Phi tội phạm hóa trong bộ luật Hình sự 2015 (tt) - Pdf 46

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ thực tế và nhận thấy quá trình thực hiện tội phạm
hóa, PTPH vẫn đang không ngừng diễn ra trong các lần pháp điển
hóa BLHS để dần hoàn thiện pháp luật, giữ vững niềm tin của nhân
dân vào các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đấu
tranh, phòng, chống và trấn áp tội phạm và nhận thức được vai trò và
tầm quan trọng của vấn đề tội phạm hóa và PTPH trong công cuộc
đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nên tôi đã chọn đề tài: “Phi tội
phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” làm Luận văn
Thạc sĩ nhằm làm sáng tỏ thêm nội dung, vai trò và ý nghĩa của
CSHS về PTPH được thể hiện trong BLHS 2015
Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ
họp thứ VI thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 07 năm 2000 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những
nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985. So với BLHS năm
1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương
đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam.
Tuy nhiên, sau gần 14 năm thi hành, tình hình đất nước ta đã
có những thay đổi lớn về mọi mặt. Điều này đã làm cho BLHS hiện
hành trở nên bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Một trong những nguyên nhân là do BLHS điều chỉnh tất cả
các tội phạm thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có lĩnh vực
tương đối ổn định nhưng có lĩnh vực lại có tính biến động cao như
lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ. Khi một lĩnh vực nào đó có sự
thay đổi thì đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung BLHS, nếu không sẽ
nảy sinh bất cập, còn nếu sửa đổi, bổ sung liên tục thì không bảo đảm
1


được tính ổn định của BLHS với tính chất là một văn bản pháp luật

hiệu quả và phù hợp với Luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và
làm thành viên.
Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề nên từ sau năm
2000, Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tư pháp theo tinh
thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng và các
Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW); Nghị quyết số
48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48/NQ-TW) và Nghị quyết số
49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW). Đây là những định
hướng quan trọng cho việc nghiên cứu, hoàn thiện quy định của
BLHS nhằm thể chế hóa quan điểm mới về chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta trong tình hình hiện nay.
Sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người,
quyền cơ bản của công dân thể hiện sự đổi mới nhận thức trong việc
ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền này của người dân trên thực
tế. Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của
công dân trong Hiến pháp 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện
các quy định của BLHS hiện hành để làm cho các quyền này của
người dân được thực hiện trên thực tế. Theo đó, một mặt, BLHS phải
xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ
bản của công dân nêu trên; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa
đổi hệ thống hình phạt theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và
tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.

3




vai trò và tầm quan trọng của vấn đề tội phạm hóa và PTPH trong
công cuộc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nên tôi đã chọn đề tài:
“Phi tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” làm
Luận văn Thạc sĩ nhằm làm sáng tỏ thêm nội dung, vai trò và ý nghĩa
của CSHS về PTPH được thể hiện trong BLHS 2015.
2. Tình hình nghiên cứu
Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu chung và đề cập
tới vấn đề tội phạm hóa và PTPH với tính chất là một tổng thể nhưng
các công trình nghiên cứu hoặc bài viết được đăng tải trên các tạp chí
chuyên ngành, các tham luận tại Hội nghị, Hội thảo, các bài viết
chuyên đề. Tác giả cho rằng đây là nguồn tài liệu phong phú bởi
nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về CSHS, góp
phần làm rõ theo từng góc độ, nội dung về CSHS hiện nay.
Tuy nhiên, điểm yếu được bộc lộ ở đây là quá trình nghiên cứu
rơi vào hướng tản mản, chưa tổng kết hay đánh giá được toàn diện
khiến cho người đọc, người nghiên cứu khi tìm hiểu còn khá băn
khoăn vì tiếp xúc dưới góc độ nội dung nhỏ.
Chính vì vậy việc nghiên cứu chính sách hình sự trong lĩnh
vực “ Phi tội phạm hóa trong Bộ luật Hình sự 2015” là thực sự cần
thiết có nghĩa về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong điều kiện đổi
mới chính sách và pháp luật ở nước ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của quá
trình PTPH trong BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 và Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 ngày 19-6-2009.
Kết hợp với việc đưa ra những nhận xét, đánh giá xu hướng của quá
trình PTPH trong BLHS Việt Nam 2015 và những đề xuất đối với xu

