VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUÁN HẢI
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÔNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ DO KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC THỰC HIỆN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUÁN HẢI
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÔNG
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ DO KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC THỰC HIỆN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 62.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. NGUYỄN QUANG THUẤN
2. PGS.TS. NGÔ TRÍ TUỆ
DỊCH VỤ Y TẾ .............................................................................................................. 17
2.1. Lý luận cơ bản về dịch vụ công ............................................................................. 17
2.2. Dịch vụ công trong lĩnh vực y tế ........................................................................... 22
2.3. Vai trò của Kiểm toán nhà nƣớc đối với kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế............... 25
2.4. Tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế ............................................................. 32
2.5. Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế ...................... 46
2.6. Những bài học kinh nghiệm.................................................................................... 54
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ Y TẾ DO
KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC THỰC HIỆN ........................................................................ 57
3.1. Thực trạng về hoạt động dịch vụ y tế tại Việt Nam ............................................... 57
3.2. Thực trạng tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do Kiểm toán nhà nƣớc thực
hiện ................................................................................................................................ 67
3.3. Đánh giá về tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do Kiểm toán nhà nƣớc thực
hiện ................................................................................................................................ 87
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG DỊCH
VỤ Y TẾ DO KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC THỰC HIỆN ................................................... 99
4.1. Bối cảnh và yêu cầu hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do Kiểm
toán nhà nƣớc thực hiện ................................................................................................ 99
ii
4.2. Định hƣớng hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do Kiểm toán
nhà nƣớc thực hiện ...................................................................................................... 104
4.3. Giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do Kiểm toán nhà
nƣớc thực hiện............................................................................................................. 106
4.4. Các điều kiện cần thiết để thực hiện giải pháp .................................................... 140
Báo cáo kiểm toán
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
CNTT
Công nghệ thông tin
HĐND
Hội đồng nhân dân
IDA
INTOSAI
JAHR
International Development
Hiệp hội phát triển quốc tế
KTV
Kiểm toán viên
KHKT
Kế hoạch kiểm toán
NSNN
Ngân sách Nhà nƣớc
ODA
Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
TTYT
Trung tâm y tế
TYT
Trạm y tế
UBND
Uỷ ban nhân dân
Bảng 3.4
57
64
Tổng số bệnh viện, số giƣờng bệnh và hoạt động chuyên môn của
bệnh viện giai đoạn 2010-2014 .............................................................
64
Bảng 3.5
Tổng hợp kết quả kiểm toán 05 năm giai đoạn 2011-2015 ..................
69
Bảng 3.6
Tổng hợp kết quả kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản theo
Bảng 3.7
kiến nghị của KTNN..............................................................................
69
Thống kê số lƣợng các cuộc kiểm toán giai đoạn 2011-2015 ..............
23
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy của Kiểm toán nhà nƣớc ..............................................
27
Sơ đồ 2.3 Mối quan hệ tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực ..........................................
29
Sơ đồ 2.4 Tổ chức đoàn kiểm toán trực tuyến ........................................................
38
Sơ đồ 2.5 Tổ chức đoàn kiểm toán phân tuyến ......................................................
39
Sơ đồ 2.6 Quy trình kiểm toán chung của Kiểm toán nhà nƣớc .............................
40
Sơ đồ 4.1 Quy trình kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế ...........................................
113
Sơ đồ 4.2 Nội dung kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán .....................
121
Chƣơng trình kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế
Phụ lục 4.4
Mẫu ghi chép kết quả phỏng vấn
Phụ lục 4.5
Quy trình phỏng vấn
Phụ lục 4.6
Chƣơng trình kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ một tổ chức không có tiền thân, Kiểm toán nhà nƣớc (KTNN) ra đời trên cơ
sở Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ, sau hơn 23 năm thành lập,
KTNN đã trở thành một thể chế đƣợc hiến định trong Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Hơn 23 năm hoạt động và phát triển, cùng với việc thực
hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, những năm gần đây, KTNN
đã chú trọng hơn đến việc từng bƣớc thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá
tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công,
việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Quốc hội, Chính phủ.
