VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 603801.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2017
Cụng trỡnh c hon thnh ti: Hc vin Khoa hc xó hi
Ngi hng dn khoa hc: TS. NG V HUN
Phản biện 1: PGS.TS Bựi Ngc Cng
Phản biện 2: TS. Nguyn Vn Tuyn
Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội 14 giờ 00 ngày 25 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Th- viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
về doanh nghiệp xã hội, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ cơ bản
của doanh nghiệp, liên hệ, phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động,
từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(i) Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp xã hội,
địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội;
(ii) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý
của doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014, chỉ ra những
điểm còn vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện;
(iii) Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp xã hội; hệ thống pháp luật Việt
Nam hiện hành về doanh nghiệp xã hội và thực tiễn thực hiện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn tập trung chủ yếu vào các
quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội
theo Luật Doanh nghiệp 2014, đồng thời Luận văn có tham khảo kinh
nghiệm pháp luật các nước về vấn đề này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu để thực hiện luận văn này
bao gồm: phương pháp phân tích tổng hợp, miêu tả, so sánh, phân
tích, đánh giá và dự báo…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
2
liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân.
Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ
từ thiện.
Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào doanh nghiệp xã
hội đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành
một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Ở Việt Nam, trước đổi mới năm 1986, hợp tác xã có thể được
coi là mô hình doanh nghiệp xã hội sớm nhất ở Việt Nam. Trong số
các hợp tác xã ra đời trong giai đoạn này, một số không nhỏ được
thành lập để tạo việc làm, hỗ trợ cuộc sống cho những đối tượng yếu
thế của xã hội, chủ yếu là người khuyết tật. Hầu hết các hợp tác xã
của người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp,
như mây tre, đan thêu, may mặc.
4
Từ năm 1986 đến 2010, mặc dù doanh nghiệp xã hội đã
manh nha xuất hiện dưới hình thức hợp tác xã từ lâu, nhưng các hoạt
động kinh doanh vì mục tiêu xã hội với đầy đủ các đặc điểm cơ bản
của mô hình doanh nghiệp xã hội chỉ bắt đầu phát triển kể từ khi
chính sách đổi mới được thực hiện vào năm 1986. Nhìn chung, giai
đoạn đổi mới là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp và tổ chức xã hội ngoài Nhà nước, trong đó có doanh nghiệp
xã hội. Tuy nhiên, sự tách biệt hai lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã
hội cả trong tư duy lẫn hoạt động thực tế đã hạn chế sự ra đời của mô
hình hỗn hợp như doanh nghiệp xã hội.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội
1.1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp xã hội
1.1.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội
vậy, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản
ánh và thể hiện ở những phương diện sau: Thứ nhất, các quy định của
pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của từng loại hình doanh
nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong mỗi loại hình
doanh nghiệp; Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
của doanh nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò
và chức năng của doanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà
doanh nghiệp đảm nhận trên cơ sở những quy định của pháp luật khi
doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt
động.
Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội là những khái niệm
chưa được thống nhất, chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên khi đề cập
đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường dùng một khái niệm:
tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được nhà nước thừa nhận
là một chủ thể pháp lý độc lập. Theo đó, tư cách chủ thể phản ánh vị
trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, cần
6
có cách tiếp cận mới năng động và đa dạng đối với địa vị, vai trò mới
của doanh nghiệp xã hội trong kinh tế thị trường.
1.2.2. Nội dung địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 có thể hiểu doanh nghiệp
xã hội là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, với
mục đích hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi
ích cộng đồng, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng
năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường.
Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014,
thì doanh nghiệp xã hội có tiêu chí đầu tiên là doanh nghiệp được
đăng ký thành lập theo quy định của Luật này. Hiện nay, thủ tục
của mô hình này, để góp phần tạo nên “hệ sinh thái” tốt, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp xã hội phát triển như nhiều quốc gia trên thế giới.
