VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
PHI TỘI PHẠM HÓA
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
HÀ NỘI - năm
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
PHI TỘI PHẠM HÓA
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
Chuyên ngành
: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
2.1. Sự thể hiện nội dung phi tội phạm hóa tại Phần những quy định chung trong Bộ
luật Hình sự Việt Nam 2015. ....................................................................................48
2.2. Sự thể hiện nội dung Phi tội phạm hóa tại phần tội phạm cụ thể trong Bộ luật
Hình sự Việt Nam năm 2015 ....................................................................................64
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ PHI TỘI PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP THỰC
HIỆN PHI TỘI PHẠM HÓA TRONG THÒI GIAN TỚI ..................................69
3.1. Quan điểm tác giả về quá trình phi tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự năm
2015 .........................................................................................................................69
3.2. Đánh giá việc phi tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự năm 2015.....................71
3.3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện ..............................................................77
KẾT LUẬN ..............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật Hình sự
CSPL
: Chính sách pháp luật
CSHS
: Chính sách hình sự
PTPH
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có lĩnh vực tương đối ổn định nhưng có lĩnh vực
lại có tính biến động cao như lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ. Khi một lĩnh
vực nào đó có sự thay đổi thì đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung BLHS, nếu không
sẽ nảy sinh bất cập, còn nếu sửa đổi, bổ sung liên tục thì không bảo đảm được tính
ổn định của BLHS với tính chất là một văn bản pháp luật mang tính pháp điển hóa
cao. Đây là những vấn đề thực tiễn đặt ra đòi hỏi BLHS hiện hành phải được tiếp
tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
Bên cạnh đó, xu thế chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại
của Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức
1
khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó
có các công ước về phòng, chống tội phạm như: các Công ước của Liên hợp quốc
về phòng, chống ma tuý; Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và
Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ bổ sung
cho Công ước; Công ước chống tham nhũng; các điều ước quốc tế liên quan đến
chống khủng bố, tài trợ khủng bố,... Bên cạnh đó, trong quan hệ hợp tác song
phương với các quốc gia, Việt Nam đã đàm phán và ký kết nhiều Hiệp định tương
trợ tư pháp về hình sự và hiệp định dẫn độ với nhiều nước trên thế giới.
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang phải đối mặt với
không ít khó khăn, thách thức, trong đó có vấn đề tội phạm có tính chất quốc tế. Sự
gia tăng của các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm do người nước
ngoài thực hiện trong những năm qua đã và đang đặt ra những thách thức rất lớn
cho các cơ quan chức năng của Việt Nam. BLHS hiện hành chưa phản ánh được
một cách đầy đủ, toàn diện những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho
việc hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung và thực hiện tương trợ tư
pháp về hình sự giữa nước ta với các nước nói riêng. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục
phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm.
Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc
tế”. Đây là những định hướng quan trọng cho việc nghiên cứu, hoàn thiện quy định
của BLHS nhằm thể chế hóa quan điểm mới về chính sách hình sự của Đảng và
Nhà nước ta trong tình hình hiện nay.
Sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của
công dân thể hiện sự đổi mới nhận thức trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các
quyền này của người dân trên thực tế. Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: "Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo
Hiến pháp và pháp luật; quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng". Sự phát triển, bổ sung
3
và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013 đặt ra
yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành để làm cho các
quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế. Theo đó, một mặt, BLHS phải xử
lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân nêu
trên; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi hệ thống hình phạt theo hướng đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm. Nhiệm vụ của pháp luật hình sự là nhằm bảo vệ các
lợi ích của con người, của xã hội và của nhà nước, đồng thời góp phần bảo vệ hoà
bình và an ninh của nhân loại khỏi sự xâm hại của tội phạm cũng như ngăn ngừa
riêng (ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm mới của những người đã thực hiện tội
phạm nào đó) và ngăn ngừa chung (ngăn ngừa các thành viên khác trong xã hội
thể hiện trong BLHS 2015.
2. Tình hình nghiên cứu
CSHS nói chung và trong đó có PTPH nói riêng có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn quan trọng. Tuy nhiên, thời gian qua trong khoa học pháp lý chưa có công trình
nghiên cứu chuyên sâu về chính sách này. Thời gian gần đây đã có một số công
trình nghiên cứu chung và đề cập tới vấn đề tội phạm hóa và PTPH với tính chất là
một tổng thể như: Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong
giai đoạn hiện nay của GS – TSKH Đào Trí Úc và tập thể tác giả (1994), Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội; Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ
bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), PGS – TSKH Lê Cảm (2005), Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới
ánh sáng. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2002) của PGS, TS. Hồ Trọng Ngũ,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tội phạm hoá và phi tội phạm hoá trong
luật hình sự Việt Nam, Lô Văn Lý, Luận văn thạc sỹ Luật, Trường ĐH Luật TP
HCM năm 2000, Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự 1999 và
ý nghĩa, GS – TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 200, số
106 năm 2003...