Ở Việt Nam, nhu cầu đƣợc cung cấp thông tin kiểm toán ngày càng cao và
thông tin yêu cầu ngày càng toàn diện, trong đó các thông tin đánh giá về tính kinh
động để đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin tin cậy, khách quan, toàn diện và mang
lại giá trị, lợi ích cho những ngƣời sử dụng thông tin trong việc thực hiện quyền
giám sát của mình đối với tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của sản phẩm dịch vụ.
Chính phủ giờ đây đã quan tâm nhiều hơn đến chất lƣợng hoạt động dịch vụ
công và quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra nhằm đáp ứng tính công khai, minh
bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính công, điều này đòi hỏi phải xem xét một
cách thỏa đáng trên các khía cạnh của tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các
khoản chi tiêu công từ khâu lập dự toán ngân sách đến chấp hành và quyết toán
ngân sách, do đó KTNN đã bắt đầu mở rộng phạm vi kiểm toán bằng việc lựa chọn
các chủ đề kiểm toán nổi cộm…
Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của KTNN đối với việc cung ứng dịch vụ y tế có ý nghĩa hết sức quan trọng và là
yêu cầu cấp thiết đối với KTNN và phù hợp với định hƣớng đẩy mạnh kiểm toán
chuyên đề và chuyển dần sang kiểm toán hoạt động trong chiến lƣợc phát triển của
KTNN đến năm 2020.
Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt
động dịch vụ công trong lĩnh vực y tế do Kiểm toán nhà nước thực hiện” để
nghiên cứu những cơ sở lý luận, thực tiễn cũng nhƣ kinh nghiệm nƣớc ngoài nhằm
đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế.
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và luận giải cơ sở khoa học tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt
động dịch vụ y tế.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế do
KTNN thực hiện, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế.
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán hoạt động
dịch vụ y tế.
bản trong quản lý nói chung và kiểm tra kiểm soát nói riêng. Đồng thời tác giả cũng
sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: phƣơng pháp tổng hợp, phân tích,
thống kê,... từ đó đƣa ra các giải pháp kiến nghị về: hoàn thiện tổ chức kiểm toán
hoạt động dịch vụ y tế phù hợp với điều kiện cụ thể và môi trƣờng pháp lý hiện nay
ở Việt Nam.
- Điều tra thông qua phỏng vấn: Phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn để thu thập
tài liệu sơ cấp, sau đó tổng hợp, phân tích các tài liệu sơ cấp đã thu thập đƣợc. Thực
hiện phỏng vấn theo bảng hỏi, đối tƣợng là các chuyên gia kiểm toán và chuyên gia
trong lĩnh vực y tế, viên chức làm công tác tài chính kế toán tại các bệnh viện, đơn
vị sự nghiệp của Bộ Y tế; phối hợp với các chuyên gia để xây dựng nội dung nghiên
cứu và xử lý tài liệu thu thập nhằm có các kết quả tối ƣu.
- Kế thừa: Thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá các tài liệu từ các
nghiên cứu trƣớc, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này; nội dung nghiên cứu liên
quan đến nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành nhƣ: khoa học quản lý, kinh tế, xã
hội học,…
- Nghiên cứu trƣờng hợp điển hình: Nghiên cứu một số trƣờng hợp điển hình tổ
chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu kinh nghiệm kiểm
toán hoạt động dịch vụ y tế của một số quốc gia trên thế giới để ứng dụng phù hợp
với điều kiện của Việt Nam có vai trò khá quan trọng với định hƣớng nghiên cứu
của Luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Nghiên cứu về tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế với trƣờng hợp nghiên
cứu điển hình do KTNN thực hiện đƣợc coi là nghiên cứu mới, tiên phong và khám
phá về chủ đề kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế nhận đƣợc sự quan tâm của dƣ luận.
