VIỆN HÀN LÂM
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐẶNG THANH TÙNG
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP
CHO CÁC DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành : Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số
: 60 34 04 12
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và chính các doanh nghiệp khởi nghiệp gần
đây đã có những nỗ lực lớn trong việc hình thành “hệ sinh thái khởi nghiệp”, bao gồm
chủ thể khởi nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ và Nhà nước. Điều tiết Nhà nước
đang là khâu cần hoàn thiện nhất trong hệ sinh thái khởi nghiệp này, chủ yếu do không
thực hiện được chức năng xây dựng chính sách và pháp luật (chứ không phải do
không cung cấp hỗ trợ tài chính như nhiều người lầm tưởng) dẫn đến tình trạng bỏ lỡ
những cơ hội kinh doanh tại thị trường nội địa hay thậm chí cả thị trường quốc tế của
các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Hơn thế nữa, khi có những doanh nghiệp
khởi nghiệp Việt Nam rất thành công thì người hưởng lợi ở phía nhà đầu tư trong hệ
sinh thái lại là các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài, với những quyết định đầu tư
kịp thời, đúng đắn. Do vậy, học viên đề xuất nghiên cứu đề tài “Chính sách hỗ trợ
khởi nghiệp cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công
nghệ thông tin”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có số lượng lớn các công trình nước ngoài đã đề cập đến các khía cạnh khác
nhau về DN Spin-off. Khái niệm DN Spin-off đã xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ vào
1
những năm cuối của thập kỷ 1980 xuất phát từ việc nhằm khuyến khích người nghiên
cứu biến ý tưởng khoa học thành sản phẩm, sản xuất và thương mại hóa được những
kết quả này.
Steffensen, Rogers, Speakman (1999) và Roberts, Malone (1996) tập trung
làm rõ hơn vai trò của bốn nhóm tác nhân chính tham gia vào quá trình hình thành
spin-off.
Nghiên cứu của Consiglo và Antonelli (2001) về sự hình thành và phát triển
của DN spin-off trong tổ chức hàn lâm (academic spin-off).
Chiesa và Piccaluga (2000), tập trung làm rõ vai trò của các nhà khoa học có
tinh thần kinh thương đối với việc hình thành các DN. Davenport, Carr và Bibby
(2002) đề cập đến vai trò của các nhà quản lý, mối quan tâm của nhà quản lý ở viện
sách KH&CN bàn về các khía cạnh pháp lý của DN KH&CN như các thủ tục thành
lập DN, hình thức hoạt động, tổ chức và quản lý, liên kết nghiên cứu, các chính sách
hỗ trợ DN KH&CN.
Đề cập trực tiếp đến spin-off trong luận văn thạc sĩ của Trần Văn Dũng
(2008) về Điều kiện hình thành DN spin-off trong các trường ĐH ở Việt Nam (Nghiên
cứu trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGH.
Đào Thanh Trường và các công sự (2015) với công trình doanh ngiệp
KH&CN từ lý luận đến thực tiễn đã đưa ra một số khái niệm và kinh nghiệm của thế
giới trong việc hình thành và phát triển DN KH&CN, các giải pháp về tài chính hỗ
trợ cho loại hình DN này trong hoạt động đổi mới.
Vũ Cao Đàm (2014) trong công trình Nghịch lý và lối thoát đã tổng kết quy
luật tất yếu mối liên kết khoa học, đào tạo, sản xuất lịch sử hình thành DN KH&CN
tài Việt nam bắt đầu từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước.
Đào Thanh trường và các cộng sự (2016) với công trình nghiên cứu và xây
dựng lộ trình về ươm tạo DN công nghệ giai đoạn 2015-2025.
Tóm lại: Những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về DN KH&CN.
Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh tổng thể của loại hình này, hình
thức tổ chức và hoạt động cũng như một số bài học gợi suy cho Việt Nam, đặc biệt
các nghiên cứu gần đây có liên quan đến vườn ươm công nghệ với tư cách hỗ trợ
3
khởi nghiệp. Tuy nhiên, một mô hình cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin –
công cụ quan trọng để đáp ứng nhu cầu của làn sóng công nghệ 4.0 chưa được nghiên
cứu. Đề tài luận văn được lựa chọn với mong muốn góp phần giải quyết một số khía
cạnh chính sách trong việc hình thành ( khởi nghiệp) và phát triển DN KH&CN lĩnh
vực công nghệ này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để xây dựng các
hành lang pháp lý khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính sách
trong lĩnh vực CNTT. Đưa ra các giải pháp chính sách nhằm đáp ứng các yêu cầu
thực tiễn, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của hoạt
động khởi nghiệp và đầu tư cho các dự án khởi nghiệp ngành CNTT có tiềm năng,
góp phần đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp nói chung và khởi nghiệp trong lĩnh vực
Công nghệ thông tin tại Việt Nam nói riêng phát triển mạnh mẽ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và các
biểu số liệu, nội dung chính của Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về khởi nghiệp và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
khoa học và công nghệ khởi nghiệp
Chương 2. Phân tích thực trạng chính sách khởi nghiệp của doanh nghiệp
khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp
cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHỞI NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Công nghệ
“Công nghệ (technology) là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo,
làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm
sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” (từ điển kỹ thuật
Liên Xô). Ngoài ra, có rất nhiều khái niệm về công nghệ hình thành theo nhiều
cách khác nhau.
Theo quan niệm cũ: công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế
tạo làm thay đổi tính chất, hình dạng, trạng thái của nguyên liệu và bán thành
96). Năm 2013, quy định về doanh nghiệp KH&CN được đề cập trong văn bản
quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn, đó là Luật KH&CN.
Điều kiện để công nhận doanh nghiệp KH&CN được quy định cụ thể tại
Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV của liên Bộ KH&CN,
Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ban hành ngày 10/9/2012 (Thông tư 17). Như vậy
quan điểm về doanh nghiệp KH&CNđược quy định bởi pháp luật Việt Nam tương
đối phù hợp quan điểm về doanh nghiệp KH&CN hiện nay trên thế giới.
Trong thời điểm hiện nay, với các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị
áp dụng hiện tại (Nghị định 80, Nghị định 96; Thông tư 06, Thông tư 17), chúng
ta thấy rằng: phạm vi “khái niệm doanh nghiệp KH&CN” rộng hơn “điều kiện
thành lập doanh nghiệp KH&CN”. Sự “rộng” hơn này liên quan đến thuật ngữ
“kết quả KH&CN”. Điều kiện cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN nêu
tại Điều 1.2, Thông tư 17 chỉ chấp nhận “kết quả KH&CN” của 7 lĩnh vực: (1)
Công nghệ thông tin - truyền thông; (2) Công nghệ sinh học; (3) Công nghệ tự
động hóa; (4) Công nghệ vật liệu mới; (5) Công nghệ bảo vệ môi trường; (6)
Công nghệ năng lượng mới; (7) Công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác do
Bộ KH&CN quy định.
7
1.1.3. Doanh nghiệp khởi nghiệp
Khởi nghiệp (tiếng Anh là: startup hoặc start-up) là thuật ngữ chỉ về
những doanh nghiệp đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nó
thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các DN công nghệ trong giai đoạn lập
nghiệp. Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và
dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.
Vì luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về chế định startup, cho nên
thuật ngữ này đang được hiểu theo thuật ngữ kinh doanh. Tuy nhiên, startup thực
chất là một “quá trình” khởi sự một hoạt động kinh doanh, sự xuất hiện của
startup không nhất thiết là phải gắn với việc thành lập của một DN mới, thậm chí
này sẽ làm tăng khả năng thành công cũng như giảm thiểu tỷ lệ rủi ro cho nhà
đầu tư.
1.1.5. Vườn ươm doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Vườn ươm DN là tổ chức liên kết giữa trung tâm/ viện nghiên cứu, trường
đại học, chính quyền, các DN khởi sự (các nhóm, cá nhân có ý tưởng thành lập
DN). Tổ chức này có mục đích như một lồng ấp, nuôi dưỡng DN khởi sự trong
thời gian nhất định để các đối tượng này có thể vượt qua các khó khăn ban đầu,
khẳng định sự tồn tại và phát triển như những DN độc lập.
Quá trình từ ý tưởng kinh doanh đến sản phẩm tham gia thương mại trên
thị trường có tỷ lệ thành công là 1/1750.