nước ta về Nhà nước, pháp luật, về quyền công dân, quyền con người
cũng như đảm bảo pháp luận phải phù hợp với cuộc sống, đảm bảo
6


không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Ngoài ra, luận
văn còn sử dụng, tiếp thu, kế thừa các thành tựu khoa học của các
chuyên ngành khoa học xã hội, các luận điểm nghiên cứu của các nhà
khoa học, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài
viết chuyên ngành pháp lý được đăng trên các tạp chí.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng trong luận
văn là:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh:
- Phương pháp thống kê xã hội học:
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận
khác như: Lịch sử, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch....
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Phân tích và tổng hợp một các cụ thể và chi tiết nhất các hành
vi được các nhà làm luật Phi tội phạm hóa qua những lần pháp điển
hóa và sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự, đặc biệt là Bộ luật Hình sự
năm 2015.
- Làm rõ được sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của việc
thực hiện chính sách hình sự liên quan đến việc PTPH
- Đề xuất phi tội phạm hóa đối với một số hành vi nhằm hoàn
thiện chính sách pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng nhân đạo
hóa, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận

bộ phận quan trọng là chính sách hình sự với nội hàm là tổng hợp
những nguyên tắc, đường hướng cơ bản về xây dựng, hoàn thiện và
sử dụng pháp luật, được hoạch định nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho
8


việc xây dựng và sử dụng một cách có hiệu quả các khả năng điều
chỉnh của pháp luật, xác định một cách khoa học mô hình tổ chức và
hoạt động của các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật cho
cộng đồng.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch
định chính sách pháp luật bao gồm chính sách hình sự, xây dựng và
hoàn thiện các chế định, các hình thức tổ chức và hoạt dộng của các
cơ quan bảo vệ pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật cho cộng dồng.
1.1.2. Nhận thức về chính sách hình sự Việt Nam
Vai trò của chính sách pháp luật: Chính sách pháp luật hình sự
là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đối với mọi quốc gia bởi vì
về mặt lý luận, chính sách pháp luật hình sự là bộ phận của chính
sách đối nội và đối ngoại, mang tính chiến lược của nhà nước. Đây
chính là toàn bộ những tư tưởng và những quan điểm pháp lý của
Đảng và Nhà nước về vấn đề quản lý, xây dựng và bảo vệ Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ quyền con người,
quyền công dân cũng như tài sản của họ. Về mặt thực tiễn, chính
sách hình sự được coi là bước đầu của quá trình cho ra đời của các
đạo luật hình sự cũng như hệ thống pháp luật hình sự. Trong đời sống
xã hội chính sách pháp luật hình sự có tác động quan trọng đối với
tâm lý và ý thức của con người, có tác dụng hình thành nên ý thức
pháp luật mang tính tích cực của cá nhân cũng như của cả cộng đồng.
Có rất nhiều quan điểm về nội dung của chính sách hình sự,
sau khi đã liệt kê, phân tích các quan điểm của các học gải, tác giả

người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chính sách về hình
phạt có thể là nghiêm trị, có thể là khoan hồng. Tuy nhiên mức độ,
phạm vi nghiêm trị hay khoan hồng cũng phải phản ánh được thuộc
tính khách quan của tội phạm, phản ánh được mục đích của hình phạt.
Chính sách về tổ chức đấu tranh phòng ngừa và chống tội
10


