Nghiên cứu chọn tạo giống hoa đồng tiền (gerbera jamesonii) bằng phương pháp đột biến kết hợp với nuôi cấy mô tế bào - Pdf 46

i

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHẠM THỊ MAI

NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG HOA ĐỒNG TIỀN (GERBERA
JAMESONII) BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỘT BIẾN KẾT HỢP VỚI
NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60.42.01.14

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ ĐỨC THẢO

Hà Nội, 12/2015
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


ii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đã trực tiếp thực hiện các nghiên cứu trong luận văn này. Mọi
kết quả thu được nguyên bản, không chỉnh sửa hoặc sao chép từ các nghiên cứu khác.
Các số liệu chưa từng được công bố trong luận án, luận văn nào trước đây.
Mọi dữ liệu trích dẫn tham khảo trong luận văn đều được thu thập và sử dụng từ
nguồn dữ liệu mở hoặc với sự đồng ý của tác giả.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan trên!


Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


iv
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT........................................................... vi
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... vii
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................ 2
1.3. Yêu cầu của đề tài ................................................................................................. 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................. 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................... 4
1.1. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa đồng tiền ............... 4
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hoa đồng tiền ............................................................... 6
1.3. Tình hình sản xuất hoa đồng tiền trên thế giới và ở Việt Nam. ............................ 8
1.4. Tổng quan về phương pháp chiếu xạ gây đột biến tạo vật liệu khởi đầu trong
chọn giống cây trồng .................................................................................................. 11
Chƣơng 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 20
2.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................................. 20
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ....................................................................... 21
2.4. Nội dung nghiên cứu ........................................................................................... 21
2.5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 21
2.6. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi ................................................... 25
2.7. Phương pháp xử lý số liệu................................................................................... 25
Chƣơng 3. KẾT QUẢNGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................................ 26

2,4 - D

: 2,4 -Dichlorophenoxyacetic acid

Agar

: Thạch

BAP

: 6 - Benzyl Amino Purin

CT

: Công thức

CS

: Cộng sự

DT1

: Giống đồng tiền màu vàng (Gerbera Cabana)

DT2

: Giống đồng tiền tím hồng (Gerbera Banesa)

DT3


Bảng 3.2. Ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ tia γ nguồn Co60 đến tỷ lệ sống và hình
thái của mô sẹo đồng tiền in vitro (Sau 4 tuần chiếu xạ) ..............................................27
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều chiếu xạ đến khả năng tái sinh chồi từ mô sẹo các giống
đồng tiền sau 2 tháng nuôi cấy ......................................................................................29
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều chiếu xạ tia γ nguồn Co60 đến hệ số nhân chồi và hình
thái chồi đồng tiền in vitro.............................................................................................30
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ tia γ nguồn Co60 tới khả năng ra rễ của
chồi đồng tiền in vitro (Sau 2 tuần nuôi cấy) ................................................................32
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của các liều chiếu xạ tia γ nguồn Co60 tới cây con đồng tiền ở
giai đoạn vườn ươm .......................................................................................................34
Bảng 3.7. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng
.......................................................................................................................................36
Bảng 3.8. Động thái ra lá của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng ..........................38
Bảng 3.9. Khả năng đẻ nhánh của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng ...................39
Bảng 3.10. Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống đồng tiền đột biến ngoài
đồng ruộng .....................................................................................................................40
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng của các giống hoa đồng tiền chiếu xạ
ngoài đồng ruộng ...........................................................................................................42
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều chiếu xạ đếnkhả năng xuất hiện biến dị của các giống
đồng tiền ngoài đồng ruộng ...........................................................................................45
Bảng 3.13. Các dòng biến dị có triển vọng thu được từ các giống đồng tiền nghiên cứu
.......................................................................................................................................47

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1.Các mô sẹo đồng tiền DT2 sau chiếu xạ 20 ngày ..........................................28
Hình 3.2. Hình thái chồi của giống đồng tiền DT2 sau 2 tuần cấy chuyển ..................31

