BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÙI THỊ BÍCH HÀ
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG SĨ QUÝ
Đà Nẵng - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2013
BÙI THỊ BÍCH HÀ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới sự phát triển
làng nghề truyền thống .................................................................................... 33
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế thị xã An Nhơn trong thời gian qua... 40
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG THỊ
XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH THỜI GIAN QUA................................. 42
2.2.1. Thực trạng về gia tăng các cơ sở sản xuất trong các làng nghề
truyền thống..................................................................................................... 42
2.2.2. Thực trạng phát triển quy mô ở các cơ sở sản xuất........................ 44
2.2.3. Thực trạng phát triển và sử dụng các nguồn lực ............................ 52
2.2.4. Thực trạng lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất ............................ 58
2.2.5. Thực trạng mở rộng thị trường....................................................... 60
2.2.6. Thực trạng gia tăng kết quả và hiệu quả sản xuất ở các cơ sở ....... 64
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG TẠI THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH .................................. 67
2.3.1. Thành công và hạn chế................................................................... 67
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế .............................................................. 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG TẠI THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BỊNH ĐỊNH THỜI GIAN
TỚI.................................................................................................................. 70
3.1. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP .................................................. 70
3.1.1. Dự báo sự thay đổi của môi trường................................................ 70
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở thị xã An Nhơn................ 71
3.1.3. Một số quan điểm có tính định hướng khi xây dựng giải pháp...... 73
3.2. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ....................................................................... 75
3.2.1. Giải pháp gia tăng số lượng các cơ sở trong làng nghề truyền
thống................................................................................................................ 75
3.2.2. Giải pháp gia tăng quy mô của từng cơ sở sản xuất....................... 78
3.2.3. Giải pháp gia tăng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ............. 79
Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LNTT
Làng nghề truyền thống
QĐ
Quyết định
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Tình hình dân số thị xã An Nhơn từ 2008 – 2012
36
2.3
Cân đối lao động thị xã An Nhơn từ 2008 - 2012
37
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề từ
2008 – 2012
Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội thị xã An Nhơn từ 2008 2012
Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế thị xã An Nhơn từ
2008 – 2012
Số lượng cơ sở sản xuất của các làng nghề truyền thống
từ 2008 – 2012
Số lượng các cơ sở sản xuất ở thị xã An Nhơn phân theo
ngành nghề
38
39
41
Vốn đầu tư bình quân của một cơ sở sản xuất
54
2.15
Tình hình nhà xưởng, thiết bị tại các cơ sở sản xuất
55
2.16
Các loại hình cơ sở SXKD của LNTT
59
2.17
Cơ cấu bán sản phẩm ở các hình thức năm 2012
61
2.18
Giá trị sản xuất trong các làng nghề truyền thống từ 2008
- 2012
64
Biểu đồ Cơ cấu kinh tế thị xã An Nhơn qua các năm
42
2.3
Cơ cấu sử dụng thiết bị, nhà xưởng
56
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn có tầm quan
trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn là cần thiết và có
vai trò quan trọng nhằm đưa nông nghiệp thoát khỏi tình trạng thuần nông, tự
cấp, tự túc, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và chuyển đổi cơ
cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ. Hiện nay, một trong những nội dung quan trọng của CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ
công nghiệp, các làng nghề truyền thống trong khu vực nông thôn, góp phần
thu hút lao động dôi dư, giải quyết việc làm, đồng thời nâng cao thu nhập và
từng bước cải thiện đời sống nhân dân.
Hiện nay, nước ta có khoảng 80% dân số sống trong khu vực nông thôn,
70% nguồn lao động nằm trong khu vực này, hàng năm lại bổ sung thêm hàng
triệu lao động. Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực nông thông đã đạt được
nghề truyền thống trong đó có 19 làng nghề tiểu thủ công nghiệp và 5 làng
nghề mai cảnh. Trong sự phức tạp của nền kinh tế thị trường hiện nay, để cho
các làng nghề truyền thống tồn tại và vận động có hiệu quả không chỉ là chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn là vấn đề nguyên liệu đầu
vào, tiêu thụ sản phẩm… Trong kinh doanh, mục tiêu về lợi nhuận luôn chiếm
ưu thế hàng đầu của các doanh nghiệp, của các cơ sở sản xuất, song mục tiêu
đó khi không đạt được, không ít những cơ sở sản xuất, hộ gia đình bị phá sản.
Có nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan về sự phá sản, làm ăn
không hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát
triển làng nghề truyền thống ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển làng nghề
truyền thống.
- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở thị xã An
Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển làng nghề truyền thống thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển làng nghề
truyền thống ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài nghiên cứu các nội dung liên quan tới phát triển làng
nghề truyền thống.
- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung trên vào 3 làng
nghề Tiện gỗ Mỹ nghệ Nhơn Hậu, Rượu Bàu đá Nhơn Lộc, Bún bánh An
Trước tiên là nhóm các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và nông
thôn nói chung, trong đó bao hàm cả các làng nghề như các công trình nghiên
cứu: “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam – những rào cần cần phải vượt qua” của
GS.TS Nguyễn Văn Thường – Nhà xuất bản Lý luận chính trị 2005; “Các
làng nghề nông thôn Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
– Nhà xuất bản Nông nghiệp 1998; “Phát triển công nghiệp nông thôn Việt
Nam” của UNIDO - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; “Môi trường
kinh doanh ở nông thôn Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung
ương do TS. Chu Tiến Quang chủ biên – nhà xuất bản chính trị Quốc gia
2003; Báo cáo điều tra của Dự án VIE/98/022/UNIDO, Hà Nội 1998, v.v…
Các nghiên cứu này đã đưa hệ thống các giải pháp cho phát triển nông nghiệp
và nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, các giải pháp đưa
ra cũng có đề cập đến định hướng phát triển của làng nghề.
5
Thứ hai là nhóm nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, trong đó có liên
quan đến sự phát triển làng nghề như các công trình nghiên cứu: “Chiến lược
cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay” của TS Phạm
Thúy Hồng – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2004; “Định hướng và giải
pháp kinh tế chủ yếu nhằm phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp trong
nông thôn tỉnh Hà Tây” – Luận án Tiến sĩ kinh tế của Lê Mạnh Hùng, Hà Nội
2005; “Chiến lược phát triển và dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ: các tài liệu của cuộc họp quốc tế giữa các chuyên gia” của UNTAC,
Newyork và Geneva 2000; “Khu vực tư nhân ở Việt Nam: Sự kiện, con số,
thay đổi chính sách và khảo sát các kết quả nghiên cứu” của Liesbet Steer,
CIE, 2001… Các nghiên cứu này đã có những đóng góp lý luận và thực tiễn
về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển làng nghề thủ công, phát
triển nguồn nhân lực nông thôn… trong các nghiên cứu đó cũng đã đề cập đến
và nông dân theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1.1. Một số khái nhiệm
a. Làng nghề
Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông
thôn bao hàm một tập hợp cộng đồng dân cư trên một lãnh thổ xác định, có
khả năng độc lập về kinh tế. Trong điều kiện chống ngoại xâm, thiên tai thì họ
là một cộng đồng thống nhất. Họ còn là một cộng đồng văn hóa gắn liền với
biểu tượng cây đa, giếng nước, mái đình, nhà thờ.
Làng theo định nghĩa của từ điển tiếng việt, là một khối người quây
quần ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào xã hội của
người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một
không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng
sinh sống và sản xuất.
Khái niệm nghề có thể được hiểu là công việc kiếm sống hàng ngày của
người dân. Các nghề được hoạt động trong hoạt động chung của làng nghề là
những nghề thủ công, sản phẩm làm ra mang dấu ấn của người làm ra nó.
Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề:
Thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt
động cho nghề ấy và lấy nghề đó làm nguồn sống chủ yếu. Nhưng với quan
niệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều, như làng gốm Bát
Tràng,... Hiện nay, trong những làng nghề kiểu này vẫn còn một bộ phận dân
Như vậy, làng nghề cũng là một làng ở nông thôn nhưng ngoài sản xuất
nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, sản phẩm làm ra không đáp ứng nhu cầu của bản thân, của gia đình họ
9
mà còn để trao đổi, mua bán. Có nghĩa là sản phẩm của làng nghề cón có tính
hàng hóa.
b. Làng nghề truyền thống
Quan niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cứ, cư trú trong một
phạm vi địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp,
cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời để sản xuất ra
một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra ra thị trường để thu lợi. Quan niệm này
mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng
nghề mới, những tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa
được đề cập đến.
Quan niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm nghề truyền thống lâu
năm, thường là qua nhiều thế hệ. Quan niệm này cũng chưa đầy đủ bởi vì khi
nói đến LNTT ta không thể chú ý đến các mặt hàng đơn lẻ, mà phải chú trọng
đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ
thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân sản
phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật.
Quan niệm thứ ba: LNTT là những làng nghề có tuyệt đại đa số bộ phận
dân số làm nghề cổ truyền, được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong
lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối
hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Trong làng sản xuất mang tính tập
trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt
nhân để phát triển nghề. Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu, độc
đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc. Giá trị sản xuất và thu nhập
tâm tới hai khía cạnh còn lại. Về kinh tế tập trung vào duy trì tăng trưởng kinh
tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, hàm
lượng khoa học - công nghệ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải
thiện môi trường; Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng
theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường; Thực hiện quá trình “công
11
nghiệp hoá sạch”; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây
dựng nền “công nghiệp xanh”; Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững;
Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển
bền vững. Đồng thời chú ý tới việc tập trung nỗ lực để xoá đói, giảm nghèo,
tạo thêm việc làm; tạo lập cơ hội bình đẳng để mọi người được tham gia các
hoạt động xã hội, văn hoá, chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường;
Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân số
đối với các lĩnh vực tạo việc làm, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường sinh thái;
Định hướng quá trình đô thị hoá và di dân nhằm phân bố hợp lý dân cư và lực
lượng lao động theo vùng, bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi
trường bền vững ở các địa phương trước hết là các đô thị; Phát triển về số
lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân
dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống; Chống thoái
hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; Bảo vệ môi trường nước
và sử dụng bền vững tài nguyên nước; Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm,
bền vững tài nguyên khoáng sản.