8
Chương 2
THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP XÃ
HỘI THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
2.1. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở việt nam
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội theo pháp
luật hiện hành
Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm mới được luật hóa quy
định cụ thể tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, theo đó, mặc
dù không đưa ra khái niệm cụ thể, nhưng Luật đã quy định về “Tiêu
chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội”. Cụ thể:
1. Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
(a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định
của Luật này;
(b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi
trường vì lợi ích cộng đồng;
(c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh
nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như
đã đăng ký.
2. Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy
định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có các quyền và nghĩa vụ sau
đây:
(a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm b và điểm
c khoản 1 Điều này trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh
nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc
theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hiện nay, văn bản pháp quy điều chỉnh các hoạt động của
doanh nghiệp xã hội, cũng như loại hình doanh nghiệp hay một địa vị
pháp lý dành riêng cho doanh nghiệp xã hội còn hạn chế.
10
Khó khăn trong việc thành lập doanh nghiệp xã hội, trước
hết, khuôn khổ pháp lý cho loại hình tổ chức xã hội ở Việt Nam cũng
chưa hoàn thiện, còn nhiều quy định chồng chéo gây rất nhiều khó
khăn cho một cá nhân, một nhóm muốn thành lập một tổ chức xã hội
ở Việt Nam.
Việc đăng ký kinh doanh dưới loại hình doanh nghiệp tương
đối đơn giản hơn nhưng kéo theo đó là vấn đề doanh nghiệp xã hội
phải làm sao để thống nhất và đáp ứng quyền lợi cho các nhà đầu tư
khác nhau tham gia vào doanh nghiệp xã hội với các mục tiêu đa
dạng. Trên thực tế, không ít doanh nghiệp xã hội gặp trường hợp các
cổ đông không nhất quán về việc tái đầu tư lợi nhuận cho mục đích
xã hội và phát triển tổ chức.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xã hội rất lúng túng và gặp
nhiều vướng mắc trong việc vận hành một mô hình kết hợp giữa mục
tiêu xã hội và hoạt động kinh doanh trong môi trường pháp lý chưa
hoàn thiện ở Việt Nam, thể hiện rõ nhất là ở các vấn đề liên quan tới
tài chính: quy định nhận viện trợ, tài trợ, các chính sách quy định về
thuế và quản lý tài chính, khả năng tiếp cận các ưu đãi và các quy
định quản lý nhà nước đối với các đối tượng đặc biệt trong xã hội.
Do đặc thù của doanh nghiệp xã hội là sự kết hợp giữa các
hoạt động xã hội và kinh doanh tạo nguồn thu nên có rất nhiều các
khoản chi phí của doanh nghiệp không phải là các khoản chi phí hợp
lợi nhuận. Cùng với việc luật hóa những quy định về doanh nghiệp
xã hội và tạo ra những cơ chế, chính sách thuận lợi, mô hình doanh
nghiệp xã hội cho thấy, còn nhiều tiềm năng và triển vọng phát triển
trong tương lai, là mảnh đất màu mỡ cho các bạn trẻ có hoài bão làm
giàu và sống có ích.
Doanh nghiệp xã hội sẽ là một xu hướng kinh doanh mới
trong tương lai vì chúng ta có quá nhiều vấn đề để giải quyết. Doanh
12
nghiệp xã hội đã có từ lâu nhưng giờ trở thành xu thế và bắt đầu hòa
nhập vào dòng chảy chính của kinh doanh. Doanh nghiệp xã hội là
một phong trào trên toàn thế giới được gắn kết bằng một sự cam kết
đơn giản rằng những thách thức doanh nghiệp gặp phải sẽ được giải
quyết thông qua hình thức kinh doanh khác đi. Tuy có nhiều quan
điểm khác nhau, nhưng tất cả đều cho thấy, doanh nghiệp xã hội là
hình thức doanh nghiệp tối ưu, nó không chỉ góp phần giải quyết các
khó khăn cho doanh nghiệp mà còn tạo thuận lợi và cải thiện về xã
hội, môi trường xung quanh, góp phần phát triển doanh nghiệp cũng
như nền kinh tế theo hướng bền vững.
