Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường trung học cơ sở từ thực tiễn huyện dầu tiếng, tỉnh bình dương - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH CHÂU

CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH CHÂU

CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG
MÃ SỐ: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG


CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ ................................................................................... 60


3.1. Mục tiêu, định hướng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông
tin ............................................................................................................... 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin .......... 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT

Công nghệ thông tin

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

GV

Giáo viên

MISA


trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”. Trong giai đoạn hiện nay, trên con
đường hội nhập quốc tế, công nghệ thông tin (CNTT) là một trong các động
lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao
khác đã và đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế
giới hiện đại. CNTT được ứng dụng một cách rộng rãi trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống, làm thay đổi căn bản cách quản lý, làm việc và học tập của con
người. Công nghệ thông tin được đánh giá không chỉ là động lực chủ yếu cho
việc phát triển kinh tế, xã hội mà còn là nhân tố quan trọng trong việc phát
triển giáo dục đào tạo. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 cũng đã
xác định rõ cần phải: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông trong dạy học”; “Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các
thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục,
đào tạo”; “Tiếp tục đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham
gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo
dục và đào tạo; Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có
chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường; Từng bước hiện đại hóa
cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin”.
Ngày 30 tháng 12 năm 2016 Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã ban hành
quyết định số 6200/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công
1


nghệ thông tin giai đoạn 2016 – 2020 với mục tiêu “Đổi mới nội dung,
phương pháp dạy-học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học đáp ứng
được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong thời kỳ mới”.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu đặc
biệt là công tác quản lý đã và đang trở thành một vấn đề cấp thiết bởi những
lợi ích do việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại. Ứng dụng công nghệ
thông tin vào quản lý giáo dục nói chung hay trong các trường trung học cơ
sở nói riêng thành công sẽ nâng cao chất lượng quản lý, đem lại nhiều lợi ích

tướng chính phủ đã ban hành Nghị định số 1819/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10
năm 2015 phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020. Trong lĩnh vực
giáo dục việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng được Đảng và Nhà nước
quan tâm nhiều nhưng việc thực hiện tại mỗi địa phương có những kết quả
khác nhau.
Tại huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương với những lợi thế nhất định
nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng chưa có hiệu quả và cho đến
nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào về thực hiện chính
sách ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các
trường THCS trên địa bàn huyện Dầu Tiếng. Luận văn tập trung vào nghiên
cứu nhằm đề xuất các chính sách phù hợp với đặc thù của huyện Dầu Tiếng
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường THCS trên địa bàn
huyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và qua đánh giá thực tiễn triển khai thực hiện chính sách
ứng dụng công nghệ thông tin huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương từ đó đề
xuất các chính sách phù hợp ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở
3


các trường THCS trên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường THCS trên
địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung nghiên cứu
các vấn đề sau:
3.2.1. Nghiên cứu lý luận về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy.

dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp
nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so
sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn
có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị
quyết, Quyết định, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành ở Trung ương và
địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của sở,
ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới
vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy ở các trường THCS trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh
Bình Dương. Đồng thời, thu thập thông tin từ các tài liệu của các tổ chức và
học giả trong nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp nghiên cứu xã hội
học được vận dụng trong nghiên cứu chính sách công, đó là phương pháp đối
thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin. Ngoài các thông tin thu
thập được qua các số liệu thứ cấp và kết quả xử lý thông tin bằng phương
pháp điều tra bảng hỏi, tác giả đã thực hiện thêm phương pháp phỏng vấn đối
5


với một số đối tượng để làm rõ thêm thông tin mà các phương pháp thu thập
thông tin nêu trên chưa đáp ứng được.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này cung cấp lý luận chính sách công, đó là nghiên cứu về vấn
đề chính sách, mục tiêu chính sách, giải pháp và công cụ chính sách ứng dụng
công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường THCS
từ thực tiễn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Chính sách công
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ
thực hiện giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu đã xác định của
đảng chính trị cầm quyền”. [24, tr.37]
Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước. Các quyết định về
chính sách công là những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực
tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Chính sách công tập
trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo
mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với
công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối
quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối
quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
Công nghệ Thông tin (Information Technology hay là IT) là một nhánh
ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu
trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958
trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của
bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: Công nghệ mới chưa thiết lập một
tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology IT).
Theo Điều 4, Luật Công nghệ thông tin, công nghệ thông tin là tập hợp
các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản
xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. [28, tr.1]
8