Trong chọn giống, lai giống nhân tạo dù có tiềm năng vô hạn trong việc tạo ra các
tổ hợp có đặc tính mới mà có thể được chọn lọc trong quần thể phân ly nhưng nó chỉ là
sự phân bổ lại và tái tổ hợp nguồn gen sẵn có(Nguyễn Minh Công, 2005) [4]. Vấn đề
là sự giới hạn nguồn gen trong tự nhiên và tỷ lệ đột biến tự nhiên rất thấp, chỉ khoảng
10-7. Ngược lại, phương pháp đột biến có thể cải tiến tính trạng đơn mà không gây ra
sự tổn thương sâu trong bộ gen, đồng thời làm tăng nguồn tài nguyên di truyền cho lai
giống nhân tạo và các biến dị di truyền mới có khả năng thích ứng tốt. Việc sử dụng kỹ
thuật đột biến trong cải tiến giống cây trồng trong những thập kỷ qua cho thấy nó là
phương pháp chọn giống hiệu quả nhằm cải tiến năng suất, chất lượng và khả năng
chống chịu với các yếu tố sinh học và phi sinh học. Bởi vậy phương pháp đột biến
đang được sử dụng một cách hiệu quả trong cải tiến giống cây trồng (Trần Duy Quý,
1997) [13].
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


2
Đối với cây hoa, việc xử lý đột biến có nhiều thuận lợi hơn so với các loại cây
lương thực do tính chất sử dụng của nó ít dẫn đến sự lo ngại về sức khoẻ của con
người(Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Đức Thảo, 2007) [11]. Ngoài ra, các mục tiêu của việc
xử lý đột biến trên cây hoa thường liên quan đến một số chỉ tiêu chính như màu sắc
hoa, kích thước hoa, tính chống chịu,… Khi xuất hiện biến dị, nhà chọn giống có thể
chọn lọc cá thể, nhân vô tính để đánh giá các dòng thu được. Do đó, thời gian cho
chọn giống thường ngắn hơn so với các cây trồng khác. Vì vậy, có thể nói rằng,
phương pháp chọn giống hoa bằng xử lý đột biến là một phương pháp đầy triển vọng
trong công tác chọn tạo giống hoa mới cho sản xuất(Lê Đức Thảo, 2009) [15].
Công nghệ xử lý đột biến in vitro bằng các tác nhân vật lý đã trở thành công cụ
hữu hiệu trong chọn tạo giống cây trồng(Nguyễn Thị Lý Anh và cs, 2015) [1]. Phương
pháp này tạo ra nguồn biến dị di truyền phong phúvà hỗ trợ đắc lực cho công tác chọn
giống. Trong số các tác nhân vật lý được sử dụng hiện nay thì tia Gamma là tác nhân
thường được sử dụng rộng rãi nhất. Một số đặc điểm thường được quan tâm khi chọn

1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học bước đầu về ứng dụng của phương pháp
chiếu xạ tia Gamma nguồn Co60 trong chọn giống hoa đồng tiền.
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy có giá trị cho lĩnh vực công nghệ sinh học và chọn tạo giống cây trồng.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã tạo ra các dòng hoa đồng tiền đột biến có triển vọng, là cơ sở cho chọn
giống hoa đồng tiền mới bằng phương pháp chiếu xạ.

