1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế cạnh tranh đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có nỗ lực rất lớn. Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Nhận rõ thực lực của doanh nghiệp, khai thác các yếu tố tiềm tàng là
một trong những quyết định quản trị quan trọng. Phân tích hiệu quả hoạt động
kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh, thế yếu để củng cố,
phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. Từ đó, tận dụng và phát huy mọi
tiềm năng, khai thác tối đa những nguồn lực nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất
trong kinh doanh. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thành quả của doanh
nghiệp sẽ góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu này. Kết quả của phân
tích là cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn, dài hạn, giúp dự báo
đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh. Một trong những mục
tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế hiệu quả ở các doanh nghiệp cổ phần
hóa đã chứng minh cho chính sách này, thông qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi
nhuận, ROA, ROE, đều tăng sau cổ phần hóa. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả
một cách đầy đủ, nhận diện rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả sau cổ phần
hóa là một công việc quan trọng mà nhiều báo cáo chưa đề cập rõ.
Phân tích hiệu quả là thiết thực đối với những doanh nghiệp có quy mô
lớn. Tuy nhiên, tại Tổng công ty cổ phần y tế Danameco, công tác phân tích
chưa được chú trọng mà chỉ phân tích khái quát một vài chỉ tiêu cơ bản rồi
đưa ra những nhận định chung mang tính định hướng. Hơn nữa, Công ty hiện
đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán và một khi đã niêm yết, công
tác phân tích hiệu quả càng thiết thực hơn vì sẽ cung cấp thông tin không
những cho quản trị điều hành công ty mà còn cho nhà đầu tư, qua đó làm rõ
3
Nghiên cứu ông và các cộng sự cũng chỉ rõ 2 lý do về sự tăng trưởng đầu tư
vào TSCĐ đó là do các doanh nghiệp nỗ lực đầu tư bổ sung ngay lập tức sau
khi cổ phần hoá và tăng do định giá lại. Tiếp theo là về tăng trưởng hàng năm
của doanh nghiệp cổ phần hoá ông chỉ ra sự tăng trưởng của doanh nghiệp
nhà nước sau cổ phần hoá luôn được duy trì ở mức khá ổn định và cho thấy
được hiệu quả tích cực của cổ phần hoá, ông cũng chỉ rõ doanh thu của các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, y tế tăng với tốc
độ cao hơn so với nông lâm nghiệp thuỷ sản và xây dựng. Cuối cùng là về lợi
nhuận tại thời điểm ông điều tra cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp cổ phần hoá
không có lợi nhuận là tương đối thấp (3,7%) còn hầu hết là mức lãi nằm ở
13,4%.
+ Thứ hai, sau khi chỉ rõ được hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp
sau cổ phần hoá, nghiên cứu của ông và các cộng sự đã phân tích rõ các
nguyên nhân ảnh hưởng đến những hiệu quả trên đó là: do thay đổi trong
quản trị công ty, tái cấu trúc, thay đổi trong bảng chất hoạt động kinh doanh.
Như vậy nghiên cứu của TS. Trần Tiếng Cường và các cộng sự đã làm
rõ được 2 vấn đề chính đó là khẳng định được sau cổ phần hoá các doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả và đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đó
một cách thuyết phục nhất. Bởi ông và các cộng sự không những dựa vào
kinh nghiệm bản thân mà còn kiểm chứng bằng thực tế.
- “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty cổ phần ôtô Vĩnh Phúc”, tác giả Nguyễn Thị Lan
Hương. Luận văn đã giải quyết được một số nội dung:
+ Về mặt lý luận: Luận văn đã trình những lý luận chung về hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp ở giai đoạn sau cổ phần hoá và làm rõ được ý nghĩa, mục tiêu tăng
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngoài ra dựa
5
là việc phát hành cổ phiếu và niêm yết không làm tăng hiệu quả của các công
ty. Điều này đều do thiếu thực hành quản trị công ty
Tuy nhiên nghiên cứu của ông mới chỉ phân tích dựa vào tính logic
theo kinh nghiệm của bản thân ông chứ chưa có kiểm chứng bằng bất kỳ một
phương pháp nào như định lượng hoặc khảo sát.