Do đó vai trò vườn ươm DN KH&CN cung cấp các dịch vụ hỗ trợ các nhà
khoa học và các kỹ thuật viên thành các chủ DN có khả năng nghiên cứu sản
phẩm công nghệ và có khả năng kinh doanh. Thị trường hóa hoạt động nghiên
cứu gắn với sản xuất, phục vụ nền kinh tế. Thông qua đó các quốc gia thực hiện
9
mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào công nghệ, tăng cường khả năng cạnh tranh
xuất khẩu hàng hóa dựa vào DN KH&CN.
1.1.6. Hệ sinh thái khởi nghiệp
Hệ sinh thái khởi nghiệp là một hệ thống các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh
nghiệp khởi nghiệp và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ khởi nghiệp trong mối quan hệ
liên kết và tương tác lẫn nhau trong một phạm vi hoạt động nhất định (thành phố,
vùng, quốc gia, lĩnh vực). Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam bao gồm các thành
phần chính sau: các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp; các nhà
đầu tư; trường đại học, viện nghiên cứu; các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và chính
sách hỗ trợ khởi nghiệp của nhà nước.
Trên đây là những giới thiệu cơ bản về khái niệm hệ sinh thái khởi nghiệp.
thực hiện các chính sách nhằm xác định các thành công (tác động dương tính của
chính sách), các hạn chế (tác động âm tính của chính sách) và các nguyên nhân
gây ra hạn chế để trên cơ sở đó cộng với kinh nghiệm quốc tế, đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện.
1.2. Các yếu tố và điều kiện giúp doanh nghiệp khoa học và công nghệ tồn
tại và phát triển
Các yếu tố và điều kiện để DN KH&CN tồn tại và phát triển bao gồm: Yếu
tố chính trị và pháp luật, Yếu tố kinh tế và Yếu tố Kỹ thuật và Công nghệ.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về chính sách khởi nghiệp đối với doanh nghiệp
khoa học và công nghệ
1.3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kì: Hợp tác Nhà nước - tư nhân trong đầu tư khởi
nghiệp
Chương trình này bao gồm việc mở rộng các hoạt động thúc đẩy tinh thần
kinh doanh và tăng cường thương mại hóa khoảng 148 tỷ USD được Chính phủ
liên bang đầu tư hàng năm, với tham vọng tạo ra những lĩnh vực kinh doanh hoàn
toàn mới; loại bỏ các rào cản không cần thiết cho việc khởi nghiệp kinh doanh;
mở rộng hợp tác giữa các DN lớn và DN khởi nghiệp.
Có thể thấy là các quỹ đầu tư của Chính phủ Mỹ không thực hiện đầu tư
trực tiếp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp mà hợp tác, đầu tư cùng với các quỹ
tư nhân, theo tỷ lệ tùy thuộc vào mức độ rủi ro của doanh nghiệp khởi nghiệp.
Phương thức này cho phép Nhà nước tác động được vào tiến trình khởi nghiệp
12
trong toàn nền kinh tế trong khi nguồn vốn tư nhân chưa đủ, đồng thời cũng giảm
bớt được rủi ro cho nguồn vốn của Nhà nước.
1.3.2. Kinh nghiệm của Israel: Quốc gia khởi nghiệp
sự thịnh vượng của các quốc gia có đóng góp rất lớn của các đột phá khởi nghiệp
thành công từ kinh doanh mạo hiểm.
1.4. Vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, một quốc gia có trình
độ đổi mới sáng tạo cao sẽ có nhiều cơ hội tham gia sân chơi lớn. Khởi nghiệp
châm ngòi sức sáng tạo, vì vậy, việc thôi thúc “ngọn lửa” khởi nghiệp bùng cháy
đang là quyết tâm chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, môi trường và các
điều kiện cho khởi nghiệp, gồm hệ thống khung pháp luật, các chính sách hỗ trợ,
quỹ đầu tư mạo hiểm (ĐTMH)… giúp bảo đảm tính ổn định và độ sẵn sàng vẫn
còn gặp nhiều vướng mắc. Hoàn thiện các điều kiện cho khởi nghiệp chính là yêu
cầu bức thiết nhất, giúp cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam vươn lên và phát triển
mạnh mẽ.
Đánh giá gần đây về năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam chỉ là nền
kinh tế vận hành ở giai đoạn cơ bản còn một khoảng cách khá xa để vươn tới nền
kinh tế tri thức. Do đó, các DN KHCN cần rất nhiều nổ lực và sự quan tâm của
chính phủ mới có thể thực hiện được nhiệm vụ gia tăng số lượng và chất lượng
DN KHCN.
