1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Toàn
2
Lời cảm ơn !
Sau thời gian nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên
ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên với đề tài Nghiờn cu xut cỏc gii
phỏp kim tra giỏm sỏt cỏc d ỏn u t s dng t ai bng vn ngõn
sỏch nh nc cỏc tnh Trung du, min nỳi Bc B.
Có đ-ợc kết quả này, lời cảm ơn đầu tiên, xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc nhất đến cô giáo PGS.TS. Ngô Thị Thanh Vân, ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn,
dành nhiều thời gian, tâm huyết h-ớng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dậy trong thời
gian học cao học tại Tr-ờng Đại học Thuỷ lợi, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Quản lý thuộc Tr-ờng Đại học Thuỷ lợi nơi tôi làm luận văn đã tận tình giúp
đỡ và truyền đạt kiến thức để tôi có thể hoàn thành đ-ợc luận văn này.
Tác giả cũng xin bày đỏ lòng cảm ơn đến tập thể lãnh đạo, anh em trong
cơ quan, anh em, bạn bè đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình
làm luận văn.
Lời cảm ơn sau cùng xin đ-ợc gửi tới mọi ng-ời trong gia đinh luôn quan
tâm, động viên để tôi cố gắng hoàn thành luận văn.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
9
4.
Kết quả dự kiến đạt được
10
5.
Nội dung
10
Chương 1 Căn cứ và cơ sở lý luận để kiểm tra giám sát các dự án 11
sử dụng đất đai
1.1 Nội dung công tác và quy trình kiểm tra giám sát các dự án đầu
11
tư sử dụng đất đai
1.1.1 Tổng quan chung
11
1.1.2 Nội dung quản lý giám sát nhà nước về đầu tư xây dựng
13
27
4
năm 2002 đến 2010
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát các dự án
sử dụng đất đai
29
1.3.1. Đặc điểm tình hình chung
29
1.3.2. Khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư
30
1.3.3. Công tác xây dựng kế hoạch thực hiện giám sát dự án
30
1.3.4. Công tác quản lý nhà nước về đầu tư giám sát xây dựng
31
1.3.5. Công tác quản lý dự án của chủ đầu tư
31
2.1.3 Định hướng phát triển vùng
37
2.2 Thực trạng đầu tư xây dựng khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ 39
2.3 Thực trạng sử dụng đất đai tỉnh Vĩnh Phúc
41
2.3.1 Kết quả tổng hợp tình hình quản lý và sử dụng đất đã giao cho 41
các dự án trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2.3.2 Tổng hợp kết quả thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trên địa bàn 42
tỉnh từ năm 2003 đến năm 2007
2.3.3 Đánh giá về hiệu quả sử dụng đất của các dự án
47
5
2.4 Thực trạng công tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất 49
đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
2.4.1 Kết quả kiểm tra, thanh tra theo Chương trình của Bộ Chính trị, 50
Ban Bí thư và thực trạng sai phạm, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây
dựng ở khu vực trung du, miền núi Bắc bộ
2.4.2 Kết quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi
phạm của UBKT các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ từ năm 2002-2008
51
2.4.3 Kết quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi
dự án đầu tư đất đai ở các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ
6
3.2.1 Các yếu tố khách quan
72
3.2.2 Các yếu tố chủ quan
73
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát dự án đầu tư 75
sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách tại các tỉnh trung du và
miền núi Bắc Bộ
3.3.1 Công tác giám sát thường xuyên
75
3.3.2 Lựa chọn cán bộ kiểm tra
76
3.3.3 Nắm chắc địa bàn và đối tượng kiểm tra
77
3.3.4 Thẩm tra – xác minh
77
92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
7
DANH MỤC VIÊT TẮT
UBKT: Ủy ban Kiểm tra
XDCB: Xây dựng cơ bản
TDMNBB: Trung du miền núi Bắc Bộ
NSNN: Ngân sách nhà nước
8
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đầu tư xây dựng có vị trí rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia. Trong những năm qua Đảng và nhà nước
ta rất quan tâm đến công tác đầu tư xây dựng, hằng năm đã dành mức đầu tư
tương đối lớn cho lĩnh vực này. Các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ ngân sách
nhà nước đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng văn hoá-xã hội, bình
quân mỗi năm 1000 tỷ đồng. Có thể nói, công tác đầu tư xây dựng trong những
năm qua có những chuyển biến rõ nét, tạo ra cơ sở hạ tầng, một diện mạo mới
cho đất nước, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác này còn bộc lộ nhiều tồn tại, sai phạm,
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Thu thập và hệ thống các chủ trương và văn bản của Đảng liên quan đến kiểm
tra giám sát về đất đai và đầu tư xây dựng
- Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư xây dựng, sự dụng đất đai và thực hiện
công tác đền bù giải phóng mặt bằng
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, quản đầu tư và sử
dụng đất
III. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, điều tra cơ bản thu thập và phân tích
các số liệu.
