phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCl
0,9% liên tục trong 5 phút.

-

Phơi nhiễm qua miệng, mũi:
+ Rửa, nhỏ mũi bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl 0,9 %.
+ Xúc miệng bằng dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần [14].

1.1.3.3. Chăm sóc người nhiễm HIV tại nhà và cộng đồng
Chăm sóc tại nhà và cộng đồng là một cách tiếp cận để thực hiện việc chăm
sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV và người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở ngay
tại nhà và tại cộng đồng của họ một cách toàn diện, nhằm giúp họ sống khỏe mạnh
và tích cực hơn, góp phần vào thành công trong điều trị. Các dịch vụ chăm sóc được
cung cấp bao gồm cả chăm sóc về thể chất, tư vấn và hỗ trợ tâm lí, tinh thần, hỗ trợ
về tuân thủ điều trị, kết nối và chuyển tới các dịch vụ có liên quan bao gồm cả dịch
vụ y tế và hỗ trợ xã hội; tư vấn sống khỏe mạnh, sống tích cực và phòng chống lây
nhiễm HIV [15].
1.1.3.4. Can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Can thiệp giảm tác hại là một cách tiếp cận nhấn mạnh vào các lợi ích y tế
công cộng và quyền được tiếp cận các dịch vụ dự phòng HIV của các nhóm nguy cơ
cao và có ý nghĩa bổ sung cho các tiếp cận khác như việc sử dụng các biện pháp
hành chính, việc ngăn chặn cung hoặc cầu [16].
Can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV là một trong 04 nhiệm
vụ trong tâm của Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và


8

tầm nhìn 2030. Các biện pháp can thiệp giảm tác hại theo luật định bao gồm: (1)

2009 đến năm 2012. Để đạt được mục tiêu toàn cầu giảm ít nhất 90% số lượng mới
nhiễm trùng ở trẻ em năm 2015, các chương trình dự phòng cần phải tăng tốc [18].
Mặc dù kết quả đã giảm và ta đã có những chiến lược mới để đối phó với
HIV/AIDS, song HIV/AIDS đã để lại những hậu quả, mất mát to lớn. Theo báo cáo
của Liên hợp quốc, tính đến cuối năm 2007 ở châu Phi có ít nhất 12 triệu trẻ em mất
cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ do AIDS, chiếm khoảng 80% tổng số trẻ mồ côi do
AIDS của thế giới. Cuối năm 2009, dịch HIV/AIDS vẫn bỏ lại phía sau 16,6 triệu
trẻ em mồ côi AIDS và ước tính năm 2010, châu Phi có 53 triệu trẻ em bị mồ côi
trong đó 30% là do AIDS [10].
1.2.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
Tại Việt Nam, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại thành phố Hồ Chí
Minh vào tháng 12 năm 1990. Tính đến tháng 5/2014 cả nước có 219.163 người
nhiễm HIV còn sống và đã có 69.449 người tử vong do HIV/AIDS, tỷ suất nhiễm
HIV trên toàn quốc là 248/100.000 dân [19]. Tính đến ngày 30/11/2013, 100%
tỉnh/thành phố, 78% xã/phường, gần 98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố phát
hiện người nhiễm HIV [3].


10

Hình 1.4: Phân bố người nhiễm HIV trong những năm 1993-2013
(Nguồn: Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012 và
trọng tâm kế hoạch 6 tháng cuối năm 2013 (2014), Hà Nội)
Phân bố người nhiễm HIV trong năm 93-97 của thế kỉ trước là dưới 5000
người, từ 1998 số người nhiễm tăng nhanh và đạt đỉnh cao nhất vào năm 2007 là
30.846 người nhiễm HIV, rồi giảm dần trong những năm gần đây. Tương tự với
phân bố số người nhiễm HIV/AIDS và tử vong do AIDS cũng tăng cao nhất vào
năm 2006-2007, rồi xu hướng giảm dần vào những năm gần đây [19].
Về phân bố người nhiễm HIV theo giới, phân bố người HIV phát hiện trong
năm 2013 ở nam giới chiếm 67,5%, nữ giới chiếm 32,5%, không thay đổi so với

giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong cộng động
dân cư nói chung, đặc biệt tăng cường hoạt động truyền thông thay đổi hành vi cho
các nhóm người dễ bị cảm nhiễm HIV, những người dễ bị tổn thương và thanh thiếu
niên; Đa dạng hoá và làm phong phú các hình thức truyền thông, như: thành lập các
câu lạc bộ; tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan văn hoá văn nghệ, biểu diễn các
tiểu phẩm, các tác phẩm văn học nghệ thuật, các ca khúc; xây dựng các chuyên
trang, chuyên mục; tổ chức các cuộc toạ đàm về phòng, chống HIV/AIDS
v.v...trong các cơ quan, đơn vị, cộng đồng, trường học và trên các phương tiện
thông tin đại chúng;…
- Tăng cường chất lượng và mở rộng các dịch vụ can thiệp giảm tác hại dự
phòng lây nhiễm HIV/AIDS cho nhóm người dễ bị cảm nhiễm HIV: Mở rộng độ


12

bao phủ và nâng cao chất lượng chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại bao gồm
chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch và chương trình phân phát và tiếp thị xã
hội bao cao su, chương trình điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế,
đặc biệt ưu tiên đối với các địa bàn có nhiều người nghiện chích ma túy, mại dâm
và tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao. Tập trung các can thiệp vào nhóm dễ bị cảm nhiễm
HIV/AIDS, nhóm có hành vi nguy cơ cao trong đó chú trọng nhóm nghiện chích ma
túy, phụ nữ bán dâm, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, nhóm dân di biến động
và thanh thiếu niên…
- Tăng cường chất lượng và mở rộng dịch vụ chẩn đoán, điều trị các nhiễm
khuẩn lây truyền qua đường tình dục: Tiếp tục tăng cường đầu tư mở rộng và nâng
cao chất lượng dịch vụ chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường
tình dục tại cộng đồng góp phần làm hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình
dục…
- Tăng cường chất lượng và mở rộng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS và dịch vụ
tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện: Triển khai đa dạng các hình thức dịch vụ tư vấn,

các mô hình điều trị mới.
- Công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: Nâng cao chất lượng và
mở rộng các dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Nâng cao năng lực
cho nhân viên y tế ở cơ sở y tế các cấp để thực hiện công tác dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con để đảm bảo thực hiện tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ
mang thai…
- Công tác chăm sóc toàn diện và giảm tác động của đại dịch HIV/AIDS.
- Thiết lập hệ thống chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV trên nền tảng của hệ
thống y tế với sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành địa phương. Xác
định gia đình, cộng đồng là yếu tố cơ bản trong chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm
HIV/AIDS.


Giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống

HIV/AIDS
- Tăng cường hệ thống giám sát, theo dõi và đánh giá quốc gia: Tăng cường
sự chỉ đạo, điều phối và củng cố hệ thống giám sát, theo dõi và đánh giá chương
trình phòng, chống HIV/AIDS ở các cấp.
- Cung cấp các bằng chứng tin cậy cho chương trình phòng, chống
HIV/AIDS thông qua hệ thống giám sát, theo dõi và đánh giá.


14

- Tăng cường sự chia sẻ và sử dụng hiệu quả thông tin chiến lược cho chỉ
đạo, xây dựng chính sách, đầu tư hiệu quả cho chương trình phòng, chống
HIV/AIDS quốc gia.
3. Hợp tác quốc tế: Mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS;
Tăng cường huy động nguồn lực trong phòng, chống HIV/AIDS; Tăng cường trách

nơi thực hiện mọi mặt quản lý xã hội. Là nơi đầu tiên đề xuất, đề nghị giải
quyết quyền lợi của người dân lên trên nhưng lại là nơi thực hiện kết quả cuối
cùng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Là cầu nối giữa
Nhà nước và nhân dân.
 Xã, phường là cấp hành chính quản lý đến từng gia đình, từng người. Do đó, xã,
phường là nơi có điều kiện thuận lợi nhất tiếp xúc với mỗi đối tượng, mỗi người
dân trong cộng đồng.
 Xã, phường là nơi diễn ra các sinh hoạt của cộng đồng và người dân, do vậy tất
cả các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cũng xảy ra trên địa bàn xã, phường.
 Cán bộ xã, phường thường là người địa phương, có mối quan hệ gia đình, họ
tộc, láng giềng với dân, hiểu rõ phong tục, tập quán, lối sống của dân. Do vậy
các kế hoạch và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại xã, phường cũng
thường sát thực nhất.