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


4
Chƣơng1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa đồng tiền
1.1.1. Nguồn gốc, vị trí, phân loại
Cây hoa đồng tiền có tên khoa học là Gerbera jamesonii, có nguồn gốc từ Nam
Phi ( Theo hệ thống học thực vật mới nhất,
cây hoa đồng tiền được phân loại như sau:
Giới: Plantae
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida (lớp hai lá mầm)
Phân lớp: Asteridae
Bộ: Asterales
Họ: Asteraceae(họ cúc)
Chi: Gerbera (Trần Hợp, 1999) [8]
Chi đồng tiền Gerbera có khoảng 40 loài, đã được phân loại vào năm 1737 bởi
Gronovius và đặt tên theo nhà thực vật học người Đức, Traugott Gerber [64] và các
loài jamesonii được đặt theo tên của Robert Jameson (Shankar Paudel, 2014) [52].

vàĐinh Thế Lộc, 2003) [5]
Nhóm 1 - Đồng tiền đơn: Hoa chỉ có một hoặc 2 tầng cánh, xếp xen kẽ nhau
tạo vòng tròn. Hoa mỏng và yếu hơn hoa kép, màu sắc hoa ít hơn, điển hình là trắng,
đỏ, tím, hồng.
Nhóm 2 - Hoa đồng tiền kép: Cánh hoa to gồm hơn 2 tầng, bông to, đường kính
có thể đạt tới 12 - 15 cm, cánh hoa tụ lại thành bông nằm ở đầu trục chính, cuống dài
40 - 60 cm. Màu sắc đa dạng như trắng, đỏ, vàng, hồng, gạch cua.
Nhóm 3 - Hoa đơn nhị kép: Bên ngoài cùng cánh đơn, bên trong cánh kép dày
đặc, thường màu trắng trong lớp cánh kép màu cánh sen nhưng nhóm này không đẹp
bằng hoa kép.
Như vậy, trong ba nhóm hoa trên, đồng tiền kép là nhóm hoa có giá trị cao,
được ưa chuộng hơn cả và cũng là đối tượng lý tưởng của nuôi cấy mô tế bào thực vật.

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


6
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hoa đồng tiền
1.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự sinh trưởng, phát
triển, nở hoa và chất lượng hoa đồng tiền. Đa số các giống đồng tiền hiện nay đều ưa
khí hậu mát mẻ (Lê Huy Hàm và cs, 2012) [7], tốt nhất từ 18-25oC, nhiệt độ lý tưởng
để cây ra hoa là 22oC. Cây có thể chịu được nhiệt độ từ 13-32oC, dưới 12oC hoặc trên
35oC, cây sẽ phát triển kém, hoa nhỏ, màu sắc hoa nhợt nhạt dẫn đến chất lượng hoa
kém.
1.2.2. Ánh sáng
Hoa đồng tiền yêu cầu ánh sáng cao cho sinh trưởng, phát triển và phát triển
mầm hoa, chúng có thể ra hoa cả mùa hè và mùa đông, nhưng số lượng lớn nhất tập
trung vào mùa xuân. Mùa hè nắng nóng thường dùng lưới đen để điều khiển cường độ
ánh sáng và bức xạ mặt trời. Mùa đông phải đảm bảo cường độ ánh sáng 40 W/m2 là

- Phân hữu cơ chứa hầu hết các nguyên tố đã lượng và vi lượng cây cần, do đó
không làm mất cân đối dinh dưỡng trong cây, giúp cây sinh trưởng tốt, bền, khỏe, hoa
đẹp. Tuy nhiên loại phân này có tác dụng chậm đối với cây và gây ô nhiễm môi
trường, do vậy cần phải ủ hoai mục. Nếu dùng bón lót, thì trộn ủ với lân vi sinh, nếu
bón thúc thì dùng nước phân đã ngâm ủ hòa với một lượng đạm nhỏ để tưới.
- Phân vô cơ: Đạm, lân, kali, canxi là những yếu tố không thể thiếu đối với cây
đồng tiền.
+ Đạm có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. Đồng tiền
cần nhiều đạm vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, lượng đạm nguyên chất sử dụng
cho 1 ha đồng tiền từ 140 - 160 kg/năm.
+ Lân giúp cho bộ rễ sinh trưởng, phát triển mạnh, cây con khỏe, tỷ lệ sống cao,
thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp. Trong quá trình sinh trưởng của cây, đồng tiền cần
lần nhiều hơn vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực, nhưng do lân phân giải chậm nên
chủ yếu dùng để bón lót 3/4 còn 1/4 bón thúc cùng đạm, kali hoặc ngâm với phân hữu
cơ. Lượng lân nguyên chất dùng cho 1 ha từ 300 - 350 kg/năm. Tùy từng loại đất mà
sử dụng các loại lân khác nhau: với đất trung tính nhiều mùn thì dùng supe lân, đất
chua nên dùng phân lân nung chảy, đất chua mặn dùng apatit.
+ Kali rất cần thiết vào thời kỳ kết nụ và nở hoa. Nếu thiếu kali đầu chóp lá già,
bắt đầu vàng chết khô, sau đó cả phần thịt lá giữa các gân lá cũng vậy, đồng thời xuất
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