10
IV. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC:
- Các chủ trương và văn bản của Đảng liên quan đến kiểm tra giám sát về đất đai
và đầu tư xây dựng
- Thực trạng đầu tư xây dựng, sự dụng đất đai và thực hiện công tác đền bù giải
phóng mặt bằng.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, quản lý đầu tư và sử dụng
đất đai tại các tỉnh Trung Du, miền núi Bắc Bộ.
V. NỘI DUNG
Luận văn bao gồm các chương:
Mở đầu
Chương 1 Căn cứ và cơ sở lý luận để kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất
đai
Chương 2 - Thực trạng đầu tư xây dựng, sử dụng đất đai và công tác kiểm tra
giám sát các dự án sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở các
tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ
Chương 3 - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, hiệu quả đầu tư
và sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở các tỉnh trung du,
kỹ thuật riêng. Đầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn
12
chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công phải thường
xuyên di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu xây dựng công trình.
Như vậy để có được sản phẩm xây dựng (hàng hoá đặc biệt), nhà nước ta đầu tư
lớn tiền vốn, công sức, nghiên cứu, ban hành các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn,
định mức, các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ hoạt
động đầu tư xây dựng với mục tiêu yêu cầu các chủ thể tham gia phải tuân thủ pháp
luật, nhà nước mua được hàng hoá với giá trị phù hợp, chất lượng đảm bảo. Hoạt
động đầu tư xây dựng là lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật liên quan đến nhiều lĩnh vực,
nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cán bộ, đảng viên tham gia. Cán bộ kiểm tra, giám
sát về đầu tư xây dựng, ngoài những phẩm chất chung, còn phải hiểu biết được quy
định của Đảng, pháp luật của nhà nước về đầu tư xây dựng và những vấn đề cốt
yếu dưới đây:
Hoạt động xây dựng bao gồm việc lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây
dựng công trình, lập kế hoạch vốn đầu tư, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng
công trình, giải phóng mặt bằng (nếu có), thi công xây dựng công trình, quản lý
dự án, lựa chọn nhà thầu, giám sát thi công, thanh toán, quyết toán xây dựng
công trình và các hoạt động khác có liên quan. Chia theo giai đoạn, thì hoạt
động xây dựng gồm 03 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư (lập quy hoạch xây dựng, lập
dự án đầu tư xây dựng công trình, kế hoạch vốn đầu tư), giai đoạn thực hiện đầu
tư (khảo sát, thiết kế xây dựng công trình, giải phóng mặt bằng (nếu có), lựa
chọn nhà thầu, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công, quản lý dự
án…), và giai đoạn kết thúc đầu tư (nghiệm thu, thanh, quyết toán đưa dự án
vào khai thác sử dụng, bảo hành công trình…).
13
tư theo quy định.
- Cơ quan tài chính (Bộ Tài chính, sở tài chính, phòng tài chính…): Phối hợp cơ
quan kế hoạch đầu tư cân đối bố trí vốn cho dự án; xây dựng đơn giá vật tư, vật
liệu… làm cơ sở lập dự toán công trình; tham mưu, thẩm định phương án, dự
toán bồi thường giải phóng mặt bằng; thẩm định quyết toán dự án hoàn thành;
thanh tra việc quản lý sử dụng sử dụng vốn đầu tư dự án theo quy định.
