Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm thanh niên nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi (tt) - Pdf 46

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tương lai gần, một trong những vấn đề chủ chốt là tăng
cường mối liên kết giữa đào tạo nghề và nhu cầu việc làm của xã hội.
Đào tạo cần phải được gắn kết với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực
của các công ty, các cơ sở sử dụng lao động, ở ba mức: đào tạo nghề sơ
cấp, trung cấp và cao đẳng nghề. Gắn kết đào tạo nghề với tạo việc làm,
để vận hành hệ thống này một cách hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế
ngày càng hội nhập sâu và rộng là một trong những thách thức lớn của
chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương.
Lực lượng lao động được đào tạo bài bản có tay nghề cao đóng
vai trò quan trọng trong cơ cấu lao động của Việt Nam. “Đào tạo nghề
có liên quan đến nhu cầu thực tế và sử dụng lao động. Giúp tạo việc
làm, đóng góp vào quá trình chuyển đổi kinh tế, chuyển đổi cơ cấu lao
động ở các vùng nông thôn và đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm
nghèo. Nói cách khác, đào tạo nghề liên quan chặt chẽ đến sản xuất và
sử dụng lao động”.
Cho đến nay, tỉnh Quảng Ngãi đang nghiên cứu, xây dựng kế
hoạch thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động thanh niên nông thôn
đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ. Trước đó, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải
quyết việc làm cho đối tượng này chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng với quy
mô lớn, chặt chẽ hoặc cũng chỉ xới xáo vấn đề đào tạo và việc làm ở bề
mặt, chưa có những phân tích chuyên sâu cũng như các khuyến nghị cụ thể
để giải quyết triệt để khó khăn, thách thức.
Từ nhận thức trên đây, tác giả chọn đề tài: “Chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm thanh niên nông thôn từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông

Không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Thời gian: Từ năm 2005 – 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng các tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học
và phương pháp nghiên cứu chính sách công.
2


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin, phân tích các văn bản và phỏng
vấn các chủ thể tham gia hoạch định và thực hiện chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng rõ quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Bước đầu khảo sát thực trạng việc triển khai, thực hiện trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi.
6.2. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các
cấp lãnh đạo của tỉnh Quảng Ngãi trong công tác đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn
tiếp theo.
- Những phát hiện của nghiên cứu này cũng sẽ giúp đưa ra những
khuyến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả của các cơ sở đào tạo nghề
gắn kết với tình hình giải quyết việc làm cho lao động thanh niên nông
thôn tại Quảng Ngãi.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

- Đào tạo nghề bao hàm cả nhân tố lý thuyết và thực hành nhưng
nhấn mạnh về thực hành. Có mối quan hệ mật thiết với các nhân tố kỹ
thuật công nghệ và gắn liền với những thay đổi của quá trình lao động.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về thanh niên nông thôn
Thanh niên là một khái niệm kinh tế và xã hội đề cập đến một
giai đoạn riêng biệt trong vòng đời giữa thời thơ ấu và tuổi trưởng
thành, là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người
trong độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm
lý, trí tuệ, sự tham gia trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội và có
mối quan hệ mật thiết với mọi tầng lớp khác trong xã hội, là lực lượng
quan trọng trong quá trình phát triển của các quốc gia.
4


1.1.3. Khái niệm và một số quan điểm về giải quyết việc làm
Khái niệm việc làm
Theo Điều 13 Bộ luật lao động quy định: “Mọi hoạt động lao
động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là
việc làm".
Như vậy, việc làm là hoạt động lao động có ích, không bị pháp
luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người
lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó.
+ Việc làm tạo ra nhu cầu đào tạo: Người lao động muốn có việc
làm, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc làm đặt ra yêu cầu
cho đào tạo.
+ Việc làm là nơi để thể nghiệm, thực nghiệm và thực hành kết
quả đào tạo. Học đi đôi với hành. Kết quả đào tạo có giá trị nhất khi nó
giống nhất/tương đồng nhất/phù hợp nhất với công việc thực tế diễn ra.
+ Việc làm chi phối cấu trúc hệ thống đào tạo: Đặc điểm việc làm
trên thị trường lao động sẽ phản ảnh trong hệ thống đào tạo.