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa các khái niệm công cụ như công
nghệ, DN KH&CN, DN khởi nghiệp, vườn ươm DN KH&CN, hệ sinh thái khởi
nghiệp. Qua đó xác định được những yếu tố cơ bản cấu thành hệ sinh thái khởi
nghiệp cho DN. Đồng thời, trong chương này tác giả đã làm rõ chính sách, quá
trình chính sách và khung đánh giá chính sách (làm nền phân tích cho chương 2
và chương ba tiếp theo).
Luận văn đã khái quát được các yếu tố và điều kiện giúp giúp DN KH&CN
tồn tại và phát triển và làm rõ vai trò của Nhà nước và chính sách trong việc thúc
14
1
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận DNKH&CN (theo Nghị
204
định 80 và Nghị định 96)
2
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ
34
cao, doanh nghiệp nằm ngoài các khu công nghệ cao theo quy định
của Thông tư 32
3
Doanh nghiệp tại các Khu CNC
400
4
Doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT
1400
Tổng số:
e-commerce. Ngoài ra còn có một số DN/quỹ đầu tư khác từ Việt Nam cũng như
trong khu vực như Kusto Tiger IT Fund, IDT, Mekong Capital, Cloud Funding,
VI Corporation, Gale Greek Investment.
Những quỹ/DN đầu tư này đã góp phần tạo nên tên tuổi của một số doanh
nghiệp khởi nghiệp thành công, nhất là trong lĩnh vực trò chơi, CNTT và TMĐT.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm về đầu tư mạo hiểm, đầu tư thiên thần
hay đầu tư cho khởi nghiệp còn mới mẻ, đi kèm với rủi ro cao và yêu cầu chuyên
môn sâu, do đó trên thị trường chưa có nhiều nhà đầu tư theo hình thức này.
Việc thiếu các khoản đầu tư mạo hiểm là một trong những lý do khiến
doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam có nguy cơ thất bại cao. Theo đánh giá chung
của IDG Ventures Việt Nam, tỷ lệ thất bại của doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt
Nam là khoảng 80% trong ba năm đầu tiên.
2.1.4. Các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Về các đơn vị ươm tạo, hỗ trợ khởi nghiệp có các tổ chức nổi bật trong khu
vực tư nhân như Topica Founder Insititute, 5 Desire, Hatch!Program và khu vực
công lập như vườn ươm đã được thành lập.
Về các hoạt động khác của cộng đồng khởi nghiệp, một số sự kiện nổi bật
dành cho khởi nghiệp ở Việt Nam cũng như trong khu vực mà doanh nghiệp khởi
nghiệp Việt Nam có thể tham gia bao gồm Demo Asean, Startup Asean,
BarcampSaigon, Mobile Day, Startup weekend (NEXT), Start me up, Techcamp
Saigon, Tech talks, Google for Entrepreneur week, Web Wednesday.
Mô hình Vườn ươm đã dần tạo nên một hệ thống dịch vụ kinh doanh đồng
bộ, gắn kết thay thế các mô hình hỗ trợ dịch vụ đơn lẻ. Cùng với việc hình thành
17
hệ thống chia sẻ thông tin, thông qua các vườn ươm DN, các mối liên kết giữa
các DN ươm tạo và với các chủ thể liên quan khác đã bước đầu được tăng cường,
góp phần tăng năng lực hoạt động và cạnh tranh cho các DN trong bối cảnh hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.
thành công hay không chính là việc kêu gọi được vốn đầu tư mạo hiểm. Tuy
nhiên, hiện có rất nhiều yếu tô tác động đến hoạt động khởi nghiệp của DN như:
Kỹ năng, nguồn vốn, tính hiệu quả, hoạt động đầu tư bị cản trở.
2.3. Chủ trương và chính sách của Việt Nam đối với hoạt động khởi nghiệp
của doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin
2.3.1. Các chính sách của Nhà nước liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp khoa
học và công nghệ khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến
năm 2025" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/5/2016 nhằm tạo
lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển
loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản
trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và mở rộng cơ hội để doanh nghiệp
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế.
- Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia (NATIF) và Chương trình Hỗ trợ doanh
nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm.