Qua quá trình tìm hiểu các nghiên cứu cũng như xuất phát từ tình hình thực tế
tại Tổng công ty cổ phần y tế Danameco luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu vấn
đề này tại tổng công ty cổ phần với các vấn đề chính như: Phân tích hiệu quả
tại công ty giai đoạn sau cổ phần hiệu quả hơn trước cổ phần và đưa ra các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đó, và đặc biệt sau khi đưa ra các nhân tố ảnh
hưởng tác giả sẽ kiểm định bằng thực tế các nhân tố này tại công ty có đúng
hay không bằng cách thu thập ý kiến của những cán bộ công nhân viên có
thời gian công tác từ trước cổ phần hoá đến nay bằng phiếu thu thập thông tin
với mục đích khẳng định các nhân tố mà tác giải đưa ra trong bài là phù hợp
tại tổng công ty cổ phần y tế Danameco. Cuối cùng tác giả sẽ có một số ý kiến
về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả và đưa ra các giải pháp nhằm giúp
công ty phát huy hết hiệu quả của các nhân tố
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ hiệu quả hoạt động của công ty và nhận diện các nhân
tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của công ty Danameco sau khi cổ phần hóa.
Qua đó, giúp cho Quản trị điều hành của công ty tốt hơn nhằm gia tăng hiệu
quả hoạt động kinh doanh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
của công ty sau khi cổ phần hóa. Luận văn chỉ xem xét hiệu quả thông qua
các chỉ tiêu đo lường bằng thước đo giá trị. Hay nói cách khác, hiệu quả được
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.1. KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm về hoạt động SXKD
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và
dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận
lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng
sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả
năng kinh .0doanh.
“Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết
quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt
động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”
[5,tr 5]
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm :
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh
doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
+ Kinh doanh phải gắn liền với thị trường, các chủ thể kinh doanh có
mối quan hệ mật thiết với nhau đó là quan hệ với bạn hàng, với chủ thể cung
cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà nước.
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận
1.1.2. Khái niệm về hiệu quả hoạt động
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm
của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận. Môi
trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược
kinh doanh thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính
phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả [4,tr 409] :
9
+ Kết quả hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau
một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh
nghiệp. Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể
định lượng cân đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản
ánh được mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy
tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Chất lượng bao giờ
cũng là mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã sử
dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó
(cả trong lý thuyết và thực tế thì cả hai đại lượng này có thể được xác định
bằng đơn vị giá trị hay hiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó
khăn hơn vì trang thái hay đơn vị tính của đầu vào và đầu ra là khác nhau còn
sử dụng đơn vị giá trị sẽ luôn đưa được các đại lượng khác nhau về cùng một
đơn vị. Trong thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu
cuối cùng của hoạt động sản xuất cũng có những trường hợp sử dụng nó như
là một công cụ để đó lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt ra.
1.2. HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ CÔNG TY
CỔ PHẦN.
1.2.1. Khái niệm về CTCP
1.2.1.1. Khái niệm: CTCP là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá
nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số tối đa; cổ đông
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông
giữa chủ sở hữu và người quản lý
11
Từ những đặc điểm trên đây, đánh giá hiệu quả trong công ty cổ phần
cần chú trọng đến hiệu quả dành cho cổ đông (như chỉ tiêu EPS), và đánh giá
giúp cho quản trị, điều hành công ty đạt hiệu quả cao hơn. Phân tích hiệu quả
phải giúp Hội đồng quản trị kiểm soát chặt chẽ hơn hành động của ban giám
đốc.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Luận văn đề cập đến 3 nhóm chỉ tiêu cơ bản đo lường hiệu quả hoạt
động SXKD của doanh nghiệp theo thước đo giá trị [10]:
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Đây là 3 chỉ tiêu đo lường hiệu quả theo thước đo giá trị (nhấn mạnh
hiệu quả tài chính của doanh nghiệp)
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả
Ở nhóm chỉ tiêu này, luận văn sẽ dựa vào Báo cáo tài chính để phân
tích nhằm làm rõ các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, chi phí /doanh thu, lợi
nhuận/doanh thu.
Phân tích tăng trưởng doanh thu: Số liệu của chỉ tiêu này được lấy từ
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mục đích của phân tích chỉ tiêu này là
nhằm chỉ rõ sự tăng trưởng doanh thu qua các năm, cũng như tốc độ tăng
trưởng doanh thu qua từng năm ở giai đoạn trước cổ phần hoá và giai đoạn
sau cổ phần tại công ty như thế nào qua đó khẳng định được hiệu quả hoạt
động của công ty từ sau cổ phần hoá.