Thứ ba, tình hình yếu kém trong công tác đào tạo nghề cũng là
nguyên nhân chính dẫn đến những khó khăn trong giải quyết việc làm ở
Việt Nam hiện nay.
Về mục tiêu của chính sách:
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm,
tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao
động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý
hành chính, quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”.
1.3. Nội dung tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề và
giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
1.3.1. Hỗ trợ cho thanh niên nông thôn vay vốn để lập nghiệp
Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ:
Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
6


“Hỗ trợ đầu tư phát triển các trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở
các tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống.
Đầu tư nâng cao năng lực của các trung tâm dạy nghề công lập
huyện đã được thụ hưởng Dự án 7 nhưng ở mức thấp.
Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho trung tâm giáo
dục thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham
gia dạy nghề cho lao động nông thôn”.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong
GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp)

Tăng cường liên kết các cơ sở giáo dục dạy nghề trong nước với
các cơ sở giáo dục nước ngoài, đưa sinh viên ra nước ngoài học tập –
lao động xuất khẩu.
1.3.4. Tuyên truyền thực hiện chính sách đào tạo nghề và hỗ
trợ việc làm cho thanh niên nông thôn
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và nâng cao
nhận thức về việc làm cho thanh niên.
Đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện chủ trương XHH công tác dạy
nghề. Củng cố, nâng cao chất lượng của các cơ sở dạy nghề công lập;
khuyến khích phát triển các cơ sở dạy nghề ngoài công lập; khuyến
khích sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề; thu hút đầu tư
nước ngoài vào đào tạo nghề trên địa bàn. Khuyến khích và tạo điều
kiện để các doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo nghề tại chỗ.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện chính sách đào tạo
nghề và hỗ trợ việc làm cho thanh niên nông thôn
Thuận lợi
Công tác dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn được
Đảng và nhà nước quan tâm. Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành
nhiều chính sách về dạy nghề và triển khai thực hiện tốt ở các địa
phương.
Công tác dạy nghề được sự quan tâm đầu tư và chỉ đạo sát sao
của các Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, y ban nhân dân các tỉnh. Các
tỉnh quan tâm đến việc quy hoạch đất đai để xây dựng cơ sở dạy nghề.
8


Hệ thống các văn bản Quy phạm pháp luật về dạy nghề ngày càng đầy đủ và
hoàn chỉnh tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai và thực hiện
chương trình.
Tuy nhiên việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động

dựng và dịch vụ; bảo đảm phát triển bền vững và phù hợp với tiềm năng
của tỉnh.
Như vậy, nhu cầu lao động được đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu
cầu nhân lực phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm
2020 là rất rõ rệt. Trong đó, lực lượng lao động nông thôn cần được đào
tạo nhiều về công nghiệp - xây dựng, du lịch, dịch vụ.
Mặt khác, về vị trí địa lý, Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm trung bộ, là một trong những địa phương có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, phát
triển công nghiệp có bước đột phá, đầu tư vào địa bàn tỉnh tăng mạnh.
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách ĐTN&GQVL tại tỉnh
Quảng Ngãi
2.2.1. Đánh giá những mục tiêu đạt được
Về đào tạo nghề
Theo báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU ngày
27/12/2006 về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông
dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020 của Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, đến nay tỉnh Quảng Ngãi đã mở được 1.910 lớp
bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho trên 180.000 lượt nông dân.
Những hạn chế về đào tạo
Hiện các Trường nghề, TCCN có dạy nghề đều tập trung chủ yếu ở
3 huyện, thành, thị là thành phố Quảng Ngãi, huyện Đức Phổ và huyện
Bình Sơn, không thuận lợi cho việc học nghề của nhân dân. Chất lượng
dạy nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng kịp yêu cầu của thị
trường lao động.
Về giải quyết việc làm
- Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm từ 5,1% năm 2011
xuống còn khoảng 3,8% năm 2015 (đạt 100% chỉ tiêu);
- Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn từ 82%
năm 2011 tăng lên 86% năm 2015 (đạt 100 chỉ tiêu);

với tổng diện tích 45.993,56 ha. Các khu công nghiệp đã đi vào hoạt
động và bước đầu thu được hiệu quả.
Giải pháp xuất khẩu lao động
Tỉnh Quảng Ngãi có lực lượng lao động trẻ, số lao động trong độ
tuổi chiếm trên 63% dân số toàn tỉnh. Với nguồn lao động dồi dào cùng
hệ thống 53 cơ sở đào tạo, nhiều lao động đã chọn con đường đi lao
động ở nước ngoài với mong muốn có được nguồn thu nhập cao hơn,
11