Các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu dưới dạng bài viết đăng trên
các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành hoặc một phần trong các các giáo trình
giảng dạy, hoặc một phần trong sách chuyên khảo...Luận văn của Lò Văn Lý về
chính sách này cũng đã nghiên cứu quá trình tội phạm hóa và phi tội phạm hóa
trong Luật hình sự Việt Nam từ trước lần pháp điển hóa BLHS năm 2009.
5
Các công trình nghiên cứu thể hiện qua những bài viết được đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành như tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Khoa học Pháp
lý, Tạp chí Kiểm sát… các tham luận tại Hội nghị, Hội thảo, các bài viết chuyên đề.
Tác giả cho rằng đây là nguồn tài liệu phong phú bởi nhiều tác giả nghiên cứu dưới
tích làm rõ các khái niệm và nội dung cơ bản của chính sách tội phạm về PTPH. Từ
đó tiếp tục, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách về tội phạm và hình phạt
đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Về mặt thực tiễn: Từ việc đề tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam
trong việc bảo vệ quyền con người - mục tiêu quan trọng nhất của các nhà lập pháp
Việt Nam trong quá trình thực hiện PTPH đối với một số hành vi, luận văn sẽ phân
tích, bình luận từng tội danh được PTPH trong BLHS năm 2015,đưa ra các kiến
nghị, đề xuất về PTPH trong thời gian tới.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những hành vi được các nhà làm luật PTPH
trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự, các số liệu, các quan điểm của các nhà
nghiên cứu pháp luật và một số đề xuất về PTPH đối với các tội phạm cụ thể với
mục đích để chính sách pháp luật đi vào cuộc sống và trở thành một bộ phận không
thể tách rời trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của người dân để đảm bảo mỗi người
dân Việt Nam luôn “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chính sách hình sự liên quan đến
phi tội phạm hóa trong Bộ luật Hình sự 2015, cụ thế là khái niệm, sự cần thiết, vai
trò, mục tiêu, ý nghĩa của phi tội phạm hóa trong chính sách hình sự của nước ta.
Luận văn còn kết hợp với việc thống kê quá trình phi tội phạm hóa đối với các tội
phạm cụ thể qua hai lần pháp điển hóa Bộ luật Hình sư 2015 từ đó nêu ra một số cơ
sở lý luận, đề xuất hoàn thiện chính sách hình sự trong thời gian tới.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về Nhà nước, pháp luật,
về quyền công dân, quyền con người cũng như đảm bảo pháp luận phải phù hợp với
cuộc sống, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Ngoài ra,
7
gắng tập trung giải quyết các nội dung mang tính khoa học sau:
8
- Phân tích và tổng hợp một các cụ thể và chi tiết nhất các hành vi được các
nhà làm luật Phi tội phạm hóa qua những lần pháp điển hóa và sửa đổi bổ sung Bộ
Luật Hình sự, đặc biệt là Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Làm rõ được sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của việc thực hiện chính
sách hình sự liên quan đến việc PTPH một số hành vi trong giai đoạn phát triểm
mới của nhà nước pháp quyền; đưa pháp luật vào đời sống nhằm giáo dục người
dân ý thức pháp luật, hướng người dân thực hiện “Sống, là việc theo Hiến pháp và
pháp luật”.
- Đề xuất phi tội phạm hóa đối với một số hành vi nhằm hoàn thiện chính sách
pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng nhân đạo hóa và nêu lên các nhận định về
diễn biến tội phạm trong giai đoạn tới nhằm cảnh báo các nhà làm luật có những
điều chỉnh chính sách hình sự phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Là công cụ hữu hiệu Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm chính là
pháp luật hình sự. Khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải tính đến việc đánh giá đúng đắn và
xác định chính xácnhững hành vi nguy hiểm cho xã hội tương ứng với các quy định
về tội phạm. Vì thế, đòi hỏi phải phân hóa cao độ các loại hành vi nguy hiểm cho xã
hội trong các đạo luật hình sự và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ
sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm.