8
hiện các đốm bị luộc, cuống hoa mềm ra không đứng lên được, màu sắc hoa nhợt nhạt,
cánh mềm, hoa chóng tàn. Kali giúp cây tăng cường tính chống chịu với điều kiện
khắc nghiệt và sâu bệnh. Lượng kali nguyên chất cho 1 ha từ 120 - 140 kg/năm, trong
đó bón lót 2/3 còn lại 1/3 dùng để bón thúc cùng đạm và lân.
+ Canxi giúp đồng tiền tăng khả năng chịu nhiệt, hạn chế được tác dụng độc
của axit hữu cơ. Ngoài ra canxi còn có tác dụng giảm chua, tăng độ phì của đất tạo
điều kiện cho đồng tiền phát triển tốt hơn. Canxi được dùng ở dạng vôi bột, tùy theo

cs, 2013) [53]. Việc sản xuất các loại hoa này tăng lên đáng kể do nhu cầu rất lớn đối
với các sản phẩm hoa cắt trên thế giới. Việc tiêu thụ thế giới của hoa cắt cành và cây
trồng ngày càng tăng và tăng ổn định hàng năm từ 10 đến 15% trong tất cả các nước
nhập khẩu (Nguyễn Văn Hồng, 2009)[9].
Tại Nepal, theo báo cáo của FAN (Food and Agricuture in Nepal), diện tích
trồng hoa đồng tiền năm 2012 - 2013 là 87 ha, cao gần gấp đôi so với năm 2011 - 2012
(45 ha), trong khi đó chỉ có 15 ha trong năm 2005 - 2006 (Bảng 2.1). Số liệu này cho
thấy diện tích trồng hoa đồng tiền không ngừng tăng lên trong những năm gần đây,
diện tích trồng năm 2012 - 2013 gần gấp đôi so với diện tích trồng hoa đồng tiền năm
2011 - 2012 (Shankar Paudel, 2014) [52]
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa đồng tiền
Năm

2005/06 2006/07 2007/08 2008/09 2009/10 2010/11 2011/12 2012/13

Diện tích

15

15

20

30

35

41

45


2500

4000

7000

7000

(ha)

Nguồn: FAN, 2014
Nhu cầu tiêu thụ hoa đồng tiền cũng không ngừng tăng lên, năm 2005 - 2006
khoảng 500 - 1000 cành/ngày, nhưng đến năm 2012 - 2013 đã tăng lên 5000 - 7000
cành/ngày (Bảng 2.1).
1.3.2. Tình hình sản xuất hoa đồng tiền ở Việt Nam
Hoa đồng tiền là 1 trong 10 loại hoa quan trọng nhất trên thế giới, sau hồng,
cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn.... Trong các loại hoa đồng tiền đã và đang được trồng ở
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