phạm là chủ trương, đường hướng của Đảng và Nhà nước về việc tổ
chức, về các giải pháp, về phương pháp đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm. Đây là bộ phận không thể thiếu được của chính sách
hình sự bởi lẽ nếu chỉ dừng lại ở chính sách về tội phạm và hình phạt
thì chính sách hình sự dù có đúng đắn đến đâu cũng chỉ dừng lại ở
những ý tưởng, kế hoạch, dự định mà không có hiệu quả thực tế.
Chính sách về tổ chức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được
thể hiện rõ nét qua tình hình tội phạm và hoạt động áp dụng pháp luật
trong thực tiễn của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Kết quả của những
hoạt động này kiểm tra tính đắng đắn, sự phù hợp với phương huớng,
quan điểm chỉ đạo trong chính sách về tội phạm và hình phạt.
Chính sách về tội phạm và hình phạt chỉ có thể được cụ thể
hoá, pháp luật hoá trong lập pháp hình sự bằng quá trình TPH, PTPH;
HSH, PHSH. Tội phạm hoá hay phi tội phạm hoá một hành vi nào đó
là quá trình xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức như thế
nào cần phải xử lý bằng PLHS. Việc xác định phải dựa vào tầm quan
trọng của các quan hệ xã hội, về định hướng phát triển loại quan hệ
xã hội đó trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử. Những yếu tố
được xác định trên nền tảng điều kiện kinh tế, xã hội và từ đó quy
định thái độ, sự phản ứng của nhà nước đối với những hành vi xâm
phạm các quan hệ xã hội cũng như đường lối đánh giá, xử lý. Nói
cách khác, quá trình thực hiện TPH, PTPH; HSH, PHSH chính là

1.2.1. Các quan điểm về quá trình phi tội phạm hóa
Phi tội phạm hóa được hiểu là: một hành vi nào đó do con
người thực hiện, tại thời điểm trước đây nhà làm luật cho rằng, hành
vi đó phải coi là tội phạm, phải được quy định là tội phạm trong
BLHS, và ai đó thực hiện nó, thì có thể bị coi là thực hiện tội phạm,
nếu có đủ các dấu hiệu liên quan khác theo quy định của pháp luật,
nhưng tại thời điểm hiện nay, vì nhiều lẽ khác nhau, hành vi đó
12


không còn tính nguy hiểm hoặc tính nguy hiểm cho xã hội không
đáng kể, và khi một ai đó thực hiện hành vi này, sẽ không cấu thành
tội phạm, vì vậy hành vi đó không cần phải quy định trong BLHS với
tư cách là tội phạm nữa.
Nhiều tác giả cũng có những quan điểm khác nhau về nội dung này.
Trên cơ sở học hỏi những kiến thức khoa học, tác giải đưa ra
quan điểm về phi tội phạm hóa là việc nhà làm luật đưa ra khỏi pháp
luật hình sự các loại hành vi mặc dù trước đây đã bị coi là tội phạm
và hiện nay tuy vẫn còn nguy hiểm nhưng chỉ là những nguy hiểm
không đáng kể nên bị coi là vi phạm pháp luật chưa đến mức hình sự
và chỉ cần áp dụng chế tài của ngành luật tương ứng khác, ít nghiêm
khắc hơn luật hình sự hoặc tuy vẫn áp dụng hình phạt của luật hình
sự nhưng ở mức độ hình phạt giảm nhẹ hơn là đủ sức ngăn chặn.
Phi tội phạm hóa không chỉ được thực hiện bằng việc loại bỏ
tội phạm ra khỏi BLHS mà trong những trường hợp nhất định, nhà
làm luật có thể tiến hành PTPH từng phần. Phi tội phạm hóa từng
phần còn được thể hiện quy định những điều kiện bổ sung để coi một
hành vi nào đó là tội phạm.
Việc PTPH còn được thể hiện ở một số chế định của Phần
chung BLHS với nội dung quy định theo hướng thu hẹp phạm vi xác

