ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
LƢƠNG THỊ KIỀU
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNGỞ ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
NUÔI TẠI TRANG TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH BA VÌ –
HÀ NỘI VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên – năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
LƢƠNG THỊ KIỀU
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNGỞ ĐÀN LỢN NÁI
NGOẠI NUÔI TẠI TRANG TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH
BA VÌ - HÀ NỘI VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Lƣơng Thị Kiều
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chƣơng trình đào tạo trong nhà trƣờng, thực hiện
phƣơng châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chƣơng trình học tập
của tất cả các trƣờng Đại học nói chung và trƣờng Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh
viên trƣớc khi ra trƣờng. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ
thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với
thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm đƣợc phƣơng
thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát
triển đất nƣớc ngày càng đi lên.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và đƣợc sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đƣợc
sự phân công của cô giáo hƣớng dẫn và sự tiếp nhận của chủ Trại ông
Nguyễn Thanh Lịch, tôi đã về thực tập tốt nghiệp tại Trại và thực hiện đề
tài : “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại
lợn Nguyễn Thanh Lịch Ba Vì - Hà Nội và một số phác đồ điều trị”.Do
bƣớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn
chƣa sâu, kinh nghiệm thực tế chƣa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên
trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Tôi kính mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo
cùng bạn để bản khóa luận của tôi đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
4.2.2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ của lợn nái ..............................48
4.2.3. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi .............................49
4.2.4. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến thời gian động dục trở lại của
lợn nái bị nhiễm viêm tử cung .............................................................................50
4.2.5. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng thụ thai của lợn nái
sau khi khỏi bệnh .................................................................................................52
Phần 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................54
5.1 Kết luận .........................................................................................................54
5.2. Đề nghị .........................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................56
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung ..................................33
Bảng 3.2. Sơ đồ thử nghiệm hai phác đồ điều trịError! Bookmark not defined.
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn qua các năm ...............................................................39
Bảng 4.2: Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái ..........................................41
Bảng 4.3: Lịch phòng vaccin của trạ...................................................................42
Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả công tác thú y tại cơ sở..........................................46
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái trong 3 năm...................47
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ của lợn nái ........................48
Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi ......................49
Bảng 4.8: Ảnh hƣởng của bệnh viêm tử cung đến thời gian động dục trở lại
của lợn nái bị nhiễm viêm tử cung ......................................................................51
Bảng 4.9: Ảnh hƣởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng thụ thai của lợn
nái sau khi khỏi bệnh...........................................................................................52
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, ở Việt Nam thịt lợn luôn chiếm tỷ lệ hàng đầu 70,4 - 76,8%
khối lƣợng thịt bán trên thị trƣờng, thịt gia cầm chiếm 14,3 - 15,1%, còn thịt trâu
bò chỉ chiếm 8,2 - 12,1%. Vì vậy, chăn nuôi lợn cần đƣợc ƣu tiên phát triển hơn
nữa để đáp ứng đƣợc nhu cầu thiêu thụ thịt lợn của ngƣời tiêu dùng. Chăn nuôi
lợn không những chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nƣớc mà còn phải
tham gia xuất khẩu. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn tận dụng đƣợc sức lao động
nhàn rỗi, tận dụng phế phụ phẩm dƣ thừa của nông nghiệp, góp phần làm tăng
thêm thu nhập cho ngƣời chăn nuôi.
Chăn nuôi lợn ngoại đang đƣợc đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ
cũng nhƣ ở các trang trại quy mô công nghiệp hiện nay. Bởi vì, chăn nuôi
lợn ngoại có năng suất cao, tăng khối lƣợng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ
nạc cao, độ dày mỡ lƣng thấp) đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng
đang đòi hỏi, về giá cả sự ƣa chuộng hơn các loại thịt khác. Nhu cầu cao hơn
cả là ở khu vực thành phố và các khu công nghiệp. Cho đến nay,
lợnLandrace và Yorkshire là hai giống lợn đóng vai trò chủ yếu trong khâu
sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, hai giống lợn này đã và đang góp
phần quan trọng vào các chƣơng trình “nạc hóa” đàn lợn ở nƣớc ta.
Để đáp ứng nhu cầu trên, trại lợn nái của ông Nguyễn Thanh Lịch đƣợc
đầu từ xây dựng cơ sở vật chất để nuôi lợn nái sinh sản. Để nâng cao khả
năng sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế và chất lƣợng sản phẩm cần nắm rõ
tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của trại. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một
trong những tổn thƣơng đƣờng sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hƣởng
2
rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc,
suy dinh dƣỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn nái chậm động dục trở lại,
không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản. Không những
730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi. Đặc điểm
chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự
phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông
lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C.