10
Việt Nam thì hoa đồng tiền kép nhập nội là một trong những cây cho hiệu quả kinh tế
cao nhất. Từ một sàu hoa đồng tiền giống mới chăm sóc đúng kĩ thuật có thể cho thu
nhập gần 50 triệu/sào/năm (Nguyễn Văn Hồng, 2009) [9].
Ở Việt Nam, giống hoa đồng tiền đơn được nhập về trồng đầu tiên khoảng từ
những năm 1940. Đặc điểm của giống này là cây sinh trưởng khỏe, thích nghi tốt với
điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên có một số nhược điểm là cánh đơn, hoa nhỏ, màu sắc
đơn điệu nên hiện nay chúng ít được trồng. Từ những năm 1990, một vài công ty và
những nhà trồng hoa Việt Nam bắt đầu nhập các giống đồng tiền lai (hoa kép) từ một

Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc diện tích hoa của toàn vùng có 135,7
ha. Trong đó, cây đồng tiền có 9,7 ha chiếm khoảng 0,07% trong cơ cấu tổng diện tích.
Sản lượng hoa của vùng đạt 44,08 triệu bông, trong đó sản lượng hoa đồng tiền đạt 3,1
triệu bông(Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Đức Thảo, 2007) [11].
Do trồng hoa đồng tiền mang lại thu nhập rất cao nên nhiều năm qua, nhiều địa
phương, hộ gia đình đã tự tìm hiểu để phát triển, trồng loại hoa này. Điển hình các
vùng trồng hoa đồng tiền tập trung có quy mô lớn từ vài chục ha là Đà Lạt (Lâm
Đồng), Vĩnh Tuy (Hà Nội), Bắc Ninh, Bắc Giang ....
1.4.Tổng quan về phƣơng pháp chiếu xạ gây đột biến tạo vật liệu khởi đầu trong
chọn giống cây trồng
Mỗi một kiểu gen nhất định của một giống chỉ cho một năng suất nhất định.
Trong điều kiện nuôi trồng tối ưu thì thì mỗi giống chỉ cho một năng suất tối đa nhất
định (mức trần về năng suất của giống). Để thu được năng cao hơn thì phải thay đổi
vật chất di truyền của giống do đó ta sử dụng các tác nhân vật lí, hóa học tác động vào
bộ máy di truyền để gây đột biến (Nguyễn Minh Công, 2005) [4].
1.4.1. Quy trình tạo giống mới bằng phương pháp gây đột biến
- Xử lí mẫu vật bằng tác nhân gây đột biến: Để đột biến có hiệu quả cao, cần
lựa chọn tác nhân gây đột biến thích hợp, tìm hiểu thời gian và liều lượng phù hợp.
Nếu xử lí không đúng tác nhân, liều lượng hoặc thời gian có thể làm chết sinh vật,
hoặc giảm khả năng sinh sản, giảm khả năng sống.
- Chọn lọc thể đột biến có kiểu hình mong muốn: Dựa trên các đặc điểm kiểu
hình được biểu hiện để lựa chọn các dạng đột biến phù hợp nhu cầu của con người.
- Tạo dòng thuần chủng: Sau khi nhận được các thể đột biến mong muốn, cho
chúng sinh sản để nhân lên thành dòng thuần chủng theo đột biến được tạo ra.
Hiệu quả gây đột biến bằng sử dụng các tia phóng xạ phụ thuộc vào:
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