1.1.2. Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin.

trong đời sống kinh tế - xã hội cần được giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và
phát triển của xã hội.
Vấn đề của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin là chưa được ứng
dụng rộng rãi trong đời sống, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, chưa phát
huy hết được sức mạnh công nghệ thông tin, chưa có những chính sách ưu đãi
rõ ràng cho phát triển công nghệ thông tin, nguồn nhân lực công nghệ thông
tin còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng chuyên môn. Đó là những mâu
thuẫn đòi hỏi được giải quyết: Mâu thuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ của ứng
dụng công nghệ thông tin và các chính sách, văn bản luật của Việt Nam chưa
phù hợp và đồng bộ; mâu thuẫn giữa thu nhập thấp của cán bộ làm công tác
công nghệ thông tin với trình độ và chi phí cuộc sống không ngừng biến động
theo chiều hướng ngày càng tăng cao; mâu thuẫn giữa đãi ngộ và khả năng
cống hiến. Việc xác định chính xác và kịp thời các mâu thuẫn cơ bản trên sẽ
giúp cho việc xây dựng, ban hành, thực thi chính sách phát triển ứng dụng
công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao. [23]
a. Vấn đề xây dựng quy hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
Xây dựng quy hoạch ứng dụng công nghệ thông tin đang là một trong
những vấn đề rất được quan tâm trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
hiện nay. Đặc biệt trong bối cảnh công nghệ thông tin thế giới phát triển như
vũ bão, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn
xã hội về vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin chưa đầy đủ; thực hiện
chưa triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
b. Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, có hiệu quả trong
toàn xã hội
Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả vào hoạt
động của các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nghiên cứu - đào tạo, đối ngoại, quốc
10


phòng, an ninh; hoạt động phòng, chống lụt, bão, thiên tai, thảm họa khác,

từng địa phương; Chưa có các chính sách phù hợp để quản lý và ứng dụng
công nghệ thông tin một cách thống nhất.
Như vậy, trong các chủ trương phát triển công nghệ thông tin nói
chung, vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin luôn có một
vị trí cực kỳ quan trọng và là yếu tố được Chính phủ, các cấp, các ngành và
toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
1.3. Mục tiêu của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin.
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu đối với ngành công nghệ
thông tin là phát triển mạng thông tin quốc gia trên quy mô cả nước, với băng
thông rộng, dung lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp;
Tăng tỷ lệ người tiếp cận với các ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng
mạng Internet; Đưa công nghệ thông tin trở thành ngành công nghiệp kinh tế
mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác;
Có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã quán triệt một số chủ
trương lớn: Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu
tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi
tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước; Mọi
lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng
dụng công nghệ thông tin để phát triển; Mạng thông tin quốc gia là kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin, đảm bảo được tốc độ và chất lượng
cáo, giá cước rẻ; Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu tố
then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin; Đồng thời phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một
ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công nghiệp phần mềm [2].
12


1.4. Giải pháp và công cụ chính sách ứng dụng công nghệ thông

lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời các cấp ủy Đảng chỉ
đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích
công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước.
Song song với việc ứng dụng công nghệ thông tin, chúng ta cũng cần
tập trung phát triển những dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực thương mại,
thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chữa
bệnh từ xa, thư viện điện tử,…); Để có thể ứng dụng công nghệ thông tin
trong toàn xã hội thì Nhà nước cần tạo mọi thuận lợi cho ứng dụng công nghệ
thông tin; cần rà soát và tháo bỏ những nhận thức và quy định không phù hợp,
tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu đãi hiện hành cao nhất và từng
bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các nước trong khu vực cho
việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, đi đôi với việc thực hiện các
biện pháp quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả; Chuẩn hóa thông tin và các
hệ thống thông tin trong từng lĩnh vực; Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho
việc trao đổi và sử dụng chung các cơ sở dữ liệu, các hệ thống thông tin trong
nước và quốc tế; Có các biện pháp chủ động và các quy định cụ thể về an toàn
và an ninh thông tin, trước hết trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng; Khuyến khích và hỗ trợ việc phổ cập và nâng cao trình độ ngoại
ngữ trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên; Xây
dựng tiêu chuẩn ngành, nghề với mức lương và chế độ đãi ngộ hợp lý đối với
đội ngũ cán bộ về công nghệ thông tin.
Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin
Phát triển quy mô và tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về
công nghệ thông tin, chú trọng phát triển nhanh lực lượng cán bộ chuyên sâu,
14