Tổng doanh thu = Doanh thu thuần + Doanh thu tài chính + Doanh thu
khác
Hiện nay, tài sản dài hạn trong doanh nghiệp gồm: các khoản phải thu
dài hạn, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
Khi phân tích hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn thường chủ yếu đánh
giá hiệu suất sử dụng TSCĐ thông qua chỉ tiêu:
Hiệu suất sử dụng
Tài sản cố định
=
Doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân
13
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá TSCĐ đem lại bao nhiêu
đồng doanh thu thuần, giá trị này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ
càng cao và ngược lại.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Trong quá trình SXKD, TSNH luôn vận động không ngừng và lần lượt
mang các hình thái khác nhau trong quá trình dự trữ, sản xuất, lưu thông phân
phối. TSNH là biểu hiện bằng tiền của số vốn lưu động tại doanh nghiệp. Khi
quản lý tốt việc sử dụng TSNH tức làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Xác định hiệu suất sử dụng TSNH chính là xem xét tốc độ luân chuyển
TSNH. Tốc độ luân chuyển TSNH cao không chỉ giải quyết nhu cầu về vốn
mà còn nâng cao khả năng sinh ra tiền, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Tốc độ luân chuyển TSNH được xem xét qua hai chỉ tiêu: Số vòng quay
bình quân của TSNH và số ngày bình quân của một vòng quay TSNH.
Số vòng quay bình
quân của TSNH
hình hàng tồn kho và tốc độ luân chuyển hàng tồn kho. Số vòng quay hàng
tồn kho càng cao thì số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng
càng giảm, chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho càng nhanh.
1.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) :
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản chính là việc đánh giá khả năng sử
dụng một cách tổng hợp các nguồn lực để tạo ra kết quả của hoạt động SXKD
tại doanh nghiệp, hay nói cách khác đó chính là khả năng sinh lời của tài sản.
Khả năng sinh lời của tài sản được biểu hiện qua chỉ tiêu tỷ suất lợi
nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Lợi nhuận
ROA
=
Tổng tài sản bình
quân
x 100
Lợi nhuận được sử dụng trong công thức này là lợi nhuận của hoạt
động SXKD và hoạt động khác, được lấy từ chỉ tiêu “Tổng LNTT” trên Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Vì thế, chỉ tiêu tổng tài sản là toàn bộ tài
sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng tài sản đầu tư thì tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Hệ số của ROA càng cao phản ánh sự sắp
xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả.
Ngoài ra, để đánh giá khă năng sinh lời kinh tế (khả năng sinh lời phụ
thuộc vào đặc điểm kinh tế ngành và quản trị kinh doanh, không phụ thuộc
trên
vốn CSH (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
=
Vốn CSH bình quân
x 100
Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời của vốn
CSH. Tác giả GS.TS Trương Bá Thanh cho rằng “Trong điều kiện doanh
nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn, nhất là thông qua thị trường tài chính,
chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có cơ hội tìm được nguồn vốn
mới. Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp dưới mức sinh lãi cần thiết của thị trường
16
thì khả năng thu hút vốn CSH, khả năng đầu tư vào doanh nghiệp càng khó”
[7, T124]. Còn theo ThS Nguyễn Tấn Bình trong phần đánh giá hiện trạng tài
chính của doanh nghiệp cho rằng “Không có gì là quá đáng khi nói rằng sự
nghiệp của phần lớn các nhà quản trị cao cấp thăng trầm theo sự lên xuống
của ROE ở công ty họ”. ROE được gán cho tầm quan trọng như vậy là do tỷ
số này đã đo lường được tính hiệu quả của đồng vốn của các CSH công ty. Nó
xem xét lợi nhuận một đồng tiền của CSH mang đi đầu tư, đó là phần trăm lợi
nhuận thu được của CSH trên vốn đầu tư của mình. Nói tóm tại, nó đo lường
tiền lời của mỗi đồng tiền vốn bỏ ra”. [1, T58].
Như thế cho thấy, tỷ suất sinh lời vốn CSH là nhân tố cơ bản đóng vai
trò quyết định đến tốc độ phát triển của vốn CSH bởi khả năng sinh lời vốn
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty cổ phần
được nhận diên trong nhiều nghiên cứu cả về định tính và định lượng.