tội phạm, mà còn là cơ sở khoa học giúp chúng ta đề ra các biện pháp
xã hội nhằm ngăn chặn nguyên nhân phát sinh và phát triển tội phạm.
Việc phi tội phạm hóa những hành vi nào đó cần phải phù hợp
với các quy luật phát triển khách quan trong đời sống vật chất tinh
thần của xã hội và việc phi tội phạm hóa những hành vi nào đó cần
phải tương xứng với các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
 Các yếu tố văn hóa – lịch sử:
 Các yếu tố tâm lý
1.2.3. Sự cần thiết, vai trò, ý nghĩa của phi tội phạm hóa
Sự cần thiết của phi tội phạm hóa:
Việc phi tội phạm hóa là cần thiết bởi vì: Thực tiễn xã hội, lịch
14


sử của việc đấu tranh phòng và chống tội phạm cho thấy, hiệu quả
của các quy phạm pháp luật hình sự đạt được không phải là bằng sự
mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tăng nặng hình phạt mà phải bằng
việc phân hóa tối đa trách nhiệm hình sự và đảm bảo hoàn toàn
nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trong
những điều kiện đầy phức tạp của nền kinh tế thị trường do sự tăng
lên về số lượng của việc tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhà nước thường bị thiệt hại không những về tinh thần, mà
phần đáng kể hơn là về vật chất, khi một bộ phận lớn công dân bị loại
ra khỏi lĩnh vực sản xuất ra của cải cho xã hội và nhà nước phải bỏ ra
các chi phí nuôi ăn và giáo dục, cải tạo những người bị kết án trong
các nhà tù. Do đó, không phải ngẫu nhiên, khi chứng minh việc giảm
nhẹ sự trấn áp về hình sự đối với những người phạm tội cũng như của
việc kết hợp điều này với nguyên tắc nhân đạo, tính nhân văn của xã
hội, nhà luật học C.Mac đã quan niệm rằng: “nhà làm luật thông
minh là phải ngăn ngừa tội phạm để khỏi phải trừng phạt nó … và

cộng đồng dân cư, trong các nhà trường và gia đình; tạo ra những
chuyển biến rõ rệt về trật tự an toàn xã hội; nâng cao ý thức tôn trọng
pháp luật của nhân dân; đẩy mạnh tính chủ động, sáng tạo của các
cấp cơ sở trong công tác phòng, chống tội phạm.
- Từng bước làm giảm các loại tội phạm có sử dụng bạo lực…
- Nâng cao hiệu lực điều hành, quản lý của Chính phủ và chính
quyền các cấp trong công tác quản lý hành chính nhà nước về trật tự
xã hội và phòng, chống tội phạm.
- Nghiên cứu nội luật hóa những qui định có liên quan của
điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, góp phần tăng cường hợp
tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
- Đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của
trách nhiệm hình sự, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế
trong thực tiễn.
16


1.2.3. Ý nghĩa của phi tội phạm hóa
- Tạo ra một mội trường xã hội lành mạnh, ít tội phạm, ít tệ
nạn xã hội để nhân dân yên tâm làm ăn, xây dựng và phát triển đất
nước, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
- Hạn chế tội phạm, đẩy lùi các tệ nạn và tiêu cực xã hội, tạo ra
một môi trường xã hội lành mạnh, mọi quyền và nghĩa vụ của các cơ
quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội và của công
dân sẽ được tôn trọng và bảo vệ.
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH PHI TỘI PHẠM HÓA
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2015
2.1 . Nội dung phi tội phạm hóa trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam 2015

tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”.
- Việc bãi bỏ quy định “Không áp dụng hình phạt tiền đối với
người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi” trong BLHS 2015 đã thể chế hóa chủ trương “đề cao hiệu quả
phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” của
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường
hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự.
- Quy định rõ trong 03 trường hợp người chưa thành niên bị kết
án được coi là không có án tích.
- Quy định về xóa bỏ hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm
trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do người từ đủ 14 tuổi đến
chưa đủ 16 tuổi thực hiện của BLHS năm 2015 được áp dụng để
không truy cứu TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16
18