đặc biệt là đội ngũ chuyên gia phần mềm, đáp ứng kịp thời và thường xuyên
nhu cầu trong nước và một phần thị trường nước ngoài, đạt chỉ tiêu về số

chủ động sử dụng nguồn kinh phí này và tự chịu trách nhiệm về kết quả và
hiệu quả nghiên cứu, đặc biệt được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả
nghiên cứu của họ. Chủ động tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến
khích hợp tác với tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực
công nghệ thông tin. [28].
Đảng, Nhà nước cần sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản
pháp quy về quản lý, thực hiện chính sách ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin theo phương châm năng lực quản lý phải theo kịp tốc độ phát triển,
đầu tư phải thiết thực, hiệu quả, không được lãng phí và đảm bảo công khai,
minh bạch.
Công cụ chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Công cụ dựa vào tổ chức, nhân sự
Đây là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình thực hiện
chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được
phân công nhằm đạt được mục tiêu dự kiến. Cụ thể ở đây, các nhà quản lý cần
bố trí, sử dụng nguồn nhân lực làm công nghệ thông tin một cách hợp lý, phù
hợp với vị trí việc làm, đúng chuyên môn, đúng cơ cấu nguồn nhân lực của
đơn vị.
Công cụ dựa vào quyền lực
Công cụ dựa vào quyền lực là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng
và quá trình chính sách bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Để
công tác ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cần nâng cao vai trò của
công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những sai phạm về công
nghệ thông tin từ trung ương đến địa phương.
Công cụ tài chính
16


Công cụ tài chính là công cụ được các chủ thể sử dụng phổ biến khi
triển khai thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin. Đây là công cụ

hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương thực hiện.
Ngược lại phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những
nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn gặp phải
một số vấn đề khi thực hiện vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của
những cán bộ chuyên trách. Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động
được sự tham gia của người dân và khối doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo
phù hợp với tình hình mới đạt được mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương
pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc
“từ trên xuống” và “từ dưới lên”.

Đảng, Nhà nước
Bộ, Ban,()ngành

Sở, Ban, Ngành

Từ dưới lên

Từ trên xuống

Tỉnh ủy; UBND tỉnh

Huyện ủy, UBND huyện
Xã, phường, thị trấn, doanh
nghiệp và người dân

Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin được Chính phủ hoạch định
và thực hiện liên tục trong suốt quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Với định hướng thống nhất, chính sách phát triển công nghệ thông tin là một
trong công cụ quan trọng giúp Chính phủ thay đổi cơ cấu kinh tế bằng việc
phát triển ngành công nghiệp mới, đặc biệt ngành công nghệ cao; đồng thời

19


bộ công chức tham gia thực thi; về biện pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá
nhân tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông
tin. Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi chính
sách được khả thi và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực
hiện.
1.5.3. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin.
Phổ biến, tuyên truyền là một hoạt động quan trọng trong thực hiện
chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của Đảng và Nhà nước. Hoạt động
này không chỉ giúp các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ban ngành cũng như các
tổ chức doanh nghiệp và nhân dân tham gia ứng dụng công nghệ thông tin
hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tác động tích cực của chính sách mà còn giúp
các cơ quan Nhà nước, các cán bộ công chức, viên chức, các tổ chức xã hội có
trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm
quan trọng, trình độ, quy mô của chính sách đối với các đối tượng vận dụng.
Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách
ứng dụng công nghệ thông tin khác nhau như tổ chức hội thảo, hội thi, tọa
đàm nhằm tạo mối quan tâm, thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội
đối với công tác ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời qua đó nghiên cứu
xây dựng, phát triển các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác quản lý điều hành, trong xử lý công việc hành chính có sự tham gia
của đối tượng ứng dụng công nghệ thông tin.
1.5.4. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin.
Trong tổ chức và thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động
đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực hiện tốt, phát huy được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status