Quá trình sửa đổi, bổ sung để từng bước hoàn thiện Bộ luật hình sự thường được
thực hiện theo hai xu hướng:
1. Quy định bổ sung những hành vi mới được coi là tội phạm hoặc gia tăng
mức độ hình phạt cho một số hành vi được coi là nguy hiểm cho xã hội là tội phạm.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHI TỘI PHẠM HÓA
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
1.1. Chính sách hình sự Việt Nam về tội phạm và phi tội phạm hóa
1.1.1. Chính sách Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ
Theo dõi việc sự phát triển của lập pháp hình sự Việt Nam từ khi có bộ luật
hình sự đầu tiên cho đến nay thấy rằng, chúng ta đã ban hành 2 BLHS và trải qua
nhiều lần sửa đổi bổ sung ( 5 lần). Mỗi lần ban hành hay sửa đổi, bổ sung BLHS là
một bước tiến quan trọng về tư duy cũng như kỹ năng lập pháp hình sự, là một bước
phát triển cao trong việc xây dựng chính sách hình sự. Quá trình hình thành chính
sách hình sự của nước ta có thể phân làm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1945 – 1954;
- Giai đoạn 1954 – 1975;
- Giai đoạn 1975 – 1999;
- Giai đoạn 1999 đến nay.
Trong giai đoạn 1945 – 1954, phục vụ mục đích của Cách mạng Việt Nam là
tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, giành độc lập, thống
nhất dân tộc một cách trọn vẹn ,chính sáchh hình sự của nhà nước ta lúc bấy giờ là:
Chống sự chia rẽ gây thù hằn dân tộc;
Đấu tranh chống bọn địa chủ, cường hào, bọn phản động làm tay sai cho
giặc, ngoan cố chống lại Cách mạng Việt Nam;
Đấu tranh chống bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai;
Kiên quyết và nghiêm khắc đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng;
Khoan hông với người nhất thời phạm tội;
Coi cuộc đấu tranh chống tội phạm là bộ phận của cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc;
Như vậy, trước yêu cầu của thời cuộc và tình hình chính trị xã hội lúc bấy giờ,
phản cách mạng đã quy định mức hình phạt thấp nhất cho các tội cụ thể là 2 năm tù
còn mức hình phạt cao nhất là tử hình. Đối với những tội phạm xâm phạm tài sản
12
XHCN, hình phạt cụ thể được đặt ra cho các tội phạm tại Pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản XHCN cũng hết sức nghiêm khắc. Một bước tiến bộ vược bậc
trong chính sách hình sự giai đoạn này là việc thừa nhận chính sách khoan hồng
trong việc xử lý tội phạm. Tuy nhiên, một số tội phạm cụ thể còn khá nghiêm khắc
như các tội xâm phạm đến tài sản XHCN và các tội về phản cách mạng, chống phá
nhà nước XHCN.
Từ năm 1975 đến nay tình hình thế giới và trong nước diễn ra hết sức phức
tạp, nhà nước ta bên cạnh việc nỗ lực để ổn định tình hình kinh tế - xã hội trong
nước, mặt khác còn phải đối phó với thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá
sự ổn định chính trị của đất nước. Thêm vào đó nhà nước ta cũng cần có chính sách
phù hợp để vừa đấu tranh, vừa thu hút đầu tư nước ngoài và sự ủng hộ của cộng
đồng quốc tế đối với Việt Nam. Do đó, chính sách hình sự của nhà nước ta đã từng
bước thể hiện rõ nét tính thời đại,gắn chính sách hình sự với tiến bộ khoa học, công
nghệ, kỹ thuật; tiến bộ xã hội và sự đa dạng của các mối quan hệ quốc tế đặc biệt
chính sách hình sự thể hiện tính hài hòa giữa chiến thuật và chiến lược trong thời kỳ
đổi mới. Cụ thể:
Đấu tranh phòng chống cũng như nghiêm khắc trừng trị bọn buôn lậu, buôn
bán ma túy và các tội phạm kinh tế, tham những;
Bảo vệ chặc chẽ nền an ninh quốc gia, đặc biệt là chống các hoạt động chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, hoạt động lật đổ, âm mưu diễn biến hòa bình;
Đấu tranh phòng chống sự hình thành tội phạm có tổ chức;
Mở rộng quan hệ hợp tác trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, đặc
biệt là các loại tội phạm quốc tế như buôn bán ma túy, làm và buôn bán hàng giả,
mua bán phụ nữ, trẻ em, tội phạm khủng bố.
lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung. Với những sửa đổi, bổ sung này luật hình
sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm trong điều kiện đổi mới. Chúng ta có thể phân nhóm những sự thay
đổi phát triển của luật hình sự trong giai đoạn này như sau:
- Hoàn thiện một số quy định của phần chung về hình phạt để các quy định
này phù hợp hơn với tình hình tội phạm cũng như tình hình áp dụng luật hình sự.