Theo đó, nghiên cứu mang tính thời sự, có giá trị cả về lý luận, thực tiễn nhằm phát
4
triển lý luận chung và làm rõ khung lý thuyết cơ bản về việc triển khai loại hình
1.1.1. Dịch vụ công và dịch vụ y tế
Cải cách khu vực công đƣợc nhiều nhà kinh tế, khoa học và các cơ quan quản lý
quan tâm nghiên cứu, đáng chú ý có nghiên cứu của tác giả Ngô Ngọc Thắng
(2007) với đề tài “Sự biến đổi chức năng xã hội của Nhà nƣớc trong bối cảnh kinh
tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa”, nghiên cứu của tác giả Lê Hồng Sơn
(2007) với công trình “Cơ sở lý luận của việc xác định giới hạn trách nhiệm của
Nhà nƣớc trong quản lý xã hội” đề cập đến chức năng xã hội của Nhà nƣớc. Các
nhóm tác giả khác lại đề cập nhiều đến cải cách hành chính trong khu vực công nhƣ
tác giả Lê Chi Mai (2003) với “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam”, tác giả Đinh
Văn Ân và Hoàn Thu Hoa (2006) với “Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt
Nam”, nhóm tác giả Lê Xuân Bá, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Thị Luyến (2005) với
“Thực trạng và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý dịch vụ công” đã phân tích các bất
cập của cơ chế thị trƣờng và khuyến nghị giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà
nƣớc, nghiên cứu của Đặng Đức Đạm (2009) về “Một số vấn đề về đổi mới quản lý
dịch vụ công ở Việt Nam” đã phân tích khá rõ cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp
để phát triển dịch vụ công ở Việt Nam.
Tuy nhiên các nghiên cứu trên đây đƣợc thực hiện từ năm 2003 đến 2009 và
mục tiêu nghiên cứu còn khác nhau nên còn không ít vấn đề giải quyết chƣa thấu
đáo nên có nhiều cơ chế, chính sách mới liên quan đến dịch vụ công cần phải tiếp
tục đƣợc nghiên cứu và hoàn thiện.
Luận án tiến sĩ của Vũ Thanh Sơn (2007) nghiên cứu về “Cạnh tranh đối với
khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam” đã luận giải
đƣợc cơ sở lý luận cũng nhƣ thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công và vận
dụng đƣợc một số kinh nghiệm cạnh tranh đối với khu vực công trên thế giới vào
Việt Nam, tuy nhiên Luận án mới chỉ đứng trên quan điểm cạnh tranh mà chƣa làm
rõ đƣợc vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc và các cơ quan thanh tra, kiểm
toán ở Việt Nam, mặt khác nghiên cứu này đƣợc thực hiện năm 2007, nhiều dịch vụ
6
1.1.2. Tổ chức kiểm toán và kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế
Trong tổ chức kiểm toán, đáng chú ý có một số nghiên cứu đã đề cập đến tổ
chức kiểm toán nhƣ: Đề tài khoa học cấp Bộ do Trần Đức Quế chủ nhiệm năm 1997
“Xây dựng quy trình kiểm toán NSNN”; Đề tài khoa học cấp Bộ do Bùi Hải Ninh
chủ nhiệm năm 1999 “Cơ sở lý luận và thực tiễn kiểm toán hoạt động”; Luận án
tiến sĩ của Nguyễn Hữu Phúc năm 2009 “Tổ chức kiểm toán NSNN do KTNN Việt
Nam thực hiện”; Đề tài khoa học cấp Bộ do Lê Huy Trọng chủ nhiệm năm 2007
“Tổ chức kiểm toán hoạt động trong các cơ quan hành chính Nhà nƣớc trong điều
kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính”; Đề tài khoa học cấp Bộ do Lê Minh Khái
chủ nhiệm năm 2011 “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
đoàn kiểm toán”; Luận án tiến sĩ của Hoàng Quang Hàm năm 2014 “Hoàn thiện tổ
chức kiểm toán dự toán ngân sách Nhà nƣớc của KTNN Việt Nam”… các nghiên
cứu trên đây đã đề cập khá đầy đủ về cách thức để tổ chức triển khai một cuộc kiểm
toán nói chung, tuy nhiên chƣa để cập đến một lĩnh vực kiểm toán cụ thể, kiểm toán
dịch vụ y tế chỉ đƣợc đề cập khi thực hiện lồng ghép trong cuộc kiểm toán ngân
sách, tiền và tài sản tại các đơn vị, chƣa làm rõ đƣợc phƣơng thức và hƣớng dẫn cụ
thể, chi tiết để tiến hành một cuộc kiểm toán hoạt động dịch vụ công chuyên biệt mà
cụ thể hơn nữa là dịch vụ y tế.