- Cơ quan kho bạc (Kho bạc TW, kho bạc tỉnh, kho bạc huyện): kiểm soát tạm
ứng, thanh toán vốn dự án đầu tư trên cơ sở đề nghị cuả chủ đầu tư theo quy
định.
3) Các cơ quan quản lý giám sát dự án
Các cơ quan quản lý dự án đầu tư đất đai bao gồm:
- Cấp quyết định đầu tư hay chủ quản đầu tư là tổ chức hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Chủ đầu tư (thường gọi là bên A) là người chủ sở hữu vốn hoặc là người được
giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình.
Chủ đầu tư có chức năng, nhiệm vụ: đàm phán ký kết, giám sát việc thực hiện
hợp đồng; đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công theo
quy định của pháp luật; dừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu khắc phục
hậu quả khi nhà thầu vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và
vệ sinh môi trường; yêu cầu tổ chức cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện
các công việc trong quá trình thi công xây dựng; không thanh toán giá trị khối
lượng không đảm bảo chất lượng hoặc khối lượng phat sinh không hợp lý; lựa
15
chọn nhà thầu có đủ năng lực hoạt động thi công phù hợp để thi công xây dựng
công trình; tham gia cùng với UBND cấp có thẩm quyền hoặc chủ trì phối hợp
với UBND cấp có thẩm quyền giải phóng mặt bằng xây dựng để giao cho nhà
thầu xây dựng công trình; tổ chức giám sát thi công; kiểm tra biện pháp đảm bảo
an toàn, vệ sing môi trường; tổ chức nghiệm thu thanh toán, quyết toán công
1.1.3 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng (thường gọi là bên B):
Là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây
dựng khi tham gia các quan hệ trong hoạt động xây dựng. Nhà thầu trong hoạt
động xây dựng, gồm có:
- Tư vấn quy hoạch, tư vấn lập dự án, khảo sát thiết kế, tư vấn giám sát, tư vấn
xét thầu..
- Nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung cấp thiết bị…
- Tổng thầu xây dựng, gồm chủ yếu có các hình thức sau: Tổng thầu toàn bộ dự
án; tổng thầu thiết kế; tổng thầu thi công; tổng thầu cung cấp thiết bị…
1.1.4 Các bước tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu:
1) Lập kế hoạch đấu thầu: thường được lập đồng thời với việc lập dự án
hoặc lập, duyệt ngay sau khi hoàn thành việc khảo sát thiết kế do chủ
quản đầu tư quyết định). Căn cứ dự án được duyệt, thiết kế dự toán, tổng
dự toán (nếu có), nguồn vốn của dự án; các văn bản pháp lý liên quan để
lập kế hoạch đấu thầu.
2) Nội dung kế hoạch đấu thầu, gồm: phân chia gói thầu, tên từng gói thầu,
giá gói thầu, nguồn vốn, hình thức lựa chọn nhà thầu (chỉ định thầu, đấu
thầu hạn chế, đấu thầu rộng rãi), thời gian lựa chọn nhà nhà, hình thức
17
hợp đồng (hợp đồng khoán gọn; hợp đồng có điều chỉnh giá), thời gian
thực hiện hợp đồng. Kế hoạch đấu thầu do chủ đầu tư lập, cơ quan kế
hoạch đầu tư thẩm định và cấp quyết định đầu tư phê duyệt.
3) Lập hồ sơ mời thầu: do chủ đầu tư trực tiếp hoặc giao ban quản lý dự án
thực hiện, trình cấp quyết định đầu tư phê duyệt. Căn cứ quyết định đầu
tư, kế hoạch đấu thầu, thiết kế, dự toán; pháp luật về đấu thầu, các chính
sách của nhà nước về thuế, tiền lương, ưu đãi và các quy định khác có liên
quan để lập hồ sơ mời thầu.
kiểm tra về đầu tư XDCB nếu làm tốt sẽ được đánh giá toàn diện, cả người lẫn
việc, cả bề rộng và chiều sâu của toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư xây dựng.