16

 HIV lây nhiễm qua các hành vi nguy cơ như sử dụng chung bơm kim tiêm và
các dụng cụ xuyên chích qua da, quan hệ tình dục không an toàn…Các hành vi
này cũng diễn ra tại gia đình và cộng đồng, mặt khác người nhiễm HIV/AIDS
cũng sinh sống và được chăm sóc hỗ trợ chủ yếu tại gia đình và cộng đồng, do
vậy các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cần phải được triển khai tại xã,
phường mới có hiệu quả.
1.2.3.2. Các thế mạnh của xã phường trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS.
Với vị trí và vai trò của mình, các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS sau là
những thế mạnh của tuyến xã, phường:
- Thông tin, giáo dục truyền thông cả trực tiếp và gián tiếp đến người dân để
vận động, thay đổi hành vi và quảng bá các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS cho
nhân dân.
- Phối hợp với các chương trình dự án triển khai các biện pháp can thiệp dự

các y tá của Trung Quốc và sở thích của họ trong chăm sóc cho các cá nhân có HIV
dương tính, kết quả cho thấy hầu hết các y tá có thể xác định các nguồn lây nhiễm
tiềm ẩn của HIV một cách chính xác, bao gồm cả quan hệ tình dục không được bảo
vệ, dùng chung kim tiêm và truyền máu bị nhiễm bệnh sử dụng. Một phần lớn y tá
(66%) cho thấy rằng sự hiểu biết của họ về thuật ngữ “nhiễm HIV” là giống như đối
với thuật ngữ "AIDS". Ngoài ra, 75 % của các y tá tin rằng một người có thể nhiễm
AIDS bằng cách ăn trong một nhà hàng mà nhân viên nhà hàng có HIV/AIDS,
trong khi 64 % tin rằng HIV có thể lây truyền qua vệ sinh công cộng hoặc bơi lội
trong một hồ bơi với một người đã bị nhiễm (52%). 40% các y tá cảm thấy rằng
bệnh nhân HIV dương tính nên được cách ly [21].
Một nghiên cứu khác như nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành năm
2007 tại 6 thành phố lớn của Trung Quốc (Bắc Kinh, Thượng Hải, Côn Minh, Thâm
Quyến, Vũ Hán, Trịnh Châu) trong nhóm thanh niên, lao động di cư và công nhân
từ 15-49 tuổi: hơn 48% người được phỏng vấn nghĩ rằng họ có thể bị lây nhiễm
HIV từ muỗi cắn, trên 18% cho rằng hắt hơi hoặc ho có thể lây truyền HIV, 34%


18

nghĩ rằng họ có thể bị lây nhiễm HIV bằng cách ăn uống với người bị nhiễm
HIV/AIDS, 35% cho rằng sử dụng chung một nhà vệ sinh, 20% sẽ không chạm vào
một thành viên trong gia đình hoặc người thân nhiễm bị HIV [22].
Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành y tá liên quan đến lây
truyền HIV ở Đông Bắc Trung Quốc cho thấy, các y tá đã nghe nói về AIDS, nhưng
7,4% không biết những gì gây ra bệnh AIDS. Hầu hết biết rằng xét nghiệm máu có
thể phát hiện virus HIV (98,9%) và máu là một đường lây truyền HIV (97,1%).
Trong 12 câu hỏi về HIV và AIDS cơ bản, số điểm trung bình là 6,66. Những người
tham gia nói rằng nếu họ được chẩn đoán là nhiễm HIV, 45% trong số họ sẽ gọi
một đường dây nóng thông tin về AIDS, 78% sẽ tìm cách khám sức khỏe toàn diện,
nhưng chỉ có 49% sẽ tránh quan hệ tình dục, và 5% sẽ không nói cho ai biết và sẽ

HIV cho thấy 86,4% biết rằng tiếp xúc gần gũi không phải là đường lây truyền HIV.
Về kiến thức về các nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV, chỉ có 7,8% đã nhận thức
được nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn ở những người độc thân, 65,2% biết rằng lây
truyền có thể xảy ra trong quá trình cho con bú [27]. Nghiên cứu khác về kiến thức
và thái độ lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm sinh viên y khoa 146 học sinh (94,2%)
lây truyền HIV có thể được giảm khi sử dụng bao cao su nhưng chỉ có 69 học sinh
(44,5%) trả lời một cách chính xác hiệu quả của bao cao su [28].
1.3.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng kiến thức về phòng chống
HIV/AIDS tương đối nhiều, tuy nhiên chủ yếu ở trên đối tượng nghiên cứu ở nhóm
đối tượng nguy cơ cao, ở người dân, ở thanh niên hay ở sinh viên y, các nghiên cứu
trên đối tượng nghiên cứu là cán bộ y tế như điều dưỡng, dược sĩ, bác sĩ còn ít. Một
nghiên cứu đánh giá kiến thức về HIV/AIDS của cán bộ chuyên trách, cán bộ thống
kê báo cáo tuyến xã, phường trong tỉnh Phú Yên năm 2009 với báo cáo kết quả: có
92% biết HIV là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, 8% cho rằng
HIV là bệnh chết người và nhiễm trùng cơ hội. Số cán bộ y tế trả lời được đúng cả 3
đường lây truyền HIV chiếm 85%, đến 95% không liệt kê được 3 điều kiện lây
truyền HIV [29].


20

Một nghiên cứu điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm
HIV/AIDS và đánh giá tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS trên nhóm người nghiện chích ma túy
tại Khánh Hòa, năm 2008 cho thấy 97,6% đối tượng nghiên cứu biết đúng cả 3
đường lây truyền HIV, 100% biết HIV có thể phòng tránh lây nhiễm từ người này
sang người khác và trong đó, 96,4% biết đúng cả 3 cách phòng lây nhiễm HIV. 30%
có hiểu biết về điều trị thay thế methadone và 81% biết được lợi ích của phương
pháp là uống [30]. Một nghiên cứu khác cũng tại Khánh Hòa, trên đối tượng nghiên
cứu ở nhóm nguy cơ cao là gái mại dâm cũng cho kết quả tương tự, 95,5% biết

ăn uống chung với người nhiễm HIV làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV [36].
Một nghiên cứu được tiến hành trên các trường trung cấp Y Việt Nam năm
2013 cho thấy 52,7% học sinh nhận thức được việc lây nhiễm HIV qua đường quan
hệ tình dục hậu môn và chỉ có 38,0% biết rằng quan hệ tình dục theo đường miệng
cũng có thể lây truyền HIV. Một số học sinh vẫn tin rằng nước bọt, ôm hôn và muỗi
đốt có thế lây truyền HIV tương ứng 5,5%, 2,9% và 7,3%. Có 59,0% học sinh biết
cả 3 giai đoạn lây truyền từ mẹ sang con là mang thai, chuyển dạ và cho con bú và
có 48% học sinh biêt rằng sữa mẹ cũng có lể lây truyền HIV cho con. Hơn 6% học
sinh cho rằng nước tiểu, nước bọt hay nước mắt có thể làm lây truyền HIV. Kiến
thức về virus HIV, chỉ có 33,3% cho rằng hóa chất sát khuẩn thông thường có thể
tiêu diệt được virus HIV. Có 8,6% và 8,4% cho rằng không ăn uống chung và tránh
muỗi đốt là biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, có đến 11,8% học sinh cho rằng
tránh muỗi đốt giúp giảm lây truyền HIV. Kiến thức về xét nghiệm chẩn đoán người
nhiễm HIV, có đến 30% học sinh không biết câu trả lời. Về nguyên nhân chính dẫn
đến kháng thuốc điều trị ARV, có đến 20,4% học sinh không biết câu trả lời đúng
và chỉ có 36,6% học sinh trả lời đúng là do không tuân thủ điều trị [37].
1.3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về phòng chống HIV.
Đã có một vài nghiên cứu chỉ ra một vài yếu tố liên quan đến kiến thức về
phòng chống HIV. Như một nghiên cứu Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và
hiệu quả mô hình can thiệp phòng lây nhiễm HIV trong nhóm dân tộc thái 15 – 49
tuổi tại 2 huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa năm 2013 cho kết quả: Kiến thức dự phòng