12
+ Loại tác nhân

13
giống hoa, cây cảnh đột biến được chính thức công nhận trên thế giới. Một số đặc điểm
thường được quan tâm khi chọn giống hoa, cây cảnh đột biến là: Thay đổi màu sắc hoa, đặc
điểm hình thái hoa, màu sắc lá, giảm thời gian sinh trưởng,… Trong số các tác nhân đột
biến, tia Gamma thường được sử dụng và được nghiên cứu từ rất sớm.
Jerzy và cs (2000) đã thí nghiệm chiếu xạ tia Gamma trên giống Cẩm chướng
Mini Pinky nuôi cấy mô trong môi trường MS bổ sung 0,02mg BA/l + 1,75 mg IAA/l
ở các cường độ chiếu xạ từ 0,5 - 3 krad cho thấy khả năng tái sinh chồi và ra rễ từ 1-3
krad giảm theo cường độ chiếu xạ, nhất là ở 3 krad[35].
Theo Datta (2001) chồi của 9 giống hoa hồng được xử lý tia Gamma (3-4 krad),
sau đó các chồi này được ghép lên gốc ghép (giống Rosa indoca var. Odorata). Giống
Orange Sesnation là giống mẫn cảm nhất với tia Gamma, giống Kiss of Fire là giống ít
mẫn cảm nhất. Kết quả là đã quan sát thấy sự giảm chiều cao cây (trong đó giống Kiss
of Fire giảm ít nhất, giống Zambra giảm nhiều nhất) và đột biến soma về màu hoa ở tất
cả các giống (trừ giống Happiness)[27].
Paramesh T. H. và cs (2005) chiếu xạ chồi cẩm chướng nuôi cấy mô ở các liều
lượng 2, 4, 6 và 8 krad. Cắt lá của chồi theo chiều ngang và nuôi cấy trong môi trường
MS bổ sung (1) 1,0 mg thidiazuron (TDZ) + 0,1 mg/l NAA (M5) và (2) 0,3 mg TDZ +
1,0 mg BAP + 0,1 mg/l NAA (M6). Hàng tuần theo dõi tỷ lệ sống, hình thành mô sẹo,
tái sinh chồi, diện tích mẩu lá. Kết quả cho thấy ở liều chiếu 4 krad là liều tốt nhất để
xuất hiện các biến dị. Tỷ lệ sống giảm dần khi liều chiếu tăng lên. Môi trường M6 cho
khả năng tái sinh tốt hơn[50].
Gần đây, công nghệ chùm ion (Hib) đã thu hút sự quan tâm ngày càng tăng
trong chọn giống hoa bằng đột biến. Kỹ thuật chọn giống đột biến đã được ứng dụng
trên một số cây hoa chính như cúc, lan, hồng, cẩm chướng. Chọn giống với sự hỗ trợ
của đột biến cùng với công nghệ sinh học (MAB) đã có đóng góp đáng kể nâng cao
chất lượng giống hoa và mang lại những lợi ích kinh tế-xã hội cho các nước đang phát
triển. Điển hình là thành công về đột biến trong chọn giống hoa cây cảnh ở các nước
Thái Lan, Malaysia và Indonesia (Jain, 2006) [34].
Hiệu quả của việc chiếu xạ chùm ion (công nghệ chùm lượng tử) đã thu được

liều 0, 50, 100, 150 và 200 Gy[60].
Sự tác động của các liều chiếu xạ trên đối tượng cây hoa lily của Xi M và cộng sự
(2012) ở các liều chiếu 0; 0,5; 1; 1,5; 2; 2,5 Gy đã cho thấy các liều chiếu tăng lên thì khả
năng sống và khả năng ra hoa của lily (Lilium longiflorum) giảm. Trong đó liều chiếu 1,0
Gy làm giảm tỷ lệ sống xuống còn 53,33% và tần số đột biến là 39,27%[61].
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