Lƣợng mƣa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập
trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%, vùng thấp
thƣờng khô hanh vào tháng 12 và tháng 1.
Trại có diện tích đất là 2ha, đƣợc xây dựng cách xa với đƣờng lớn, xa trƣờng
học và nơi ít dân cƣ sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và cách xa
trại là cánh đồng lúa. Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nƣớc vào
mùa mƣa nhiều. Xung quanh các chuồng nuôi đƣợc trồng cây tạo bóng râm
mát cho mùa hè.
- Cơ cấu tổ chức và quản lý:
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 17 ngƣời:
4
Chủ trại: 1 ngƣời
Quản lý trại: 1 ngƣời
Kỹ sƣ chăn nuôi: 2 ngƣời
Phục vụ: 1 ngƣời
Thợ điện: 1 ngƣời
Công nhân: 3 ngƣời
Sinh viên thực tập: 08 ngƣời
- Điều kiện cơ sở vật chất:
Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn xã Ba Trại,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đƣợc thành lập và đi vào sản xuất từ năm
2010 với số vốn đầu tƣ lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản
cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn
phun thuốc sát trùng và để trống ít nhất 5 ngày trƣớc khi đƣa đàn lợn mới lên
đẻ. Nhƣ vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại
thƣờng xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế đƣợc khả năng lan
truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác.
Hệ thống thông thoáng đối với chăn nuôi lợn công nghiệp rất quan
trọng, ngoài việc cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp của lợn, nó còn giúp
giải phóng khí độc do phân, nƣớc tiểu gây ra. Chính vì vậy, trại đã sử dụng hệ
thống làm mát và chống nóng ở mỗi dãy chuồng vào mùa hè và hệ thống sƣởi
ấm vào mùa đông. Bên cạnh đó các dãy chuồng đƣợc sắp xếp theo hƣớng
Đông Nam để đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè.
Đặc biệt vào mùa hè, thời tiết rất nóng sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến
khả năng sinh sản của đàn lợn nái cũng nhƣ sự sinh trƣởng và phát triển của
lợn con. Do đó trại đã lắp đặt hệ thống chống nóng gồm hệ thống quạt gió ở
6
cuối mỗi dãy chuồng có tác dụng hút không khí có hơi nƣớc từ hệ thống dàn
mát trên đầu chuồng tạo luồng khí mát, thông thoáng. Hai dãy tƣờng chuồng
đƣợc phủ một tấm lƣới cách nhiệt và có tác dụng giữ ẩm. Chính vì vậy không
khí trong chuồng lợn luôn mát và nhiệt độ luôn duy trì trong khoảng 28oC 30oC.
Trại trang bị hệ thống lồng úm bên trong có treo một bóng đèn sợi đốt
100W(mùa hè) hoặc 200W(mùa đông) Với lợn sau cai sữa cũng có một đèn
sƣởi hoặc tấm sƣởi ở mỗi ô chuồng, đảm bảo luôn duy trì nhiệt độ thích hợp
cho lợn con.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn nái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái gồm bộ phận sinh dục bên ngoài
và bộ phận sinh dục bên trong.
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
giữa và lớp niêm mạc ở trong. Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thƣợng bì gấp
nếp dọc. Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và
thấp nhất ở các ngày 12-16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở
các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính
dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng. Sự co rút của âm đạo, tử cung và
ống dẫn trứng đƣợc kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá
trình kích thích trƣớc lúc giao phối.
* Tử cung
8
Tử cung nằm trong xoang chậu, dƣới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo nằm trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trƣớc xoang chậu, tử
cung đƣợc giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và đƣợc giữ bởi
các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung hai sừng. Gồm hai sừng thông
với thân và cổ tử cung.
Sừng tử cung: dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng.
Thân tử cung: dài 3 - 5 cm.
Cổ tử cung: dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các cột thịt xếp
theo kiểu cài răng lƣợc thông với âm đạo.
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tƣơng mạc lớp cơ trơn
và lớp nội mạc:
Lớp tƣơng mạc: là lớp màng sợi dai chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối
tiếp hệ thống các dây chằng.
Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dầy ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở
ngoài, giữa hai tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản
đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn, ngoài ra các bó sợi cơ trơn đan vào nhau
dịch. Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc,
ở ngoài có chỗ dầy lên để chứa trứng (ovum).
* Ống dẫn trứng
- Ống dẫn trứng (vòi Fallop): nằm ở màng treo buồng trứng.Một đầu
của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có hình loa kèn,
trên loa kèn hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều. Đầu kia thông
với mút sừng tử cung là một cái ống nhỏ ngoằn ngoèo.
