1. LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN
1.1. Các văn bản pháp lý
Các văn bản có nội dung liên quan đến hoạt động sư phạm của giáo viên:
- Luật giáo dục 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều lệ Trường tiểu học; Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên tiểu học.
- Nghị định số .......................... của của Chính phủ về việc tổ chức và hoạt động thanh tra giáo
dục;
- Thông tư số ................................. của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về thanh tra
chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục;
- Hướng dẫn số .................... của Sở Giáo dục và Đào tạo ...................... về việc hướng dẫn
thực công tác thanh tra năm học .............;
- Kế hoạch số ......................... của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã .............. về công tác
kiểm tra giáo dục năm học ............;
- Kế hoạch số ........................ của Trường Tiểu học ................, về công tác kiểm tra nội bộ
năm học .............., có nội dung “Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên”
1.2. Lý do về lý luận
Kiểm tra nội bộ nhà trường là một hoạt động quản lý thường xuyên của hiệu trưởng, là
một yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới quản lý hiện nay mà người hiệu trưởng của bất kỳ
loại hình trường nào cũng phải thực hiện.
Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là một trong những nội dung kiểm tra nội
bộ trường phổ thông, một khâu trong chu trình quản lý nhà trường giúp hiệu trưởng bảo đảm
sự toàn vẹn của quá trình quản lý và đạt chất lượng tổng thể của quá trình giáo dục, giúp nhà
trường thực hiện tốt quyền tự chủ và thực hiện trách nhiệm xã hội, đồng thời giúp nhà trường
kiểm định chất lượng, tự đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường một cách
khách quan. Ta có thể hiểu như sau:
*Kiểm tra: là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét (Trang 1122 - Từ điển Tiếng
Việt – NXB Từ điển Bách khoa – Xuất bản 2011 – Hoàng Phê chủ biên)
*Hoạt động: tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất
định trong đời sống xã hội. (Trang 1122 - Từ điển Tiếng Việt – NXB Từ điển Bách khoa –
Xuất bản 2011 – Hoàng Phê chủ biên)
*Sư phạm: là khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường. (Trang 1122 - Từ điển
1.3. Lý do thực tiễn
Thực tế trong nhiều năm qua, công tác kiểm tra hoạt động sư phạm giáo viên ở
Trường Tiểu học ............... đã được thực hiện nhưng chưa đi vào chiều sâu, còn làm qua loa,
hình thức đơn điệu, trùng lặp, ít hấp dẫn. Trong thời đại ngày nay, từ thực tiễn xu thế phát
triển nói chung, sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo nói riêng mà đặc biệt đáp ứng mục tiêu
giáo dục Tiểu học thì việc tổ chức kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo là hoạt động hết sức
cần thiết, nhà quản lý trường tiểu học cần phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc
kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo, từ đó có biện pháp quản lý khoa học và phù hợp với
thực tế. Để làm được điều này nhà quản lý cần nghiên cứu sâu cơ sở lý luận của việc kiểm tra
hoạt động sư phạm của giáo viên.
Xuất phát từ thực tế trên, sau khi được tham gia lớp Cán bộ quản lý tiểu học ..............,
tôi nhận thấy công tác quản lý rất quan trọng đặc biệt là công tác kiểm tra hoạt động sư phạm
của giáo viên là một trong những nhiệm vụ then chốt quyết định sự phát triển toàn diện của
nhà trường, nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của
giáo viên ở Trường Tiểu học ..................... Năm học .....................” làm đề tài tiểu luận. Tôi
2
hy vọng rằng với đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cho Trường
Tiểu học ........................ trong thời gian tới.
2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG
SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ....................
2.1. Khái quát về Trường Tiểu học .....................
a. Khát quát chung: Trường Tiểu học .................... thuộc địa bàn nông thôn, nằm
trong vùng sạt lỡ hàng năm nên biến động và không ổn định về dân cư. Dân cư đa số là dân
tộc kinh. Nhân dân trong địa bàn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và làm thuê. Nhiều
năm liền Trường đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến.
Năm học này, Trường Tiểu học ............ có lớp với ......... học sinh. Một bộ phận không
nhỏ các em thuộc gia đình khó khăn nên tình trạng bỏ học và nguy cơ bỏ học còn cao.
b. Về đội ngũ: Tổng số cán bộ, viên chức: 36 (Ban giám Hiệu: 02; TPT Đội: 1; Giáo
đánh giá, vì vậy, việc dự giờ đánh giá gặp nhiều khó khăn.
2.2.2.2. Đào tạo lực lượng kiểm tra
Để lực lượng kiểm tra thực thi trách nhiệm có hiệu quả, hàng năm, Hiệu trưởng đều cử
tổ trưởng các tổ tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong hè.