2.2.2. Những khó khăn hiện tại của các doanh nghiệp xã hội ở Việt
Nam
Thứ nhất, nhận thức về doanh nghiệp xã hội còn rất hạn chế
Thứ hai, hiện nay còn thiếu một hệ thống tiêu chí, quy chuẩn
linh hoạt cho các doanh nghiệp xã hội
Thứ ba, doanh nghiệp xã hội thiếu vốn và khó khăn, yếu kém
trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính
Thứ tư, hiện nay còn thiếu các kênh dẫn truyền, các tổ chức
trung gian, cơ chế quản lý nhà nước linh hoạt và minh bạch để tạo
lập được thị trường tài chính cho các doanh nghiệp xã hội
tảng cho việc hình thành môi trường pháp lý cùng những chính sách
phù hợp nhằm khuyến khích hoạt động và sự phát triển của doanh
nghiệp xã hội như một thành phần kinh tế mới bên cạnh các khối
kinh tế công và tư. Các doanh nghiệp xã hội được chính thức công
nhận cho thấy sự nhìn nhận của Chính phủ, các nhà làm luật với vai
trò thúc đẩy các tác động xã hội tích cực dựa trên các mô hình kinh
doanh bền vững của doanh nghiệp xã hội. Và khi danh đã chính, các
14
doanh nghiệp xã hội mong muốn có thêm các quy định cụ thể, rõ
ràng giúp họ phát triển, mở rộng quy mô hoạt động và tiếp cận đa
dạng nguồn vốn đầu tư.
3.1.2. Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các
doanh nghiệp xã hội mở rộng quy mô tác động xã hội
Các doanh nghiệp xã hội tham gia hoạt động kinh doanh tạo
ra giá trị xã hội và tạo điều kiện mở rộng quy mô của các giải pháp
kinh doanh vì sự tác động lâu dài và bền vững. Để hình thành một hệ
sinh thái cho phép các sáng kiến kinh doanh trở nên hiệu quả hơn cần
tham gia trực tiếp vào việc sáng tạo giải pháp kinh doanh và nhân
rộng hiệu quả của các giải pháp đó. Nhằm thực hiện điều này, chúng
ta cần:
Huy động các nguồn lực dưới các hình thức như gây
quỹ, hỗ trợ thực hiện dự án, các nguồn lực tri thức và xã hội, các kỹ
năng kinh doanh và quản lý tài chính
hội. Trong xã hội còn tồn tại cách hiểu chưa rõ ràng về doanh nghiệp
xã hội và một doanh nghiệp tham gia các hoạt động xã hội. Thậm chí,
theo nhiều nghiên cứu, phần lớn sinh viên kinh tế không hiểu doanh
nghiệp xã hội là gì.
Sự tồn tại của doanh nghiệp xã hội mang tính nhân văn rất
cao với mục tiêu cao cả là phụng sự xã hội, hướng đến một xã hội
văn minh, tiến bộ, tạo điều kiện cho những người yếu thế và những
người có hoàn cảnh khó khăn có nhiều hơn cơ hội hòa nhập, phát
triển và sáng tạo. Do đó, mô hình doanh nghiệp xã hội cụ thể là các
vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội
cần được truyền thông tích cực hơn nữa để doanh nhân nói riêng, xã
hội nói chung có hình dung rõ ràng hơn nhất là khi mô hình này đã
được luật hóa tại Luật Doanh nghiệp năm 2014.