- Cấu tạo gồm 3 lớp:
+ Lớp ngoài là lớp sợi liên kết
+ Lớp giữa là lớp cơ
10
+ Lớp trong là lớp niêm mạc: Lớp niêm mạc gồm các tế bào thƣợng bì
có nhung mao, khi tế bào trứng rụng và rơi vào loa kèn theo ống dẫn trứng đi
xuống là nhờ sự rung động của các nhung mao và sự co bóp của các lớp cơ.
- Khi tinh trùng vào đƣờng sinh dục con cái, tế bào trứng đƣợc thụ tinh.
Quá trình thụ tinh thƣờng diễn ra ở ống dẫn trứng.Đƣờng kính ống dẫn trứng:
0,2 – 0,4 mm. Ống dẫn trứng đƣợc chia thành hai đoạn:
+ Đoạn 1: Ống dẫn trứng phía buồng trứng: Phần đầu trên thông với
xoang bụng ở gần buồng trứng, đƣợc phát triển to tạo thành một cái phễu để
hứng tế bào trứng, loa kèn phủ toàn phần buồng trứng. Loa kèn có nhiều tua,
nhung mao rung động để hứng tế bào trứng. Quá trình thụ tinh thƣờng xảy ra
ở đoạn 1/3 phía trên ống dẫn trứng khi trứng và tinh trùng gặp nhau.
+ Đoạn 2: Ống dẫn trứng phía sừng tử cung: Một đầu gắn với đoạn 1,
một đầu gắn với mút sừng tử cung.Cấu tạo cũng gồm 3 lớp: lớp liên kết sợi ở
ngoài cùng, ở giữa là hai lớp cơ trơn, bên trong là lớp niêm mạc đƣợc cấu tạo
bằng những tế bào hình trụ, hình vuông có chức năng tiết dịch.Trên bề mặt
niêm mạc còn đƣợc phủ một lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào
tích tụ đƣợc chất dinh dƣỡng nuôi thai, trứng chƣa chín một cách hoàn chỉnh.
Để đạt đƣợc hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1- 2
chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.
Lợn nội thƣờng phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lƣợng
đạt 40 - 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lƣợng không dƣới 65 - 70 kg,
nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi.
12
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hƣởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn
mẹ. Nhƣng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hƣởng đến
sinh sản của lợn.
+ Tuổi đẻ lứa đầu: theo Lê Hồng Mận (2004) [11], Lợn ỉ, Móng Cái
cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi.
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ.
Chu kỳ tính dục của lợn nái thƣờng khoảng 19 - 21 ngày. Thời gian
động dục thƣờng kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn
ngoại) (Nguyễn Văn Thiện, 1986) [18].
Lê Hồng Mận (2004) [11] cho biết: thƣờng sau khi cai sữa lợn con 3 - 5
ngày, lợn mẹ động dục trở lại.
+ Đặc điểm động dục của lợn nái: ở lợn nái, thời gian động dục chia
làm 3 giai đoạn: trƣớc chịu đực, chịu đực và sau chịu đực.
Trƣớc chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con
khác nhảy lên lƣng. Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40h ở lợn ngoại và lợn lại,
25 - 30h ở lợn nội.
Chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lƣng mông, âm hộ
giảm sƣng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho
đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30h ở lợn nội. Nếu
đƣợc phối giống lợn sẽ thụ thai.
có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dƣỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm nhƣ: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số
bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết
lƣu và viêm tử cung.
14
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trƣớc, trong thời kỳ mang thai có
ảnh hƣởng đến viêm tử cung.
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do sây sát.
Ngƣợc lại thiếu chất dinh dƣỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hƣởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A
gây sƣng niêm mạc, sót nhau.
* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trƣớc khi đẻ
không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh. Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thƣơng
niêm mạc. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đƣa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái. Do lợn
đực bị viêm niệu quản và dƣơng vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái.
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng. Vệ sinh trang trại,
cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm
giảm tỷ lệ viêm.
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho
lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với
16
Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể
mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào. Phản ứng này hình thành và phát
triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật.
Ngày nay ngƣời ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích
thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam, 2005) [12].
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối
loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa.
Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhƣng vì có
rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn chuyển
hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit,
polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm.
+ Tổn thƣơng ở mô bào.
Các tế bào bị thƣơng tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm
trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng
tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm.
+ Dịch rỉ viêm.
Dịch rỉ viêm đƣợc hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch
quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu
tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lƣợng nƣớc ngoại
vi gây phù thũng.
+ Tăng sinh ở mô bào.
Là hiện tƣợng tăng lên về số lƣợng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc
các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra. Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ
yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát triển của các loại