Trong đó, có các quy định chung về hình phạt tiền, về nguyên tắc tổng hợp hình
phạt, về điều kiện cho hưởng án treo v.v..
14
- Hoàn thiện quy định về tội phạm và hình phạt ở một số tội danh theo hướng
định lượng hoá dấu hiệu định tội, phân hoá trách nhiệm hình sự qua việc tách tội
danh hoặc cụ thể hoá hơn các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng… Những
thay đổi này tập trung chủ yếu ở các chương Các tội xâm phạm sở hữu, Các tội
phạm về kinh tế và Các tội phạm về chức vụ là các chương tội phạm chịu ảnh
hưởng nhiều bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường.
- Bổ sung chương các tội phạm về ma tuý vào BLHS để đáp ứng đòi hỏi của
tình hình tội phạm diễn ra trong thực tế. Khi BLHS năm 1985 được ban hành, chỉ
có điều luật duy nhất quy định trực tiếp về ma tuý. Đó là Điều 203 quy định tội tổ
chức sử dụng chất ma tuý. Ngoài ra, BLHS cũng chỉ có một điều luật khác quy định
chung về hàng cấm và trong đó ma tuý được coi là một loại hàng cấm. Đó là Điều
166 quy định tội buôn bán hàng cấm thuộc chương Các tội phạm về kinh tế. Trong
lần sửa đổi, bổ sung năm 1998, Điều 96A quy định tội sản xuất, tàng trữ, mua bán,
vận chuyển trái phép các chất ma tuý đã được bổ sung vào Chương các tội xâm
phạm an ninh quốc gia. Tiếp đó, trong lần sửa đổi, bổ sung năm 1997, BLHS có
thêm một chương mới – Chương Các tội phạm về ma tuý với 14 điều luật, quy định
13 tội danh khác nhau liên quan đến ma tuý, thay thế cho hai điều luật hiện có –
Điều 96A và Điều 203.
mới của tình hình tội phạm ở Việt Nam và vừa phù hợp với xu hướng chung của thế
giới;
Phân hóa trách nhiệm hình sự ở mức độ cao hơn để nâng cao hiệu quả của
luật hình sự trong thực tiễn áp dụng.
Cụ thể: Phần chung BLHS 1985 có 8 chương bao gồm 71 điều luật còn Phần
chung BLHS 1999 có tới 10 chương và 77 điều (bỏ 1 chương cũ và thêm 3 chương
mới). Ngoài việc thêm 3 chương mới với tên gọi rõ ràng như chương IV với tên gọi
“Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự”, chương IX
với tên gọi “Xóa án tích” và chương VIII với tên gọi “Thời hiệu thi hành bản án,
miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt”.., trong cơ cấu Phần
chung BLHS 1999 còn có những điểm mới khác so với Phần chung BLHS 1985, đó
là sự thay đổi vị trí của một số điều luật, loại bỏ một số điều luật và bổ sung thêm
một số điều luật mới làm cho mối quan hệ giữa các chương trong Phần chung, giữa
các điều luật trong một chương được chặt chẽ, bảo đảm tính logíc và tính khoa học
16
cao hơn. Các điều luật mới được bổ sung vào các chương thuộc Phần chung BLHS
1999 hoặc đã quy định thêm các chế định mới trong luật hình sự nước ta hoặc cụ
thể hóa một số chế định, quy định của luật hình sự mà trong thời gian qua chưa có
cách hiểu và áp dụng thống nhất (thí dụ: Trách nhiệm hình sự của người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng say; quyết định hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt...). Trong quá trình soạn thảo BLHS 1999, người làm
luật đã khắc phục một số nhược điểm trước đây trong Bộ luật 1985về việc sử dụng
ngôn ngữ pháp lí đã làm phát sinh những bất cập, thậm chí những sai lầm không
đáng có trong thực tế và điều này cũng làm xuất hiện những điểm mới cả về hình
thức và nội dung của các chế định và quy định trong Phần chung BLHS 1999. Việc
thay đổi tên chương, tên điều luật cũng góp phần làm rõ ý tưởng của người làm luật
cũng như nội dung của điều luật. Những sự thay đổi này chẳng những đã khẳng
dài từ 2 năm thành 3 năm và hình phạt này không những chỉ được áp dụng đối với
những người phạm tội có khung hình phạt tối đa đối với tội được quy định trong
luật đến 5 năm tù (tội ít nghiêm trọng trước đây) mà còn được áp dụng với người
phạm tội có khung hình phạt tối đa tới 7 năm tù (tội nghiêm trọng theo BLHS mới).