Đáng lƣu ý là nghiên cứu cấp Bộ do Mai Vinh chủ nhiệm năm 2007 “Đổi mới
hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán ngân sách bộ, ngành”. Trong nghiên cứu tác
giả đã đề cập đến việc tổ chức triển khai một cuộc kiểm toán tại ngân sách bộ,
ngành điển hình có nhiều tƣơng đồng với hƣớng nghiên cứu của công trình này khi
lấy Bộ Y tế làm đối tƣợng nghiên cứu chính. Theo đó, Mai Vinh đã đi sâu nghiên
cứu về ngân sách bộ, ngành và kiểm toán ngân sách bộ, ngành trên phƣơng diện lý
luận cũng nhƣ thực tiễn làm cơ sở cho việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức kiểm toán
ngân sách bộ ngành, tuy nhiên Mai Vinh chƣa đề cập đến đặc thù của một cuộc
kiểm toán trong một lĩnh vực cụ thể để đánh giá đƣợc tính kinh tế, hiệu quả và hiệu
lực của đối tƣợng kiểm toán mà cụ thể là sản phẩm dịch vụ trong lĩnh vực y tế cung
cấp cho xã hội.
vực dịch vụ công đƣợc lựa chọn kiểm toán.
Hiện nay, để triển khai loại hình kiểm toán này trong một lĩnh vực cụ thể vẫn
còn gặp nhiều thách thức và là khoảng trống lớn cần đƣợc hoàn thiện, khoảng trống
9
đó là: khuôn khổ pháp lý nghề nghiệp, các chuẩn mực, quy trình, hƣớng dẫn, hồ sơ,
mẫu biểu và phƣơng pháp chuyên môn, nghiệp vụ chƣa đảm bảo tính thống nhất,
khoa học và chặt chẽ; kiểm toán hoạt động còn tập trung vào khâu hậu kiểm trong
khi kiểm toán hoạt động có thể kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực
trƣớc và trong quá trình quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; hệ thống văn
bản pháp luật do Nhà nƣớc ban hành, nhất là hệ thống pháp luật về cải cách dịch vụ
công chƣa đồng bộ, thƣờng xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung, chƣa minh bạch dẫn
đến việc đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực gặp nhiều trở ngại, khó xác định
tác động của chính sách do còn dàn trải, liên quan đến nhiều đối tƣợng và ở phạm vi
rất rộng… Những thách thức trên đây sẽ đƣợc đề cập và làm sáng tỏ hơn khi Luận
án sẽ nghiên cứu để tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế, một chủ đề nhận
đƣợc nhiều sự quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, có khá nhiều bài bào đăng trên các tạp chí chuyên ngành, tạp chí
khoa học có một số đánh giá có liên quan đến tổ chức một cuộc kiểm toán nói
chung, hoạt động dịch vụ, và dịch vụ y tế nói riêng, nhƣ: bài viết của Nguyễn Hữu
Phúc (2007) về “Kiểm toán chuyên đề một hƣớng tiếp cận mới của KTNN”; Lê
Đình Thăng (2009) về “Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
nhìn từ kết quả kiểm toán”; Mai Vinh (2007) về “Một số ý kiến qua kết quả kiểm
toán về quản lý thu và sử dụng viện phí trong các bệnh viện”; Trần Minh Khƣơng
(2013) với “Thấy gì qua kiểm toán việc đấu thầu mua thuốc, vật tƣ y tế và trang
thiết bị tại một số bệnh viện tuyến tỉnh”; Nguyễn Thanh Sơn (2013) về “Quản lý, sử
dụng Quỹ BHYT: Nghịch lý và lạm dụng”; Đoàn Xuân Tiên (2014) về “Các giải
pháp nâng cao chất lƣợng kiểm toán hoạt động”; Ngọc Bích (2015) về “Báo cáo kết
cũng cho thấy nhiều quan điểm trong việc tiếp cận phát triển dịch vụ công gắn với
từng thế chế cầm quyền, trong đó có nhiều mâu thuẩn khác nhau đối với từng quan
điểm phát triển. Do vậy, khi tham khảo các nghiên cứu của nƣớc ngoài cần phải gắn
với văn hóa, truyền thống, đặc trƣng của thể chế chính trị ở Việt Nam.