Theo Tiến sĩ Trần Tiến Cường (Giam đốc phòng nghiên cứu chính sách cải
cách doanh nghiệp và phát triển RDERDP, CIEM) và các nghiên cứu sinh
nghiên cứu tại RDERDP, CIEM đã nghiên cứu vấn đề này và bài viết được
đăng trên Tạp chí Viet Nam Economic management review số T.1(2007) [2].
Ông và các đồng nghiệp đã đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động sau cổ phần hóa. Các nhân tố này được trình bày tóm tắt dưới đây.
1.3.1. Quản trị công ty
Việc ra quyết định trong các vấn đề quan trọng đã có một số thay đổi
lớn. Trước khi cổ phần hóa, các quyết định liên quan đến các vấn đề quan
trọng trong các doanh nghiệp đến từ bên ngoài. Sau cổ phần hoá, điều này đã
được phân cấp cho các doanh nghiệp cổ phần hoá. Vì vậy, những quyết định
này quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của doanh nghiệp và cũng có thể quan
tâm nhiều hơn đến các mục tiêu kinh tế, cụ thể là:
Cơ chế bổ nhiệm quản lý điều hành
Trong quá trình cổ phần hóa, ảnh hưởng của các cơ quan cấp trên, tổng
công ty, và các công ty mẹ này rất rõ ràng. Điều này là bởi vì các bên liên
quan có ảnh hưởng lớn nhất trong việc lựa chọn Giám đốc, mặc dù 22%
doanh nghiệp nghĩ rằng người lao động đã có ảnh hưởng nhiều trong việc bổ
nhiệm một giám đốc. Điều này là dễ hiểu bởi vì, khi bổ nhiệm một giám đốc
18
trong thời gian cổ phần hóa, người lao động là cổ đông sáng lập và đã có một
ảnh hưởng lớn đến quyết định và bổ nhiệm một giám đốc.
Sau khi chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần hoá, ban giám đốc sẽ
có ảnh hưởng nhất trong việc lựa chọn một giám đốc của một công ty. Tuy
nhiên, ngoài vai trò quan trọng của hội đồng quản trị, công nhân vẫn có quyền
quyết định cụ thể ở doanh nghiệp cổ phần hoá cung cấp cho chúng tôi với các
nội dung sau.
Hội đồng quản trị giữ vai trò quan trọng nhất trong việc quyết định đầu
tư lớn của doanh nghiệp cổ phần hoá. Đây là hợp lý bởi vì chức năng chính
của ban giám đốc phải tập trung vào giải quyết các vấn đề chiến lược của
công ty. Ngược lại, mặc dù một giám đốc công ty có ảnh hưởng nhất định, tuy
nhiên so với doanh nghiệp Nhà Nước mức ảnh hưởng này đã giảm đáng kể.
Một giám đốc là một trong những người có quyền lực và ảnh hưởng lớn nhất
về các vấn đề quyết định như số lượng, tiền lương và lợi ích của người lao
động trong công ty. Điều này là phù hợp với quy định hiện hành.
Thay đổi trong quản lý cấp cao
Cổ phần hóa đã không mang lại sự rối loạn lớn trong nhân viên. Cuộc
khảo sát cho thấy 80-90% doanh nghiệp cho biết rằng đã có không có thay đổi
trong vị trí của chủ tịch, ban giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, Kế toán
trưởng. Như vậy, một mặt, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không nhất
thiết cần phải thay đổi quá nhiều về nhân sự, trong khi mặt khác, quan trọng
hơn, nó đảm bảo rằng các doanh nghiệp cổ phần hoá vẫn có thể đạt được hiệu
quả kinh doanh và sản xuất với các nguồn nhân lực còn lại bởi các mô hình
doanh nghiệp nhà nước. Nói cách khác, những thay đổi đó đã giúp mang lại
thành công cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa không phải là việc đổi mới
nhân viên mà do cơ chế hoạt động và các mô hình quản trị doanh nghiệp
1.3.2.Tái cấu trúc
20
Qua kết quả khảo sát của ông và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng phần
lớn các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa, đến một mức độ nhất định, thay
đổi trong cấu trúc sản phẩm và thị trường, công nghệ sản xuất, và chất lượng
sản phẩm. Cụ thể, đã có 25% doanh nghiệp cổ phần hoá thông qua những
Trần Tiến Cường và các cộng sự bởi nghiên cứu của ông và các cộng sự đã
được kiểm chứng bằng khảo sát thực tế ở 559 doanh nghiệp tại nước ta. Các
nhân tố này sẽ được kiểm chứng tại Công ty nghiên cứu ở chương 2.