học được kinh nghiệm của nước ngoài để sau khi hết thời hạn hợp đồng
lao động về nước sẽ có vốn và kinh nghiệm lập nghiệp.
Giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống:
Tỉnh Quảng Ngãi dự kiến đến hết năm 2017 sẽ hình thành 20
cụm TTCN làng nghề trên địa bàn để thu hút các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, các hộ sản xuất TTCN vào sản xuất tập trung.
Những hạn chế của giải pháp kết hợp đào tạo nghề và giải
quyết việc làm
Quá trình đô thị hoá, sự phát triển của kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế diễn ra một cách nhanh chóng nên các cơ sở đào tạo cũng
như người lao động không kịp thay đổi để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Nhận thức của người lao động về học nghề, GQVL, giảm nghèo
còn hạn chế. Còn tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của nhà nước.
Một số đủ điều kiện thoát nghèo nhưng vẫn không muốn ra khỏi danh
sách hộ nghèo.
Giải pháp đào tạo tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi
Loại hình đào tạo, huấn luyện tương đối đa dạng: Cao đẳng nghề,
Trung cấp nghề chính quy; Sơ cấp nghề; Liên thông từ Trung cấp nghề lên
cao đẳng nghề; Bổ túc THPT có học nghề; Đào tạo lại; Đào tạo ngắn hạn; Bồi

học hoặc cao đẳng, ít khi định hướng cho con học nghề, chỉ có học sinh
không có khả năng học đại học mới theo học nghề, thực trạng này ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động tuyển sinh và chất lượng giảng dạy của các
trường.
2.3.2. Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
nông thôn
Ưu điểm:
Công tác giải quyết việc làm cho lao động thanh niên nông thôn
đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Đồng thời, tỉnh cũng đẩy mạnh phát triển các làng nghề truyền
thống, khuyến khích các chủ làng nghề mở rộng mô hình thu hút nguồn
lao động tại chỗ.
Kịp thời thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tiếp tục thu hút các doanh nghiệp
trong và ngoài tỉnh đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp và ngoài khu
công nghiệp; củng cố các làng nghề hiện có và phát triển các làng nghề
13


mới, xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, kết cấu hạ tầng các khu,
cụm công nghiệp, góp phần tạo việc làm mới cho người lao động.
Những hạn chế:
Hệ thống các Trung tâm GTVL còn ít, hiệu quả giới thiệu việc
làm thấp, thiếu tính chuyên nghiệp, không đủ sức đáp ứng yêu cầu
của thị trường lao động. Số lượng lao động thanh niên nông thôn tìm
được việc làm qua các Trung tâm GTVL so với tổng số lao động tìm
được việc làm không nhiều, chưa tương xứng với tiềm năng lao động
của tỉnh.
Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động thanh niên nông thôn
sau đào tạo: số doanh nghiệp sử dụng ổn định lao động, trả thu nhập

quốc tế”.
2.4.3. Năng lực tham gia của các chủ thể là người lao động
thanh niên nông thôn
Năng lực tham gia của các chủ thể là người lao động thanh
niên nông thôn được đánh giá qua số lượng lao động qua đào tạo
trong tỉnh ngày càng tăng. Theo niên giám thống kê của tỉnh năm
2014, điều tra về trình độ của số người từ 15 tuổi trở lên có làm việc
tại tỉnh trong 12 tháng qua theo nhóm tuổi được thể hiện ở bảng 2.2.
2.5. Đánh giá môi trƣờng thể chế chính sách tại tỉnh Quảng
Ngãi
2.5.1. Môi trường thể chế qua hệ thống văn bản do Tỉnh ủy,
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành:
Hệ thống các văn bản chính sách do Tỉnh ủy, HĐND, UBDN tỉnh
Quảng Ngãi ban hành về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao
động thanh niên nông thôn là tương đối kịp thời, đầy đủ, phù hợp tình
hình thực tế.
Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19/12/2011 về một số
chính sách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai
đoạn 2012-2015. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 24/2012/QĐUBND ngày 30/7/2012 ban hành Quy định quản lý, tổ chức thực hiện
một số chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm giai đoạn 2012-2015 theo
Nghị Quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19/12/2011 của HĐND tỉnh
Quảng Ngãi.
Đây là những chủ trương, chính sách lớn của tỉnh trên cơ sở kế
thừa và phát triển những chính sách về dạy nghề và giải quyết việc làm
của các giai đoạn trước. Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đối với
15


4 nhóm: Dạy nghề, bồi dưỡng kiến thức, hướng nghiệp, phân luồng và
giải quyết việc làm..