22

HIV của đối tượng nghiên cứu chủ yếu nhận được từ nguồn thông tin trực tiếp như
các cuộc họp thôn bản (3,7 lần) và cán bộ y tế cơ sở (2,1 lần). Kiến thức phản đối
các quan niệm sai lầm về HIV/AIDS chủ yếu nhận được từ nguồn trực tiếp là cán
bộ y tế (2,2 lần) và nguồn thông tin đại chúng (5,6 lần), tờ rơi (2,1 lần). Đối tượng
nghiên cứu biết nơi có thể tiếp cận các dịch vụ y tế phòng chống HIV qua kênh đại

vẫn ở nam giới, chiếm 84,7%. Có gia đình cả vợ chồng và các con cũng bị nhiễm,
nhiều trường hợp phát hiện được cả ở phụ nữ có thai và thanh niên khám tuyển
nghĩa vụ quân sự [8].
Theo điều tra tỷ lệ hiện nhiễm HIV, hành vi nguy cơ và các hoạt động can
thiệp giảm hại phòng lây nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao tại 10 tỉnh ở Việt
Nam năm 2012 của Viện Về sinh Dịch tễ Trung ương, cho thấy tỷ lệ nhận được bao
cao su rất thấp ở hầu hết các tỉnh, có tỉnh hầu như chưa có hoạt động can thiệp này
là Hà Nam 2,6%. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ bán dâm tương đối thấp ở
đa số các tỉnh trong điều tra này, tuy nhiên, tại một số tỉnh tỉ lệ hiện nhiễm HIV ở
nhóm này tương đối cao như Hà Nam (10%), cao hơn cả Sơn La (7,1%). Cùng với
đó, tỷ lệ phụ nữ bán dâm được khám và điều trị STI trong vòng 3 tháng qua còn
thấp ở một số tỉnh (trung vị 32,7%), đặc biệt ở Hà Nam, Hưng Yên và Sơn La đều
dưới 20% [7].
Trong những năm qua, Ban chỉ đạo phòng chống AIDS của tỉnh đã được
kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt tại 42 xã phường trọng điểm. Trung tâm phòng
chống HIV/AIDS đã tổ chức tập huấn những kiến thức về HIV/AIDS cho những
cán bộ chuyên trách trực tiếp tiếp cận với bệnh nhân AIDS, đồng thời kết hợp với
các khoa liên quan tại các bệnh viện để tư vấn và hỗ trợ các bệnh nhân trong công
tác điều trị. Theo ông Cao Đình Thắng - Giám đốc Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS tỉnh Hà Nam: Hiện nay Trung tâm đang gặp khó khăn trong công tác
chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS. Trong đó chủ yếu là cơ số thuốc
ARV và thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội còn quá hạn chế trong khi nhu cầu thực tế
cần được điều trị khá lớn. Bên cạnh đó, các cán bộ chuyên trách điều trị HIV/AIDS
tại tuyến cơ sở chưa được trang bị những kiến thức chuyên sâu về điều trị cho người
nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là đối tượng trẻ em [8].


24

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phần 3: Kiến thức về dự phòng HIV
Phần 4: Kiến thức về chăm sóc và điều trị bệnh nhân nhiễm HIV
Phần 5: Kiến thức về thực hành phòng, chống HIV.


25

2.4.2. Kĩ thuật thu thập thông tin:
Các CBYT được tập trung tại phòng họp của TYT. Các điều tra viên phổ biến
về mục tiêu, nội dung nghiên cứu và hướng dẫn CBYT tự điền vào bộ câu hỏi. Các
CBYT xã tự điền vào bộ câu hỏi ngay tại đó với sự giám sát của điều tra viên. Các
phiếu điều tra sẽ được thu lại ngay sau khi CBYT hoàn thành.

2.5. Xử lí và phân tích số liệu
 Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm
Epidata 3.1. Phần mềm thống kê Stata 11 được sử dụng để tính toán số lượng, tỉ
lệ, trung bình; sử dụng hồi quy logistic để tìm mối tương quan giữa tổng điểm
kiến thức và một số yếu tố.
 Biến số tổng kiến thức về phòng, chống HIV của CBYT xã (nhóm nghiên cứu
tự xây dựng)
- Các ý trả lời đúng được 1 điểm.
- Trả lời sai là 0 điểm.
Cụ thể đối với từng câu hỏi:
- Đường lây truyền HIV: tối đa là 6 điểm.
- Giai đoạn mẹ lây truyền HIV sang con: tối đa là 1 điểm.
- Những dịch và dịch tiết có nồng độ HIV cao lây truyền HIV: tối đa là 5
điểm.
- Kể tên 3 điều kiện trong lây truyền HIV: Trả lời đúng 3 điều kiện là virus
thoát ra và tồn tại, đủ số lượng, xâm nhập vào cơ thể, tối đa là 1 điểm.
- Sắp xếp trật tự 3 điều kiện đó trong lây truyền HIV: Sắp xếp đúng theo thứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status