22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp sẽ góp
phần quan trọng để đạt được mục tiêu. Kết quả của phân tích là cơ sở để đưa
ra các quyết định quản trị ngắn hạn, dài hạn, giúp dự báo đề phòng và hạn chế
những rủi ro trong kinh doanh. Một trong những mục tiêu của cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nước là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Thực tế hiệu quả ở các doanh nghiệp cổ phần hóa đã chứng minh cho
chính sách này, thông qua các nghiên cứu như đã trình bày ở trên . Tuy nhiên,
đánh giá hiệu quả một cách đầy đủ, nhận diện rõ các yếu tố tác động đến hiệu
quả sau cổ phần hóa là một công việc hết sức quan trọng. Vì thế, phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động càng trở nên cần thiết và có ý
nghĩa bởi nó đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng quan tâm đến tình hình
tài chính công ty.
Chương 1 tác giả đã trình bày các chỉ tiêu để phân tích hiệu quả hoạt
động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa.
Trên cơ sở chương 1 để chương 2 tiến hành thu thập số liệu và đánh giá
hiệu quả hoạt động tại công ty sau cổ phần hóa cũng như các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả đó.
23
CHƯƠNG 2
Nghiệp Trảng Nhật 2 - Xã Điện Hoà- Huyện Điện Bàn- Tỉnh Quảng Nam
Ngoài ra Công ty còn có các đơn vị trực thuộc hoạt động phụ thuộc:
Tên đơn vị
STT
1
Địa điểm
Chi nhánh TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN Y Số 1, ngõ 135 Núi
TẾ DANAMECO tại Hà Nội
Trúc - Ba Đình - Hà
Nội
2
Chi nhánh TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN Y K15/300 Đường cộng
TẾ DANAMECO tại TPHCM
3
hoà - TPHCM
Chi nhánh TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN Y 79 Hải Phòng - Quận
TẾ DANAMECO tại Đà Nẵng
Hải Châu - TP Đà
Nẵng
- Kinh doanh hóa chất xét nghiệm, hóa chất chống dịch, dụng cụ, thiết
bị khoa học kỹ thuật, xe cứu thương và các thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công
tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Dịch vụ tư vấn sửa chữa, bảo trì, thiết kế xây dựng labo xét nghiệm,
phòng mổ, phòng X-Quang và các công ty chuyên ngành y tế
- Đảm nhận công tác hậu cần cho các chương trình tiếp nhận và phân
phối hàng viện trợ khu vực miền trung và tây nguyên.
2.1.2.2. Mặt hàng, sản phẩm của doanh nghiệp
- Sản phẩm dùng trong phẫu thuật: Khẩu trang, gạc phẫu thuật ổ bụng,
gạc phẫu thuật, gạc cầu, gạc mèche phẫu thuật, tấm trãi, khăn….
- Sản phẩm dùng trong cấp cứu chấn thương: Băng thun, băng cuộn
lưới, băng cuộn gạc, băng tam giác, cán cứu thương, áo phao…
- Gói đỡ đẻ sạch, bộ sanh, băng rốn trẻ sơ sinh
- Thùng carton các loại
- Trang phục phẫu thuật, trang phục chống dịch.
2.1.2.3. Nguồn nguyên vật liệu
Nguồn NVL phục vụ sản xuất và hàng hóa kinh doanh của Công ty
phần lớn là nhập khẩu từ các nhà sản xuất lớn, đạt tiêu chuẩn như công ty
Charles wembley, công ty Shaoxing Gangfeng Hospital products, công ty
Kichietsu busan, công ty Healthy Medacal development, công ty Johnson &
Johnson Medical Singapore,… và các nhà cung cấp nổi tiếng khác ở các nước
Mỹ, Nhật, Châu âu.
Việc lựa chọn nhà cung ứng là một trong những tiêu chí góp phần tạo
nên sự ổn định về chất lượng cho sản phẩm. Công ty danameco luôn chọn
mua và cung cấp đầy đủ kịp thời nguyên liệu với tiêu chuẩn chất lượng và giá
cả hợp lý cho sản xuất kinh doanh.