2.2.2.3. Xây dựng chuẩn kiểm tra
Từ trước đến nay, nhà trường chưa xây dựng chuẩn, tiêu chí kiểm tra riêng cho đơn vị.
Ban kiểm tra nhà trường chỉ sử dụng một số văn bản pháp lý làm cơ sở để tiến hành đánh giá
hoạt động sư phạm của giáo viên.
Trong quá trình kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, hầu như ban kiểm tra chỉ
vận dụng thang bảng điểm để đánh giá giờ dạy là chính. Vì vậy mà giờ dạy gần như quyết
định chính trong việc xếp loại giáo viên. Các mặt hoạt động khác hầu như chỉ nhận xét rất sơ
sài. Từ đó việc đánh giá giáo viên sẽ trở thành phiến diện.
2.2.3. Chỉ đạo kiểm tra
Sau khi lập kế hoạch, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Ban Kiểm tra, công bố kế
hoạch kiểm tra.
Hiệu trưởng hướng dẫn, động viên lực lượng kiểm tra kiểm tra để lực lượng kiểm tra
thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Thường thì công tác hướng dẫn và động viên chưa được
quan tâm đúng mức, Hiệu trưởng chỉ động viên chung chung như cố gắng khách quan, không
thiên vị, không áp đặt, không định kiến… Trong công tác động viên lực lượng kiểm tra, chưa
có phần khích lệ về mặt chế độ hay quyền lợi về vật chất, tinh thần cho lực lượng kiểm tra.
2.2.4. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy
2.2.4.1. Kiểm ta, đánh giá
a. Kiểm tra phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên:
Thực tế, Ban kiểm tra chưa thực thi đúng việc kiểm tra. Hiện nay, các nội dung này
chủ yếu Ban kiểm tra chuyên môn mặc định xếp vào mức thực hiện tốt cho giáo viên được
kiểm tra.
b. Kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao
b.1 Trình độ tay nghề
Trong quá trình kiểm tra, hầu như Ban kiểm tra chỉ dựa vào việc dự một số tiết thực
dạy để đánh giá trình độ, nghiệp vụ tay nghề của giáo viên. Vì vậy, nếu chẳng may, giáo viên
- Kiểm tra về đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các qui định về chuyên môn: Đây là
công việc định kỳ phải làm nhiều lần trong năm. Các đợt kiểm tra nhìn chung khá nghiêm túc.
Đa số giáo viên lập hồ sơ sổ sách đầy đủ theo yêu cầu của trường. Trong các đợt kiểm tra hoạt
động sư phạm của giáo viên, Ban Kiểm tra có tiến hành kiểm tra hồ sơ sổ sách theo quy định.
- Kiểm tra thực hiện tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ: Trong năm
học, nhà trường có tổ chức các khoá học bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, vi tính cho giáo
viên bên cạnh các khoá học do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Đôi khi, Ban kiểm tra
chưa kiểm tra được việc tham gia học tập của giáo viên như thế nào, kết quả đạt được ra sao.
- Tuân thủ các qui định về dạy thêm, học thêm: Vấn đề này thì Nhà trường thực hiện tương
đối tốt. Không tổ chức, cấp phép dạy thêm, học thêm dưới bất kỳ hình thức nào.
b.3. Về kết quả giảng dạy, giáo dục
- Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của toàn trường, khối
lớp: Trong quá trình kiểm tra, Ban Kiểm tra cũng chỉ mới dừng lại ở việc quan sát kết quả học
tập, đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh qua các hoạt động tại lớp hoặc có các bài tập khảo
sát do Ban kiểm tra tiến hành sau các tiết dự giờ giáo viên. Ban Kiểm tra chưa tham khảo
bảng điểm đánh giá xếp loại kết quả các bài kiểm tra. Các bài kiểm tra chung được tổ chức
thực hiện vào giữa Học kì I (đối với khối 4, 5), cuối Học kì I, giữa Học kì II (đối với khối 4, 5)
5
và cuối năm theo nguyên tắc chung đề, chung khối, chung giờ, chung kết quả, học sinh kiểm
tra theo lớp, như thế sẽ không khách quan hơn trong đánh giá chất lượng học sinh.
- Kết quả lên lớp, tốt nghiệp của bộ môn ở các lớp mà giáo viên đã dạy các năm trước: Đây
là một chỉ số quan trọng trong đánh giá giáo viên. Tuy nhiên, từ trước đến nay tại đơn vị chưa
thực hiện. Hàng năm, sau khi tổng kết năm học, các kết quả về tỷ lệ lên lớp chỉ đưa vào để
đánh giá xếp loại thi đua nhưng chưa được nhà trường xem là cứ liệu trong đánh giá chuyên
môn của giáo viên. Riêng tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học chỉ để đánh
giá nhà trường chứ chưa được phân tích để đánh giá giáo viên.
b.4. Tham gia các công tác khác
- Công tác chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm): Ban kiểm tra ít chú trọng
- Tập thể giáo viên đa phần là trẻ, nhiệt tình. Đoàn kết nội bộ tốt.