3.2. Các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh
Quảng Ngãi
3.2.1. Tăng cường công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn
Tăng cường các điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo
nghề
Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp
đào tạo theo hướng nâng cao năng lực thực hành cho người học nghề,
nhằm khắc phục hạn chế về kiến thức, kỹ năng, tác phong, thể chất, văn
hoá nghề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm mà
các cơ sở đào tạo nghề chưa đầy đủ trang bị cho người học.
Chuẩn hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề, giáo viên
dạy nghề. Tập trung đầu tư đồng bộ, hiện đại cho trường dạy nghề đảm
bảo chất lượng .
Tăng cường liên kết, phối hợp giữa các cơ sở đào tạo nghề với
nhau, giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả và
chất lượng đào tạo nghề, tạo môi trường năng động để thanh niên tích
cực tham gia học nghề.
Phối hợp cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho người học nghề, đồng
thời xây dựng danh mục nghề, đánh giá và cấp thẻ nghề cho
người lao động hành nghề tự do trên địa bàn.
Giải pháp về đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác quốc tế trong đào tạo
nghề.
Huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển
đào tạo nghề. Ưu tiên các dự án nước ngoài để đầu tư phát triển đào tạo
nghề, đặc biệt là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển
chương trình, học liệu, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý.
Có chính sách ưu đãi về thuế, đất đai theo quy định của pháp luật
cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thành lập cơ sở đào tạo nghề

Giải pháp về đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác quốc tế trong đào tạo
nghề
- Huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát
triển đào tạo nghề. Ưu tiên các dự án nước ngoài để đầu tư phát triển
đào tạo nghề, đặc biệt là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư cơ sở vật chất,
phát triển chương trình, học liệu, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ
quản lý.
18


- Hỗ trợ vốn vay ưu đãi, chính sách thuế, đất đai theo quy định
của pháp luật cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thành lập cơ sở
đào tạo nghề theo quy hoạch.
- Khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề trong nước hợp tác với
các trường đào tạo nghề ở các nước phát triển về trao đổi chương trình
đào tạo, trao đổi giáo viên, chuyên gia đào tạo; chuyển giao công nghệ,
phương pháp giảng dạy.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ vốn, phát triển làng nghề, ngành
nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch, dịch vụ - thương mại nhằm
tạo việc làm cho thanh niên.
3.2.2. Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và giới thiệu việc làm
- Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở cơ sở nông
thôn cần chủ động thực hiện các chương trình thanh niên, các đề án
thanh niên tham gia phát triển kinh tế; triển khai hiệu quả Đề án quy
hoạch và phát triển các “đảo thanh niên”, các làng thanh niên lập
nghiệp.
Xây dựng chiến lược truyền thông, nâng cao nhận thức cho thanh
niên nông thôn và xã hội về học nghề, lập nghiệp.
Đẩy mạnh hoạt động của các câu lạc bộ nghề nghiệp, đội nhóm
sản xuất kinh doanh giỏi thông qua các hình thức gặp gỡ, đối thoại, giao

thương mại mở rộng thị trường, chú trọng phát triển du lịch, nhất là du
lịch sinh thái, du lịch văn hóa gắn với du lịch cộng đồng.
- Đầu tư, phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ để tương
xứng và phát huy được vai trò vừa là động lực vừa là cơ sở phát triển
KT - XH.
- Quy hoạch và tổ chức lại mạng lưới chỗ ở khu vực nông thôn,
đặc biệt là cho đầu mối trung tâm cụm xã, liên xã, thị trấn, tạo mọi điều
kiện thuận lợi để thanh niên nông thôn có môi trường giao lưu hàng
hóa, mặt khác phải thúc đẩy phát triển thị trường trên mạng để mở rộng
thị trường trong và ngoài nước.
- Phát triển mạnh các dịch vụ như: giao thông vận tải, bưu chính
viễn thông, dịch vụ tư vấn, thông tin tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
khoa học kỹ thuật, cung ứng vật tư, điện nước…
3.2.4. Mở rộng và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp thuộc
nhiều ngành đòi hỏi không nhiều vốn nhưng sử dụng nhiều lao động với
trình độ công nghệ vừa và phải sử dụng nguyên liệu tại chỗ được coi là
nhân tố chủ yếu để tạo việc làm cho thanh niên ở nông thôn; tăng thu
nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông nghiệp, nông thôn.
20


Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, tập trung ưu tiên phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ về cả số lượng và chất lượng trong các lĩnh
vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống của
địa phương.
3.2.5. Thực hiện chính sách sử dụng lao động và xuất khẩu
Thứ nhất, cần tạo điều kiện cho người lao động, đặc biệt là thanh
niên vay vốn đi xuất khẩu lao động thông qua quỹ tín dụng.
Thứ hai, các cấp chính quyền nên có sự liên kết với các trung tâm

- Có chính sách phù hợp, cân nhắc nên đầu tư vào những ngành
có tiềm năng phát triển, ngành sử dụng nhiều lao động.
- Phân phối sử dụng vốn hợp lý, tránh đầu tư dàn trải. Nên đầu tư
vào các ngành trọng điểm để đẩy mạnh ngành nghề có tiềm năng phát
triển, giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động.
- Tăng nguồn vốn vay trung hạn, dài hạn hỗ trợ cho thanh niên,
đặc biệt là thanh niên trong quá trình tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu
kinh tế.
- Trước khi cho vay vốn cần hướng dẫn thanh niên, nhất là thanh
niên dân tộc thiểu số, vùng cao nên lựa chọn con gì, cây gì cho phù hợp.
3.4. Phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp ở địa
phƣơng để đào tạo và tạo việc làm cho thanh niên nông thôn
Việc gắn kết giữa dạy nghề với doanh nghiệp và giải quyết việc
làm cho thanh niên còn được thể hiện ở sự liên kết, phối hợp giữa các
cơ sở dạy nghề t với các doanh nghiệp trong việc xây dựng Chương
trình đào tạo, tổ chức cho người học nghề thực tập tay nghề, thực hành
sản xuất tại cơ sở, các chuyên gia kỹ thuật của doanh nghiệp trực tiếp
tham gia giảng dạy, phối hợp trong việc cung ứng lực lượng lao động
qua đào tạo cho doanh nghiệp… cũng đạt được nhiều kết quả.
Để công tác dạy nghề gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp thực sự
đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả hơn, nhà nước cần ban hành Quy
định về chính sách hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án
trọng điểm và các doanh nghiệp giai đoạn 2016 – 2020.
3.5. Kiến nghị
- Đầu tư hỗ trợ xây dựng mới hay nâng cấp một số trung tâm dạy
nghề. Cần hoàn thiện thủ tục, cơ chế cho vay vốn cũng như các đối
tượng và thời gian cho vay theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh
hợp lý.
22


- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất
và nhanh chóng cho các doanh nghiệp, cá nhân trong hỗ trợ giải
quyết việc làm cho thanh niên nông thôn.
23


KẾT LUẬN
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và
xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện tốt
chính sách đào tào nghề và giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
nông thôn không những khai thác được hiệu quả nguồn lực lao động rất
lớn trong xã hội phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, nâng cao đời sống cho nhân dân; thực hiện tốt chính sách này
còn góp phần quan trọng giữ vững tình hình trật tự trị an trong xã hội
bởi lẽ tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, thiếu việc làm là một trong
những nguyên nhân chính làm gia tăng tình hình tội phạm, vi phạm
pháp luật ở nước ta hiện nay.
Với việc lựa chọn đề tài: Chính sách đào tạo nghề và giải quyết
việc làm cho thanh niên nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, một
địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, là địa
phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong những năm gần đây, tác
giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về chính sách
đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động thanh niên nông thôn,
đánh giá thực trạng quá trình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó đề
xuất các giải pháp nhằm thực hiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết
việc làm cho lao động thanh niên nông thôn trong thời gian tới.
Luận văn đã góp phần làm sáng rõ quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status