VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG NGỌC TRANG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG NGỌC TRANG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN KIM LIỄU
HÀ NỘI – 2017
2.2. Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở Long An ............................................34
2.3.Thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở .............................................39
2.4. Nhận xét về thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Long An.................................................................................................................48
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI
CƠ SỞ Ở TỈNH LONG AN....................................................................................64
3.1. Quan điểm tăng cường thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Long An.................................................................................................................64
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Long An
...............................................................................................................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HGCS
Hòa giải cơ sở
MTTQVN
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
NXB
Nhà xuất bản
UBND
giữa các chủ thể, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các cá
nhân, tổ chức trong xã hội. Mặt khác, từ khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao
cấp sang cơ chế thị trường, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, các tranh chấp,
mâu thuẫn trong nhân dân ngày càng tăng. Các cơ quan có thẩm quyền không thể
và cũng không cần giải quyết tất cả mọi tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên
trong xã hội, khi mà người dân có thể tự dàn xếp ổn thỏa những xích mích trong
cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống.
Tuy nhiên, với đặc điểm địa lý, văn hóa và sự phát triển của vùng, miền, hòa
giải ở cơ sở chịu sự chi phối và tác động bởi nhiều yếu tố, Long An có dân số là
1.542.606 người, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, người dân Long An
đa số sống bằng nghề nông và nuôi trồng thủy sản, họ sống trong các mối quan hệ
làng xóm, gia đình, dòng tộc ràng buộc chặt chẽ, nên rất coi trọng tình làng nghĩa
xóm. Khi có mâu thuẫn, xích mích xảy ra, họ luôn giữ phương châm xử sự: trong
1
gia đình thì "đóng cửa bảo nhau", ra bên ngoài thì "một điều nhịn, chín điều lành".
Hơn nữa, người dân còn có thói quen ứng xử theo đạo đức, phong tục, tập quán,
hơn là theo pháp luật. Họ thường tìm cách giải quyết êm thấm các mâu thuẫn, xích
mích trong nội bộ xóm giềng. Để giữ gìn mối quan hệ - yếu tố quyết định để tồn tại
được trong một cộng đồng, hòa giải vẫn được xem là phương án tối ưu khi mà trong
ý thức, tâm lý người dân, việc giải quyết các xích mích ở nơi "công đường" là một
điều rất nghiêm trọng, mất thể diện, tình làng nghĩa xóm, quan hệ giữa các bên khó
có thể hàn gắn như cũ. Họ thích giải quyết bằng "tình làng nghĩa xóm" hơn là giải
quyết theo pháp luật. Với nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi
trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người dân Long An. Ngoài tính hiếu
khách, hào phóng và đôn hậu, người Long An còn biết bao nét đẹp truyền thống
đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu bao dung, tư chất
thông minh và giàu nghị lực, tình yêu quê hương, đất nước và sự đoàn kết, nhất trí
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Xung đột xã hội và đồng thuận
xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý xã hội – cơ sở lý luận và thực
tiễn” do GS.TS. Võ Khánh Vinh làm Chủ nhiệm, thuộc Chương trình khoa học
công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước “Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi
mới ở Việt Nam”, Hà Nội, 2009. Đề tài đã nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản về
xung đột xã hội, coi đó là một trong những trạng thái thường xuyên của cuộc sống
con người. Xung đột xã hội là sự biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội khách quan
hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữa các cá nhân, các nhóm, các tầng lớp, các tổ
chức xã hội. Giải quyết được cuộc xung đột về thực chất là kết quả đạt được do có
sự thỏa thuận giữa các bên về vấn đề tranh chấp, trong đó hòa giải được coi là
phương thức tối ưu.
Luận án tiến sĩ luật học của Đào Thị Xuân Lan, Hòa giải trong giải quyết
tranh chấp kinh tế tại toà án Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2004. Luận án
đã nêu được một số vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải các tranh chấp kinh tế tại tòa
án ở Việt Nam sau khi Trọng tài kinh tế nhà nước không còn tồn tại và tòa án đảm
nhận nhiệm vụ xét xử các tranh chấp kinh tế, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế thị trường. Luận án tuy không đề cập đến hòa giải ở cơ sở nhưng đã nêu ra
một số vấn đề liên quan đến các nguyên tắc và phạm vi hòa giải nói chung, có thể
vận dụng khi nghiên cứu thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở.
3
Đề tài khoa học cấp thành phố “Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà
Nội trong điều kiện hiện nay” do Học viện Tư pháp chủ trì, PGS.TS. Phan Hữu Thư
làm chủ nhiệm, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, tháng 3-2010. Đề tài chủ yếu
giải quyết một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở như việc
thành lập Ban Hòa giải cấp xã trong khi pháp luật không quy định; kinh phí cho
hoạt động hòa giải khó khăn; năng lực hòa giải viên thấp trong khi tính chất phức
tạp của tranh chấp, mâu thuẫn đã khác trước rất nhiều; giá trị thỏa thuận hòa giải