Có nhiều nghiên cứu và báo cáo về việc cải thiện hệ thống cung ứng dịch vụ y
tế trên thế giới. Các nghiên cứu sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới đều cho thấy
quyết định của ngƣời bệnh đi đâu, làm gì khi bị bệnh phụ thuộc khá nhiều vào tính
11
sẵn có của dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ y tế, giá thành cũng nhƣ cấu trúc xã hội và
các đặc trƣng cá nhận của ngƣời bệnh cũng nhƣ loại bệnh, mức độ bệnh. Các nghiên
cứu sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới đã đƣợc thực hiện ở nhiều nƣớc nhƣ Thụy
Điển, Mỹ, Anh, Canada... Ở các nƣớc này, với nhiều lý do khác nhau y tế tƣ nhân
đã đƣợc huy động tham gia cung ứng dịch vụ y tế, giảm bớt gánh nặng của y tế Nhà
nƣớc. Đối với các nƣớc đang phát triển, phải trải qua thời kỳ quá độ, sự bao cấp của
Nhà nƣớc bị cắt giảm dẫn đến thiếu trang thiết bị y tế, suy giảm tinh thần và thái độ
phục vụ trong đó có Việt Nam, đây là những yếu tố và lý do dẫn đến sự phát triển
của hệ thống y tế tƣ nhân tại các nƣớc này.
Halse và cộng sự (2014) với nghiên cứu “Chính sách cạnh tranh trong thị
trƣờng dịch vụ y tế ở Nam Phi” đã nghiên cứu khái quát bức tranh tổng thể thực
trạng thị trƣờng dịch vụ y tế ở Nam Phi, chỉ ra các bài học kinh nghiệm quốc tế về
phát triển thị trƣờng y tế ở Nam Phí, tác giả Preker với nghiên cứu “Chính sách kinh
tế và vai trò của y tế tƣ nhân trong thị trƣờng dịch vụ y tế” đã khái quát đặc điểm thị
trƣờng dịch vụ y tế, bao gồm thị trƣờng đầu vào và đầu ra với những đặc điểm và
rào cản gia nhập ngành khác nhau giữa các loại hàng hóa của thị trƣờng dịch vụ y
tế. Theo tác giả, cần phải tạo cơ hội bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế
trong việc tiếp cận tới các nguồn lực.
1.2.2. Kiểm toán hoạt động
toán hoạt động có mục tiêu là nhằm xem xét và đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và
hiệu lực của các hoạt động. Dựa trên quan điểm chung của INTOSAI về kiểm toán
hoạt động, các KTNN có thể xác định những mục tiêu cụ thể hơn về kiểm toán hoạt
động cho phù hợp với điệu kiện, yêu cầu quản lý của quốc gia mình.