6
- Bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, dễ tương tác trong công việc.
- Giữa lãnh đạo và giáo viên, nhân viên có không khí thân mật, hoà đồng.
- Các kế hoạch của nhà trường đa số được giáo viên thực hiện nghiêm túc.
- 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, đảm bảo kiến thức chuyên môn.
2.3.2. Điểm yếu:
- Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đầy đủ, chưa có phòng chức năng, điều đó cũng làm ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác dạy và học của nhà trường.
- Tay nghề không đồng đều. Giáo viên trẻ tuy nhiệt tình nhưng lại thiếu kinh nghiệm trong
giảng dạy và giáo dục học sinh, trong khi giáo viên lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm thì việc tiếp
cận các phương pháp mới cũng như nắm bắt công nghệ thông tin gặp rất nhiều khó khăn.
- Các thành viên trong ban kiểm tra hoạt động sư phạm còn nể nang nhau, ngại va chạm nên
trong khi kiểm tra làm việc chưa đúng với tinh thần kiểm tra.
- Lực lượng kiểm tra còn mỏng so với yêu cầu thực tiễn.
- Thành viên trong tổ/khối không cùng chuyên ngành (Tổ giáo viên chuyên, Tổ Văn phòng).
- Ban kiểm tra nội bộ nhà trường chưa được đào tạo nghiệp vụ kiểm tra, thanh tra nên làm
việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, truyền đạt cách làm kiểu cầm tay chỉ việc.
2.3.3. Cơ hội:
- Được sự hỗ trợ của các ban ngành, đoàn thể trong xây dựng tập thể nhà trường.
- Trường thuộc diện xây dựng chuẩn quốc gia cho nên đây là cơ hội rất lớn để tập thể nhà
trường đồng tâm xây dựng trường đạt chuẩn, với tâm lý đó làm cho mỗi cá nhân luôn phải
phấn đầu làm tốt công việc của mình được phân công, từ đó làm cho công tác kiểm tra hoạt
động sư phạm của giáo viên ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn.
2.3.4. Thách thức:
- Phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học, đều đó dẫn đến tính trạng học sinh lười học, học
hành yếu kém thậm chí là bỏ học giữa chừng.
- Công việc kiểm tra phải chính xác và chi tiết, đòi hỏi phải có một lực lượng lớn để hoàn
bài nên những kiến thức không mang tính chính xác và sẽ theo các em học sinh cả cuộc đời.
+ Hiệu trưởng cho giáo viên kí biên bản vi phạm quy chế chuyên môn để làm căn cứ, sự việc
kết thúc.
c. Kết quả:
Giáo viên đó đã không vi phạm nữa và nhiều năm liền là giáo viên giỏi cấp trường và
cấp thị xã.
*Tình huống 2: (Kiểm tra về tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh)
“Khi kiểm tra về việc giáo dục đạo đức cho học sinh, Tổ trưởng Tổ văn phòng nhận
thấy cứ đến giờ ra chơi, có một số học sinh ra khu vực hàng rào trường mua quà vặt, ăn xong
không để rác vào đúng nơi quy định mà lại vứt bừa bãi trong khuôn viên trường. Tuy giờ ra
chơi, cổng trường đã được anh bảo vệ khóa lại nhưng học sinh vẫn đứng trong cổng gọi ra
ngoài mua qua khe hở của hàng rào trường làm mất vẻ mỹ quan của trường lúc ra chơi. Tổ
trưởng đã gọi thầy Tổng phụ trách Đội lại nhắc nhở và yêu cầu tìm cách khắc phục”
a. Cách giải quyết của thầy Tổng phụ trách Đội
+ Thầy Tổng phụ trách Đội đã phân công đội Cờ đỏ theo dõi, ghi nhận những trường hợp học
sinh vi phạm và đôi khi tự mình trực tiếp theo dõi phát hiện những học sinh vi phạm, gặp trực
tiếp nhắc nhở học sinh đó, phân tích cho học sinh đó thấy được những điều hay lẽ phải, yêu
cầu yêu cầu học sinh đó hứa sẽ không tái phạm.
+ Trong các giờ sinh hoạt dưới cờ thầy luôn nhắc nhở học sinh rằng: “Ăn là một nhu cầu rất
cần thiết cho cơ thể nhưng các em ăn như thế nào và ăn vào thời gian nào, ăn ở đâu là tốt
hơn hết”, “Các em hãy giữ gìn trường học như ngôi nhà chung của chúng ta”, “Chúng ta
phải luôn luôn thực hiện mắt thấy rác – tay nhặt lấy rác”......