tuổi thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 1/7/2015.
Quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
BLHS 2015 đã bổ sung một chương riêng (chương IV) với 07
điều quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo
đó, tiếp tục duy trì và cụ thể hóa 04 trường hợp như Bộ luật hiện hành
đồng thời, bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình tại các
điều 24, 25, 26.
Quy định về miễn trách nhiệm hình sự
BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa các trường hợp được miễn
trách nhiệm hình sự theo hướng: Phân biệt rõ các trường hợp đương
nhiên được miễn trách nhiệm hình sự và những trường hợp có thể
được miễn trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, những hướng chính có thể và cần thiết nghiên cứu xử
lý và để xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm cơ sở cho
việc tiếp tục phi tội phạm hoá. Đó là:
+ Những hành vi lợi dụng cơ chế phân bổ và quản lý ngân sách
Nhà nước giải ngân, theo cơ chế “xin cho”, tồn tại trên mọi lĩnh vực
hoạt động kinh tế có liên quan đến ngân sách;
+ Những vấn đề tiềm ẩn đằng sau cơ chế quản lý và đại diện
chủ sở hữu Nhà nước trong các tập đoàn kinh tế có vốn nhà nước;
+ Trách nhiệm pháp lý hình sự của những chủ thể đứng
đằng sau những thất thoát, mất mát lớn nguồn vốn Nhà nước của cơ
quan, tổ chức (từ nguồn ngân sách, tín dụng nhà nước, vốn vay ODA,
trái phiếu chính phủ...) mà họ trực tiếp quản lý, quyết định lâu nay
mọi thất thoát này đều do Chính phủ hứng chịu;
Thứ ba, khẳng định xu hướng cải cách mạnh mẽ hệ thống hình
20


phạt theo xu hướng tăng cường tính nhân đạo, hướng thiện và sử dụng
đòn bẩy lợi ích kinh tế, vật chất.
3.2. Đánh giá việc phi tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự 2015
3.2.1. Ưu điểm
Thứ nhất, như đã khẳng định ở trên, BLHS 2015 đã thể chế hóa
đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng.
Thứ hai, đã khắc phục những hạn chế của BLHS 1999 trước đó,
BLHS 2015 đã góp phần đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà
trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở
của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội
phạm và loại chủ thể phạm tội.
Thứ ba, BLHS đã khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực
tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình

mạnh để phát triển.
- Cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ, lỏng lẻo, bộc lộ nhiều sơ hở,
thiếu sót.
- Công tác quản lý, giáo dục cán bộ, công nhân viên, đoàn
viên, hội viên, học sinh, sinh viên... trong các nhà trường, cơ quan,
doanh nghiệp, đoàn thể nhân dân... còn chưa tốt.
3.3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, xã hội hoá công tác phòng, chống tội phạm
Thứ hai, công tác phòng, chống tội phạm phải được thực hiện
trong sự lồng ghép chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà nước
22


Thứ ba, chủ động phòng ngừa, tích cực tấn công trấn áp
tội phạm, lấy phòng ngừa là cơ bản, đấu tranh trấn áp tội phạm là
quan trọng
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế giám sát và các quy phạm pháp luật
KẾT LUẬN
Lựa chọn đề tài “Phi tội phạm hóa trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam năm 2015”, tác giả hướng tới mục đích nghiên cứu PTPH trong
các quy định của BLHS năm 2015. Với thời gian nghiên cứu hạn chế
và trong giới hạn cho phép của một luận văn, tác giả đã đạt được một
số kết quả khiêm tốn sau:
1. Phân tích được khái niệm, sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý
nghĩa của chính sách hình sự về PTPH trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện pháp luật nước ta trong thời gian qua Thực hiện chính
sách hình sự nói chung và PTPH nói riêng có ý nghĩa lý luận và vai
trò thực tiễn vô cùng to lớn.
2. Phân tích được mức độ PTPH của từng tội danh cụ thể trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status