Quan trọng hơn là được kiểm tra giám sát đúng người, đúng nơi là nguồn gốc, là
nguyên nhân của mọi nguyên nhân phát sinh sai phạm, lãng phí, tiêu cực, tham
nhũng trong đầu tư và xây dựng, sử dụng đất đai.
1.2 Các văn bản chính sách của nhà nước liên quan đến kiểm tra giám sát
về đất đai và đầu tư xây dựng
1.2.1 Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009
Nhằm hạn chế tình trạng các dự án đầu tư, đặc biệt là từ nguồn vốn ngân sách
Nhà nước bị sử dụng không hiệu quá, lãng phí, gây thất thoát, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 về giám sát và đánh giá
đầu tư, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2010.
19
Việc giám sát, đánh giá đầu tư sẽ áp dụng đối với các dự án sử dụng 30% vốn
nhà nước trở lên và cả các dự án sử dụng nguồn vốn khác; bao gồm 3 nội dung:
Theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án.
Nghị định quy định về nội dung giám sát, đánh giá cũng như việc tổ chức thực
hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư và hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng tất cả
các nguồn vốn.
Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, các nội dung theo dõi sẽ
được chia thành 3 cấp: Chủ đầu tư, người có thẩm quyền quyết định đầu tư và
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư. Về chế độ kiểm tra, chủ đầu tư tự tổ chức
kiểm tra thường xuyên; người có thẩm quyền quyết định đầu tư sẽ tổ chức kiểm
tra ít nhất 1 lần đối với các dự án có thời gian thực hiện dài hơn 12 tháng... còn
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất.
Ngoài ra, sẽ thực hiện đánh giá đầu tư đối với các dự án: Các dự án nhóm B trở
lên phải thực hiện đánh giá ban đầu và đánh giá kết thúc dự án; các dự án có
dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên và cả các dự án sử dụng nguồn vốn
khác; bao gồm 3 nội dung là theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án. Đồng thời quy
định về nội dung giám sát, đánh giá cũng như việc tổ chức thực hiện giám sát,
đánh giá dự án đầu tư và hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng tất cả các nguồn
21
vốn. Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, các nội dung theo dõi sẽ
do 3 chủ thể đảm trách: chủ đầu tư (cập nhật tình hình thực hiện dự án đầu tư,
tình hình quản lý thực hiện dự án, tình hình xử lý phản hồi thông tin), người có
thẩm quyền quyết định đầu tư (theo dõi tình hình thực hiện chế độ báo cáo của
chủ đầu tư, tổng hợp tình hình thực hiện dự án đầu tư, phản hồi và xử lý kịp thời
các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền, theo dõi việc xử lý và chấp hành các biện
pháp xử lý của chủ đầu tư) và các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (tương tự
nội dung theo dõi của người có thẩm quyền quyết định đầu tư). Cả 3 cấp này đều
phải kịp thời báo cáo và đề xuất các phương án xử lý các khó khăn vướng mắc,
các vấn đề vượt thẩm quyền.
Về chế độ kiểm tra dự án đầu tư, chủ đầu tư tự tổ chức kiểm tra thường
xuyên; người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ chức kiểm tra ít nhất 1 lần đối
với các dự án có thời gian thực hiện dài hơn 12 tháng, kiểm tra khi điều chỉnh dự
án làm thay đổi địa điểm, quy mô, mục tiêu, vượt tổng mức đầu tư từ 30% trở
lên và các trường hợp khác cần thiết kiểm tra; cơ quan quản lý nhà nước về đầu
tư tổ chức kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất.