15
Một nghiên cứu gần đây gây đột biến bằng phương pháp chiếu xạ tia Gamma
kết hợp với hóa chất EMS cũng tác động gây biến đổi màu sắc hoa, hình thái hoa, quả,
hạt nhưng không phải trên cây hoa mà ở cây đậu đũa (Vigna unguiculata L. Walp)
được thực hiện bởi nhóm tác giả Girija M của Đại học Annamalai, Tamil Nadu, Ấn Độ
(Girija M, 2013). Nghiên cứu được thực hiện chiếu xạ tia Gamma ở các liều lượng 20,
25, 30 krad và xử lý hóa chất ethyl methane sulphonate (EMS) ở các nồng độ 20, 25,
30 mM lên hạt giống đậu đũa, so sánh với đối chứng không xử lý. Sau đó tiến hành
cho tự thụ phấn qua 5 thế hệ để quan sát hình thái khác nhau ở thể hệ M6. Tiến hành
cô lập các đột biến thu nhận được. Kết quả cho thấy tần số đột biến cao nhất cho hoa
màu và hạt là ở liều lượng 25 krad và nồng độ 25mM EMS [33].
Qua nghiên cứu phân tích mối liên hệ di truyền của giống hoa cúc tạo ra bằng
gây đột biến chiếu xạ tia Gamma từ giống hoa cúc gốc ban đầu, nhóm nghiên cứu tại
Hàn Quốc đứng đầu là Eun-Jeong Kang và các cộng sự (2013) đã sử dụng chỉ thị phân
tử AFLP để phân tích các đột biến tạo ra từ chiếu xạ ở các liều 0, 30, 50, 70 và 100
Gy. Kết quả đánh giá cho thấy ở liều 30 Gy có nhiều kiểu gen đa dạng và khác với
giống gốc nhất[32].
Các nghiên cứu ở cây hoa đồng tiền:
Tác giả KaushalK., Nath A.K. (1996) đã tìm ra liều chiếu xạ gây đột biến mô
sẹo tái sinh từ mô lá trên môi trường BAP 0,5 mg/l và NAA 0,75 mg/l là 0,5; 1; 3; 5
krad. Còn ở chồi đồng tiền là 0,5 krad và kết quả đã tìm ra được 7 dạng đột biến khác
nhau trong giai đoạn in vitro về màu sắc, thân, lá, hoa.

từ 30, 40, 50 và 60 Gy đều quan sát thấy xuất hiện những bất thường trong các chồi cây
được hình thành [47].
1.4.3.2. Các kết quả nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, lĩnh vực ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn tạo giống cây
trồng đã được tác giả Lương Đình Của khởi xướng từ những năm 1960. Nhưng đến
những năm 1980, hướng nghiên cứu này mới được phát triển tương đối có hệ thống và
định hướng. Sau đó, là một loạt nghiên cứu của các tác giả như: Trần Duy Quý,
Nguyễn Hữu Đống, Trần Đình Long, Nguyễn Minh Công, Mai Quang Vinh, Trần Tú
Ngà, Trần Minh Nam, Lê Duy Thành,... trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau như:
lúa, ngô, đậu, lạc, táo, cà chua, dưa hấu,...(Đào Thanh Bằng và cs, 2006) [2].
Trong những năm qua, nhờ áp dụng các kỹ thuật gây đột biến nhân tạo như:
chiếu xạ hạt giống trước khi gieo, chiếu xạ hạt, củ, quả khi bảo quản,… các nhà chọn
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


17
giống trong nước đã thu được những thành tựu đáng kể, tạo ra hàng chục giống lúa,
ngô, cà chua, đậu tương…, góp phần làm tăng năng suất, phẩm chất và sản lượng
lương thực hàng năm.
Cây hoa là đối tượng mới được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây,
những kết quả ứng dụng đột biến trong chọn tạo giống còn rất mới mẻ.
Năm 2002, Đỗ Quang Minh, Nguyễn Xuân Linh đã bước đầu tạo nguồn vật liệu
khởi đầu cho chọn tạo giống cúc bằng việc gây đột biến thực nghiệm từ việc chiếu xạ
tia Gamma (Co60) trên chồi in vitro. Tác giả cho rằng tia Gamma (Co60) đã gây ảnh
hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc in vitro, ảnh hưởng đến
hình thái và gây hiện tượng bạch tạng, dị dạng thân, lá [11].
Năm 2005, Đào Thanh Bằng và các cộng sự thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp
đã công bố kết quả chọn giống hoa cúc bằng chiếu xạ in vitro và đã thu được nhiều
màu sắc hoa khác nhau, dạng hoa khác nhau, dạng hoa khác nhau. Vật liệu đem chiếu
xạ là khối mô sẹo của giống hoa cúc màu trắng CN43, các tác giả đã sử dụng dải liều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status