- Và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định của Điều 46
BLHS 1999, các trường hợp phạm tội khi bị chi phối về mặt vật chất, công tác hay
các mặt khác hoặc phạm tội do nghiệp vụ non kém không còn được coi là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nữa đồng thời người làm luật đã bổ sung hai tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Người phạm tội đã lập công chuộc tội; người
phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc
công tác.
Như vậy, lịch sữ Việt Nam trải qua bao giai đoạn lập pháp là bấy nhiêu lần mà
Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận đúng đắng với chính sách hình sự, với cái nhìn
toàn cuộc đã đánh giá đúng thực trạng xã hội nên có những điều chỉnh phù hợp để
đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn dựng và giữ nước. Có thể nói rằng, trong từng
giai đoạn phát triển của đất nước, với tư cách là một bộ phận hợp thành không thể
thiếu của chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chính sách pháp luậ, trong
đó bộ phận quan trọng là chính sách hình sự với nội hàm là tổng hợp những nguyên
tắc, đường hướng cơ bản về xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật, được hoạch
định nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho việc xây dựng và sử dụng một cách có hiệu
quả các khả năng điều chỉnh của pháp luật, xác định một cách khoa học mô hình tổ
chức và hoạt động của các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật cho cộng
đồng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định chính sách
18
pháp luật bao gồm chính sách hình sự, xây dựng và hoàn thiện các chế định, các
hình thức tổ chức và hoạt dộng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xây dựng ý thức
pháp luật cho cộng dồng.
có tính chất phương pháp luận chung. Trong một số Nghị quyết của Đảng, văn bản
pháp luật của Nhà nước ta đã chứa đựng những nội dung của chính sách hình sự,tuy
nhiên, tất cả những văn bản này chưa đề cập một cách cụ thể và có hệ thống nội
hàm của chính sách hình sự. Đến nay chính sách hình sự vẫn là vấn đề lý luận chưa
hoàn toàn có sự thống nhất trong khoa học pháp lý.
- Có quan điểm cho rằng chính sách pháp luật là chính sách xây dựng và sử
dụng pháp luật, và một trong những bộ phận quan trọng của chính sách pháp luật là
chính sách hình sự [13]. Xuất phát từ quy định tại Điều 4 của BLHS, trách nhiệm
đấu tranh phòng và chống tội phạm là trách nhiệm đặc biệt của Cơ quan công an,
Viện kiểm sát, Tòa án, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân. Công tác đấu tranh phòng và chống
vi phạm nói chung, tội phạm nói riêng có nền tảng vững chắc là chính sách kinh tế
- xã hội của Nhà nước. Vì vậy, việc đấu tranh nhằm phòng ngừa và chống tội phạm
đòi hỏi phải có nhiều hình thức và biện pháp, trong đó có những biện pháp cưỡng
chế và pháp lý của các cơ quan chuyên trách. Trên cơ sở đó nhiều tác giả cho rằng
chính sách hình sự là chính sách xây dựng và sử dụng PLHS. Chính sách hình sự là
một bộ phận quan trọng trong chính sách pháp luật, đồng thời là một bộ phận của
chính sách phòng và chống tội phạm. Đó là đường lối, chiến lược, sách lược và
những nguyên tắc do Nhà nước đề ra trong việc xây dựng và sử dụng các biện pháp
pháp lý hình sự để đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Quan điểm khác thì cho rằng, nghiên cứu chính sách hình sự phải bắt đầu từ
việc nghiên cứu chính sách xã hội nói chung. Khi nghiên cứu các vấn đề của chính
sách xã hội tác động đến an ninh xã hội thì chính sách hình sự giữ một vị trí then
chốt trong toàn bộ các chính sách bảo đảm an ninh xã hộinhằm giải quyết các vấn
đề đấu tranh phòng, chống tội phạm . Từ quan niệm, chính sách bảo đảm an ninh xã
hội là một bộ phận của chính sách xã hội dẫn đến kết luận, trong toàn bộ chính sách
bảo đảm an ninh xã hội thì chính sách hình sự đóng vai trò cốt lõi [8]. Chính sách
hình sự là toàn bộ những nguyên tắc, những phương châm chỉ đạo và các biện pháp
đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, trong đó bằng các biện pháp pháp