1.2.3. Tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ y tế
Trên thế giới, các nghiên cứu về tổ chức một cuộc kiểm toán đã đƣợc cụ thể hóa
thành các cẩm nang kiểm toán và hƣớng dẫn kiểm toán dƣới dạng các quy trình,
chuẩn mực. Bênh cạnh đó, các cơ quan kiểm toán trên thế giới đã hình thành kiểm
toán hoạt động từ khá lâu, do vậy việc tổ chức kiểm toán hoạt động trong từng lĩnh
vực thể hiện khá rõ nét, một số quốc gia đã quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ y tế của
quốc gia mình và có nhiều đánh giá hoạt động của lĩnh vực này, nhƣ: Canada, Anh,
Australian, Mỹ, Tazanian…, đặc biệt tại Vƣơng quốc Anh đã ban hành rất chi tiết,
cụ thể hƣớng dẫn kiểm toán về chƣơng trình y tế quốc gia.
13
Nghiên cứu tại KTNN Canada (2012) đã đƣợc ứng dụng trong việc kiểm toán
thƣờng xuyên dịch vụ y tế quốc gia hàng năm. Theo đó, tại Canada, ngành y tế đƣợc
tổ chức rộng khắp ơ trung ƣơng và ở các bang thuộc địa phƣơng quản lý, trong đó
họ có hệ thống kiểm toán nội bộ đầy đủ trong các cơ sở y tế, trừ một số cơ sở y tế tƣ
nhân không thuộc sự quản lý của các cấp chính quyền, song nó đƣợc chi phối khá
chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật về hoạt động dịch vụ y tế, do đó hoạt động
của ngành y tế thƣờng xuyên là đối tƣợng kiểm toán tại quốc gia này, theo đó KTV
sẽ dựa trên những tiêu chí cụ thể và đƣợc hƣớng dẫn chi tiết trong cẩm nang kiểm
toán hoạt động, KTV phải xây dựng và cập nhật liên tục hiểu biết về đơn vị đƣợc
kiểm toán.
Nghiên cứu kiểm toán dịch vụ y tế của Vƣơng quốc Anh (2010) đã đƣợc sử
dụng thƣờng xuyên trong thực tiễn của KTNN Anh, theo đó các cuộc kiểm toán
hoạt động dịch vụ y tế sẽ yêu cầu các KTV phác thảo ra các tiêu chí kiểm toán, đặt
nhằm cải thiện dịch vụ y tế trong điều kiện ngân sách còn eo hẹp.
Bên cạnh đó, đã có nhiều hội thảo quốc tế quan tâm đến tổ chức kiểm toán dịch
vụ y tế, nhƣ: Hội thảo đánh giá sự tiến bộ trong dịch vụ y tế tại Nam Phi qua hoạt
động kiểm toán năm 2014; Hội thảo phát triển kiểm toán hoạt động trong khu vực
dịch vụ công tổ chức tại Lithuania năm 2008; Hội thảo phƣơng pháp thực hiện kiểm
toán trong lĩnh vực công đƣợc tổ chức tại Đức năm 2014 với sự tham dự của kiểm
toán Vƣơng quốc Anh, Tòa thẩm kế của Pháp, KTNN Bỉ, các chuyên gia của Liên
Hiệp Quốc, Tòa án Châu Âu...đã thảo luận về lợi ích của loại hình kiểm toán hoạt
động dịch vụ công để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của chủ đề kiểm toán.
Có thể nhận thấy, các cơ quan KTNN trên thế giới họ thƣờng tập trung lựa chọn
một số chủ đề thuộc dịch vụ công đƣợc cung cấp bởi các đơn vị thuộc Chính phủ
nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của công chúng. Tuy nhiên cơ chế cung cấp dịch vụ
và phân loại dịch vụ ở những quốc gia này có nhiều khác biệt so với Việt Nam, vì
vậy phƣơng thức tổ chức kiểm toán hoạt động dịch vụ cũng không giống nhau, song
những nghiên cứu kiểm toán của các quốc gia này sẽ là tài liệu quan trọng khi vận
dụng vào thực tiễn của Việt Nam; các nghiên cứu của nƣớc ngoài còn nặng về
khung lý thuyết, trong khi cái KTNN Việt Nam cần nhất là thực hành tại bƣớc
“Thực hiện kiểm toán”, nghĩa là kiểm toán nội dung gì và thực hiện kiểm toán nhƣ
15