+ Đối với học sinh tái phạm nhiều lần thầy đã quay phim, chụp hình lại và gọi các học sinh
lên phòng riêng, cho chính học sinh ấy xem bằng chứng vi phạm của mình đã lén đi mua quà
và nói sẽ cho tất cả trường xem nếu các em tái phạm lần nữa.
b. Kết quả
8
Mục tiêu
cần đạt
Biết được
mục đích và
ý nghĩa của
công tác
1. Xây dựng và
triển khai kế
hoạch kiểm tra
hoạt động sư
phạm của giáo
viên
kiểm tra để
có bước
chuẩn bị đầy
đủ các hồ sơ
kiểm tra;
giúp giáo
viên phát
Người
thực
hiện
Phó
hiệu
trưởng
có)
Biện pháp
khắc phục
Giáo viên
không nắm
hết các nội
dung kiểm
Phô tô kế
hoạch gửi
đến các Tổ
trưởng
tra
tổ/khối để
triển khai
hoặc gửi cho
tất cả các cá
nhân có liên
quan để theo
dõi.
triển, tiến tới
có nhu cầu
cần kiểm tra
bên ngoài ít
đi và ngày
viên dạy giỏi
cấp trường
trở lên hay có
năng lực
tương đương
Phó hiệu
trưởng, các
tổ trưởng
và giáo
viên cốt
cán có
chuyên
môn cao
- Trong tháng 08
- Các văn bản liên
quan đến công tác
kiểm tra
Lựa chọn, sàn lọc và ra quyết định.
Trong đó phân công cụ thể, xác định rõ
trách nhiệm và quyền hạn của từng
thành viên trong ban kiểm tra
Các thành
viên trong
ban kiểm tra
đa phần
kiêm nhiệm
3. Các nội dung kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên
3.1. Kiểm tra về
“Phẩm chất
chính trị, đạo
Nắm được
phẩm chất
chính trị, đạo
Hiệu
trưởng
Địa
phương, tổ
trưởng
Trong tháng 12
11
đức, lối sống”
đức, lối sống
của từng giáo
viên
Xác định mặt
mạnh, mặt
3.2. Kiểm tra về
- Không hợp
tác kiểm tra
Phó hiệu
trưởng, tổ
- Trong Học kì I
- Các phiếu dự
- Xem xét, đánh giá hai mặt là trình độ
nắm vững kiến thức, kỹ năng, thái độ
Giáo
giảng
trưởng
giờ, đánh giá tiết
dạy
cần xây dựng cho học sinh thể hiện qua
việc giảng dạy và trình độ vawnj dụng
phương pháp giảng dạy và giáo dục
thông qua kiểm tra giờ dạy trên lớp của
giáo viên. Quan sát hoạt động của Thầy,
Trò và các mối quan hệ trong giờ dạy
chưa tốt
đốc
chuyên
môn
Trong Học kì I
sơ sổ sách và
chấp hành
các quy định
về chuyên
môn của giáo
- Tổ trưởng xét duyệt Kế hoạch giảng
dạy, giáo dục của giáo viên
- Duyệt bài soạn theo quy định
- Giáo viên
không chịu
tham gia bồi
Tìm hiểu
nguyên
nhân, nhắc
- Họp tổ chuyên môn 2 tuần/lần
- Tổ chức kiểm tra chuyên đề hồ sơ sổ
sách định kì và đột xuất.
- Nghiêm cấm, theo dõi và xử lý nghiêm
việc dạy thêm, học thêm (nếu có)
dưỡng
Biết được
Hiệu
tình hình học trưởng
tập, rèn luyện
của học sinh
Phó hiệu
trưởng, tổ
trưởng
Cuối Học kì I
Xem xét kết quả học tập, rèn luyện của
học sinh lớp được kiểm tra dạy so với
kết quả kiểm tra chung của toàn khối; sự
tiến bộ của học sinh từ khi giáo viên
nhận lớp so với năm trước;
Chất lượng
giảng dạy và
giáo dục
chưa đáp
ứng chỉ tiêu
đề ra
Nhắc nhở,
kiểm điểm
(nếu cần) và
phân công
trưởng
13
khác được phân mô hình,
công”
cách làm hay
hoặc nhắc
nhở nếu nề
nếp lớp chưa
tốt
nhiều mặt;
có nhiều học
sinh vi phạm
nội quy của
trường
phân công
người giúp
đỡ.
14
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận:
Sau khi tham gia lớp bồi dưỡng Cán bộ quản lý, vận dụng những đều đã học vào thực
tế công tác và điều kiện của nhà trường, tôi đã hiểu được ý nghĩa, mục đích của việc kiểm tra