19
2.3.2. Đánh giá khung khổ pháp lý đối với sự phát triển của doanh nghiệp khoa
học và công nghệ khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Các chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp của DN KH&CN của Nhà
nước đã khơi dậy tinh thần khởi nghiệp. Giai đoạn phát triển kinh tế của Việt
Nam khoảng 10 năm qua đã chứng kiến sự hình thành và phát triển rất năng động
của phong trào khởi nghiệp.
Tuy nhiên, xem xét và phân tích tổng quan về khung khổ pháp lý liên quan
đến hoạt động khởi nghiệp đã được ban hành có thể nhận thấy một số điểm khó
khăn và bất cập sau:
- Pháp luật liên quan đến doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam chưa đồng
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
3.1. Bối cảnh hoàn thiện Chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp cho doanh
nghiệp khoa học và công nghệ
Vai trò định hướng của nhà nước đối với hệ sinh thái khởi nghiệp là hết
sức quan trọng. Tuy còn một số hạn chế nhất định, nhưng chính phủ Việt Nam
đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng khởi nghiệp cất
cánh, củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng đồng thời tăng cường đào tạo nguồn nhân
lực. Môi trường khởi nghiệp đã có, việc hiện thực hóa tinh thần khởi nghiệp rất
cần nỗ lực của mỗi tổ chức, cá nhân.
3.2. Một số kiến nghị về Chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp cho
doanh nghiệp khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin
- Rà soát hệ thống luật pháp để hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo sự đồng
bộ, đảm bảo tính thực thi, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp KH&CN lĩnh
vực CNTT khởi nghiệp và phát triển.
- Rà soát tổ chức lại hệ thống đơn vị quản lý nhà nước về doanh nghiệp
KH&CN tại Bộ KH&CN, phân định chức năng nhiệm vụ cho rõ ràng và phù hợp.
21
- Hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm theo Luật CNC, khuyến khích, thu hút
các Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài hoạt động tại Việt Nam nhằm hỗ trợ kịp
thời cho quá trình đổi mới.
Việc xét công nghệ là DN KH&CN cần được giảm thiểu tối đa các thủ tục
hành chính và nên quy về một chỉ số duy nhất: Sản phẩm của DN có thuộc lĩnh
vực CNC mới không và chu kỳ đổi mới sản phẩm. Sau thời gian (chu kỳ đó) nếu
DN không thay đổi sản phẩm thì không được ưu đãi với tư cách là DN KH&CN.
- Nghiên cứu xây dựng chuyên ngành kinh tế và quản lý về KH&CN trong
các trường đại học, đặc biệt là tại các trường đại học kỹ thuật, công nghệ.
3.3. Đề xuất một số giải pháp về chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
hiểm cho DN khởi nghiệp bằng KHCN như:
- Nhà nước đối ứng với khoản tiền đầu tư của các quỹ đầu tư cũng như các
nhà đầu tư thiên thần;
- Nhà nước có thể giảm trừ thuế thu nhập đối với các Quỹ đầu tư thực hiện
đầu tư cho DN khởi nghiệp ở giai đoạn ban đầu để chia sẻ rủi ro;
- Triển khai nghiên cứu thí điểm về loại hình cổ phiếu công nghệ, sớm đưa
loại hình cổ phiếu này trở thành hàng hóa giao dịch trên thị trường, giúp hình
thành nguồn vốn mới, tạo động lực cho sự phát triển;
- Sớm hình thành Quỹ Đầu tư mạo hiểm theo Luật Công nghệ cao.
Ngoài ra, nhà nước cũng cần mở rộng nguồn đóng góp, tham gia Quỹ Đầu
tư mạo hiểm bao gồm cả vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài.
Kết luận chương 3
Chương 3 của luận văn đã phân tích kinh nghiệm quốc tế về chính sách
khởi nghiệp. Kinh nghiệm của Thế giới đã cho thấy, sự thịnh vượng của các quốc
gia có đóng góp rất lớn của các đột phá khởi nghiệp thành công từ kinh doanh
mạo hiểm.
Đồng thời, luận văn đã phân tích những ảnh hưởng của chính sách Nhà
nước đến hỗ trợ DN KH&CN khởi nghiệp trong lĩnh vực này ở chương 2. Từ đó,
đã thấy được những tồn tại và hạn chế trong chính sách của nhà nước đối với DN
KH&CN trong lĩnh vực này,
23