3.1.4. Thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam và
đề cao vai trò của tổ chức này trong xây dựng và tư vấn chính sách
liên quan đến doanh nghiệp xã hội
Doanh nghiệp xã hội là một mô hình doanh nghiệp có những
đặc trưng riêng khác với những loại hình doanh nghiệp hoạt động
bình thường khác. Để có thể phát triển và có chỗ đứng vững vàng
hơn nữa không thể thiếu vai trò của một tổ chức là cầu nối, đại diện
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi doanh nghiệp xã hội là Hội
16
viên trong các quan hệ kinh tế - xã hội với các tổ chức trong và ngoài
nước, làm cầu nối trong mối quan hệ giữa các Hội viên với các cơ
quan Đảng, Chính quyền, các cơ quan hữu quan, nhằm giải quyết các
vấn đề có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong khuôn khổ Pháp luật quy định. Tổ chức đó là Hiệp hội
các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.
thu nhập cho cộng đồng những người dễ bị tổn thương; kinh doanh
và phát triển thị trường với người nghèo; đầu tư vào các lĩnh vực mới
như năng lượng mới, sản xuất hữu cơ, tái chế rác thải. Có thể thấy,
doanh nghiệp xã hội bước đầu đã có sức ảnh hưởng, lan tỏa mạnh mẽ
trong cộng đồng.
Hiện nay, các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ
cũng như các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cùng cộng đồng
đã có nhiều hoạt động thiết thực, đa dạng nhằm gây dựng một hệ sinh
thái thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội ở Việt
Nam. Bên cạnh đó, việc vận động chính sách để xây dựng chính sách
thuận lợi hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội là hoạt động chiến lược
được các bên liên quan triển khai như nghiên cứu vận động chính
sách, nghiên cứu học hỏi mô hình pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp xã hội
của các nước trên thế giới, tham vấn chính sách với các bên liên
quan, soạn thảo luật và nghị định trình Quốc hội và Chính phủ thông
qua luật và nghị định.
Tuy nhiên, vẫn còn không ít khó khăn, rào cản cho sự phát
triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam. Khó khăn lớn nhất là việc
thiếu nguồn lực tài chính, thiếu vốn. Bên cạnh đó, sức ép từ chất
lượng sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, hệ thống quản lý sản xuất
kinh doanh, đầu ra sản phẩm, chi phí… cũng đang đặt lên vai các
doanh nghiệp này.
18
Về phía các doanh nghiệp xã hội, cần hiểu rõ thực trạng phát
triển và nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp mình cũng như có chiến
lược kinh doanh và kế hoạch huy động tài chính rõ ràng. Bên cạnh
đó, các doanh nghiệp xã hội cần chủ động tìm hiểu động cơ, giá trị và
Trong 20 năm gần đây, mô hình doanh nghiệp xã hội ngày
càng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của nhiều chính phủ, doanh
nghiệp và các tổ chức phát triển trên thế giới. Hiện nay, hiểu biết về
doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế, gây nhiều khó
khăn cho sự phát triển và nhân rộng các mô hình thành công. Tuy
nhiên, cơ hội và tính cần thiết phải phát triển doanh nghiệp xã hội
như một mô hình kinh tế bền vững nhằm giải quyết một cách hiệu
quả các vấn đề xã hội và môi trường ngày một trở nên bức thiết. Đã
đến lúc Chính phủ cần coi các doanh nghiệp xã hội như những đối
tác quan trọng trong việc hợp tác thực hiện các mục tiêu xã hội và
20
đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp xã hội phát triển bằng việc ban hành
các văn bản pháp luật tạo lập khuôn khổ pháp lý và đề ra các chính
sách cụ thể khuyến khích sự phát triển của mô hình này.
Khuyến khích thành lập doanh nghiệp xã hội đang là chủ
trương lớn của nhiều quốc gia bởi đây là mô hình doanh nghiệp khả
thi góp phần giúp chính phủ giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội,
đóng góp vào GDP quốc gia và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Trong
bối cảnh kinh tế khó khăn của nước ta hiện nay, hình thức tổ chức
kinh tế mới – Doanh nghiệp xã hội (Social Enterprise) được phát
triển như một giải pháp tích cực trong việc hạn chế, giải quyết và xử
lý các vấn đề xã hội - rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện và bền
vững của đất nước./.
21