Trên cơ sở lý luận về phát triển, có thể thấy được rằng phát triển LNTT
là sự tăng lên về quy mô LNTT và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của
làng nghề.
Sự tăng lên về quy mô LNTT được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của
từng LNTT và số lượng LNTT được tăng lên theo thời gian và không gian
thời gian qua ở LNTT đã có hàng trăm hộ nông dân chuyển sang phát triển
LNTT, hoặc vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất ngành nghề. Vì thế, đã
tăng cường cơ sở vật chất cho kinh tế nông thôn.
- Thứ hai, phát triển LNTT là biện pháp hữu hiệu giải quyết việc làm cho
người lao động ở nông thôn.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp để giải
quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn như: tạo điều kiện cho người
13
dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, thâm canh tăng vụ,… Những biện pháp
này ít nhiều đã có tác động tích cực giải quyết một phần công ăn việc làm cho
người lao động ở nông thôn. Song, sản xuất nông nghiệp bản thân nó không
có khả năng giải quyết số lao động ở nông thôn. Cho nên, trong điều kiện đất
đai canh tác ngày càng hạn hẹp, nguồn vốn ít, lao động dư thừa, việc tìm ra
biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động là đòi hỏi hết
sức cấp bách có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn hiện nay.
Sự phát triển của LNTT ở nông thôn đã không chỉ thu hút lao động ở gia
đình, ở địa phương mình mà còn thu hút lao động từ địa phương khác đến làm
thuê. Chính vì thế, sự phát triển LNTT được xem là biện pháp hữu hiệu để
giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.
- Thứ ba, phát triển LNTT góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống
dân cư ở nông thôn và tăng tích lũy.
Qua thực tế cho thấy, không ít LNTT tồn tại đến ngày hôm nay có nền
kinh tế phát triển khá, thu nhập bình quân đầu người trong làng khoảng trên
400 ngàn đồng/tháng như làng gốm sứ Bát Tràng 570 ngàn đồng, làng lụa tơ
tằm Vạn Phúc xấp xỉ 70% hộ khá – giàu,… Kết quả này một phần cho thấy,
LNTT đã đem lại thu nhập cao cho người nông dân hơn là việc làm nông đơn
thuần. Bởi vì:
để tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản
xuất, làm cho chất lượng sản phẩm tăng cao, giảm giá thành sản phẩm, khả
năng cạnh tranh trên thị trường lớn. Khi LNTT phát triển mạnh mẽ, thì cơ sở
vật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện thuận lợi
cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ
chức, tính kỷ luật. Qua đó, trình độ người lao động ngày càng được nâng cao,
lại là cơ sở thuận lợi để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào lĩnh vực
sản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng nghề.
- Thứ năm, Phát triển LNTT tạo điều kiện phân bố lại và sử dụng lao
15
động hợp lý. Bởi, phát triển LNTT tạo cho người lao động có thu nhập cao
hơn. Từ đó sẽ thu hút người lao động chuyển sang làm các ngành nghề thủ
công truyền thống hoặc làm các nghề liên quan khác như thương mại, dịch
vụ,… Khi đó, lao động nông nghiệp sẽ giảm và lao động trong các ngành phi
nông nghiệp sẽ tăng, tạo động lực cho quá trình phân công lại lao động theo
hướng CNH, HĐH. Qua đó, phát triển LNTT cũng góp phần chuyển dịch cơ
cấu lao động và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng giảm dẩn
tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng CN và DV.
- Thứ sáu, phát triển LNTT góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Nói đến LNTT Việt Nam là nói đến việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Lịch sử
phát triển của LNTT Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển văn hoá của dân
tộc, nó là nhân tố tạo nên một nền văn hoá đặc trưng của dân tộc ấy. Nhiều
sản phẩm của LNTT mang tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm
nghệ thuật trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của văn hoá dân tộc, là sự
kết tinh, bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc và là sự bảo lưu những
tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những
thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng.
đã thúc đẩy các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, ban đầu phục vụ nhu cầu của
gia đình mang tính tự sản tự tiêu, sau phát triển thành hoạt động có quy mô
nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy LNTT hình thành và phát triển.
b. Có truyền thống lâu đời
Đặc trưng của LNTT Việt Nam là có truyền thống lâu đời. Thời Đông
Sơn từ năm 3000 đến năm 258 trước công nguyên, người Việt đã phát minh ra
công thức luyện đồng thau, đồng thanh và đúc được trống đồng Đông Sơn,
sản phẩm chứng minh cho nghề truyền thống thời bấy giờ. Trải qua mỗi thời
kỳ và đến nay, LNTT nước ta chịu nhiều biến động về công nghệ, thị trường,
chiến tranh, cơ chế chính sách và có nhiều bước thăng trầm nhất định, có lúc
phát triển mạnh mẽ về sản lượng, quy mô, đa dạng hoá các ngành nghề,