Bên cạnh đó, phải thực hiện đánh giá đầu tư đối với các dự án: Các dự án
nhóm B trở lên phải thực hiện đánh giá ban đầu và đánh giá kết thúc dự án; các
dự án có phân kỳ đầu tư theo giai đoạn phải thực hiện đánh giá giữa kỳ khi kết
thúc từng giai đoạn thực hiện. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư và cơ
quan quản lý nhà nước về đầu tư quyết định thực hiện các loại đánh giá khác khi
cần thiết, phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng dự án.
Đối với các dự án sử dụng nguốn vốn khác, các nội dung theo dõi chỉ được
23
Chính phủ và kiến nghị các hình thức xử lý thích hợp. Đối với các dự án sử
dụng 30% vốn nhà nước trở lên, chủ đầu tư không thực hiện đầy đủ chế độ báo
cáo thì cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư cần báo cáo cấp có thẩm
quyền và kiến nghị các hình thức xử lý về hành chính (2 kỳ liền không có báo
cáo hoặc 3 kỳ không báo cáo, đề nghị hình thức cảnh cáo; 3 kỳ liền không có
báo cáo hoặc 6 kỳ không báo cáo, đề nghị chuyển công tác những người liên
quan). Các dự án không thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư 2 kỳ liền
hoặc 3 kỳ trở lên trong năm trước sẽ không được ghi vốn kế hoạch năm sau. Các
cấp có thẩm quyền không được phép điều chỉnh dự án đầu tư/GCN đầu tư đối
với các dự án không thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thường kỳ.
Có thể nói, Nghị định 113 được ban hành sẽ khắc phục những tồn tại của
công tác giám sát, đánh giá đầu tư và thống nhất cơ sở pháp lý để các cơ quan
quản lý nhà nước tổ chức giám sát, đánh giá toàn bộ hoạt động đầu tư thuộc
phạm vi quản lý của mình. Việc giám sát và đánh giá này có ý nghĩa rất quan
trọng để đồng vốn, nhất là đồng vốn nhà nước, được sử dụng đúng mục tiêu và
đảm bảo sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Đánh giá về hiệu quả của Nghị định, vấn đề chính là những đơn vị và cá nhân
liên quan thực hiện như thế nào. Việc thực hiện phải nghiêm túc mới đảm bảo
việc tiền kiểm sang hậu kiểm hiệu quả. Chủ đầu tư là tập đoàn kinh tế nhà nước,
doanh nghiệp nhà nước phải theo dõi dự án của họ và báo cáo lên cấp trên. Qua
hệ thống đó, các cơ quan nhà nước biết được các dự án có sử dụng vốn nhà nước
được triển khai, sử dụng như thế nào. Mục đích của nghị định không phải là đợi
làm sai để xử lý, mà là phát hiện các sai phạm trong quá trình thực hiện để kịp
thời chấn chỉnh. Tức là phòng bệnh hơn chữa bệnh.
24
Việc giám sát và đánh giá này có ý nghĩa rất quan trọng để đồng vốn, nhất là
đồng vốn nhà nước, được sử dụng đúng mục tiêu và đảm bảo sự tăng trưởng
đơn vị mình trực tiếp phụ trách xảy ra lãng phí, tham nhũng…gây hậu quả
nghiêm trọng. Bản thân gây thiệt hại về kinh tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không
bồi hoàn.
3) Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 (Hội nghị lần thứ III, khoá X) của
BCH Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tham nhũng, lãng phí” Phần II, Mục 5, 6 chỉ rõ:
Chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và hoạt động mua sắm
công. Các cấp uỷ đảng lãnh đạo thực hiện nghiêm túc Luật Đấu thầu và Luật
Xây dựng. Thực hiện công khai minh bạch trong quyết định, chủ trương đầu tư.
Nghiêm túc thực hiện quy định về đấu thầu xây dựng từ ngân sách nhà nước.
Ngăn chặn tình trạng người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà
thầu cùng một cơ quan đơn vị. Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất làm nhiệm
vụ quản lý dự án. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong đầu tư xây
dựng từ ngân sách nhà nước…
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều
tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng. Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán
một số lĩnh vực trọng điểm, như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thuchi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại.