BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THẠNH HÓA - TỈNH LONG AN
SVTH
MSSV
LỚP
KHOÁ
NGÀNH
:
:
:
:
:
PHẠM NGỌC TUÂN
03124067
DH03QL
2003 - 2007
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 08 năm 2007
Trang i
huyện Thạnh Hóa - tỉnh Long An”.
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Lê Mộng Triết, Bộ môn Pháp Luật, Khoa Quản lý
Đất đai & Bất động sản Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Những năm gần đây, cùng với chủ trương đầu tư, xây dựng các khu cụm, công
nghiệp ở Tỉnh, huyện Thạnh Hóa có những biến đổi rất lớn, từ vùng đất nông nghiệp
trở thành vùng đất phát triển đô thị công nghiệp có quy mô lớn. Tuy nhiên trong quá
trình thực hiện dự án thì công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có vị trí và vai trò
quan trọng, làm nhiệm vụ trọng tâm đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, hộ gia đình cá
nhân, đảm bảo tiến độ thi công, nó quyết định đến sự thành bại của dự án. Xuất phát từ
những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài “Đánh giá công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một số dự án trên địa bàn huyện Thạnh Hóa
tỉnh Long An ”
Trên cơ sở đó đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu việc áp dụng các chính sách,
các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số dự án về xây dựng các khu
công nghiệp trên địa bàn huyện Thạnh Hóa. Qua các dự án đang thực hiện có được
những nhận định tổng quan về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, từ đó rút ra
những hạn chế, tồn tại và bài học kinh nghiệm, đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện
công tác bồi thường, làm cho các dự án sau tốt và có hiệu quả hơn.
Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp: phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp chuyên gia…Đề tài tập
trung nguyên cứu những vấn đề sau: Tình hình quản lý nhà nước và vấn đề sử dụng
đất, công tác bồi thường, giải toả và tái định cư của 2 dự án Nhà máy bột giấy Phương
nam và Đường vào khu xử lý rác.
Qua quá trình nguyên cứu trên đề tài thu được các kết quả sau:
- Dự án bột giấy Phương Nam thu hồi 43.6 ha trong đó có 121 hộ dân bị ảnh
hưởng, 93 hộ bị giải tỏa trắng, tổng kinh phí bồi thường cho dự án là 15.5 tỷ đồng.
- Dự án đường vào khu xử lý rác thu hồi 4.9 ha, 26 hộ bị ảnh hưởng trong đó có
8 hộ bị giải tỏa trắng, tổng kinh phí bồi thường cho dự án là 1.34 tỷ đồng.
Trang iii
I.2.1. Điều kiện tự nhiên
1. Vị trí và ranh giới hành chính:
2. Đặc điểm khí hậu.
3. Tài nguyên đất:
4. Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng:
5. Tài nguyên rừng:
I.2.2. Khái quát về điều kiện kinh tế – xã hội.
1. Tăng trưởng cơ cấu kinh tế
2. Dân số, lao động, việc làm
3. Tôn Giáo
4. Giáo dục, y tế.
5. Cơ sở hạ tầng
I.3. Nội dung, phương pháp nghiên cứu và trình tự thực hiện đề tài
I.3.1 Nội dung nghiên cứu
I.3.2. Phương pháp nguyên cứu.
I.3.3. Trình tự thực hiện đề tài.
16
16
16
1
1
1
2
2
3
3
3
4
10
Đánh giá việc thi hành luật đất đai năm 2003
11
II.2. Khái quát một số dự án bồi thường giải phóng mặt bằng đã và đang thực
hiện trên địa bàn Huyện Thạnh Hoá.
11
Trang iv
II.2.1. Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy bột giấy Phương Nam (được phê duyệt vào ngày
23/11/2004).
11
1. Khái quát những nét chính của dự án.
11
II.2.2. Dự án xây dựng đường vào khu xử lý rác tại xã Tân Đông (được phê duyệt vào ngày
03/09/2005).
4
1. Khái quát những nét chính của dự án.
5
II.3. Nhận xét đánh giá phương án bồi thường của 2 dự án.
2
1. Điều kiện và đối tượng bồi thường.
2
2. Đánh giá bồi thường tài sản trên đất
3
3. Đánh giá chính sách hỗ trợ và tái định cư của 2 dự án.
5
4. Công tác tổ chức trình tự thực hiện công tác bồi
7
phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền tây, có vị trí địa lý rất thuận lợi. Huyện Thạnh Hóa
là huyện có diện tích chủ yếu là đất nông nghiệp đời sống của người dân còn nhiều khó
khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn và thấp kém. Tuy nhiên trên thực tế thì địa
phương có nhiều dự án phát triển trong những năm gần đây và có nhiều công trình đã
và đang phát triển, do các cơ quan địa phương đang tiến hành phát triển nhiều dự án
điển hình để phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống người dân trong vùng.
Mặc khác, do huyện có một quỹ đất đai thật phong phú và đa dạng rất thuận lợi cho
việc phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ… Cho nên huyện cần có một quỹ đất
lớn để tiến hành xây dựng các khu, cụm công nghiệp. Việc giải phóng mặt bằng là điều
tất yếu, nhưng đảm bảo lợi ích hài hòa của nhà nước – chủ đầu tư – người có đất bị thu
hồi và đảm bảo thời gian tiến độ thi công còn phụ thuộc vào chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư của huyện. Thực tế, trong quá trình thực hiện các dự án, chính sách
bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề chưa
phù hợp.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề
tài “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một số dự án trên địa bàn
huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An ”
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số dự án về xây dựng
khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Thạnh Hóa - tỉnh Long An. Xác định những
mặt tồn tại, hạn chế của nó và những bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất những
phương hướng nhằm hoàn thiện chính sách bồi thường trong thời gian tới.
Trang 1
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
PHẦN I: TỔNG QUAN
I.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
I.1.1. Cơ sở khoa học.
1. Lược sử về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Vấn đề bồi thường thiệt hại luôn đi cùng với từng giai đoạn lịch sử phát triển kinh
tế xã hội. Mỗi chế độ chính trị khác nhau sẽ có những chính sách bồi thường khác
nhau, nhằm thoả mãn quyền lợi cho người thu hồi đất và người bị thu hồi đất. Vì vậy,
việc hoàn thiện chính sách bồi thường trong từng thời kì là điều tất yếu, nhằm phù hợp
với quá trình lịch sử của đất nước theo xu hướng ngày càng cởi mở, có lợi cho người
sử dụng đất.
a) Giai đoạn trước năm 1993.
Kể từ thời kì xây dựng và phát triển kinh tế miền bắc cho đến khi có luật đất
đai 1993, để phục vụ cho việc lấy đất phục vụ cho công trình của Nhà Nước, các chính
sách về đất đai, về đền bù thiệt hại đã được ban hành, cụ thể:
- Nghị định số 151/CP ngày 14/1/1959 của Hội đồng chính phủ quy định tạm
thời về trưng dụng đất
- Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ Tướng quy định một số điểm
tạm thời về đền bù nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở
những vùng xây dựng kinh tế mở rộng của thành phố
- Quyết định 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội Đồng chính phủ về việc thống nhất
quản lý ruộng đất và công tác tăng cường quản lý ruộng đất trong cả nước quy định
người bị thu hồi đất chỉ được bồi thường tài sản trên đất. Trường hợp cần đất sử dụng
thì cấp đất khác.
- Hiến pháp 190 được Quốc Hội thông qua ngày 18/12/1980 quy định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân. Pháp luật thời kỳ này quy định người sử dụng đất chỉ được đền
bù tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất và được áp dụng theo quyết định số
quốc gia, lợi ích công cộng. Hai nghị định này cơ bản đã giải quyết những vướng mắc
trong việc đền bù, khắc phục được tình trạng bất hợp lý, tạo sự thống nhất trong chính
sách đền bù giữa các địa phương trong cả nước, quan tâm đến lợi ích của người bị di
dời, hạn chế được sự biến động của giá đất thông qua quy định mức giá cao nhất, thấp
nhất. Tuy nhiên nó vẫn còn những hạn chế không phù hợp với thực tế do những
nguyên nhân sau:
- Các địa phương tự xây dựng bảng giá các loại đất dựa trên bảng giá của Chính
phủ, UBND tỉnh. Với tốc độ phát triển của xã hội, giá biến động mạnh nhưng không
được bổ sung cập nhật kịp thời dẫn đến giá đất trong bảng quy định thấp hơn rất nhiều
so với thị trường, gây phản ứng từ người sử dụng đất.
- Sự khác biệt về giá đất giữa đô thị và nông thôn, giữa đất ở, đất chuyên dùng và
đất nông nghiệp… là rất lớn, nhưng việc phân định rõ ràng các loại đất này rất khó
khăn do có sự chồng chéo ngay trong việc phân chia giữa hiện trạng sử dụng đất và
loại đất. Điều này gây trở ngại trong việc áp giá đền bù.
- Chưa quan tâm đến việc tái định cư cho người bị di dời, thu hồi đất.
Để giải quyết những vấn đề trên ngày 24/4/1998 chính phủ ban hành Nghị định
22/CP thay thế Nghi định 90/CP, trong đó quy định cụ thể, chi tiết hơn về đối tượng
được đền bù, hỗ trợ và đền bù thiệt hại đối với các loại đất, đồng thời phân rõ trách
nhiệm của các sở, ngành có liên quan và quan tâm đến quyền lợi của người sử dụng đất
khi bị thu hồi như giá đền bù thiệt hại gần như tương đương với giá thị trường, điều
chỉnh theo hệ số K, có chính sách hỗ trợ, trợ cấp thích hợp cho người bị di dời.... Tuy
nhiên những vướng mắc, bất cập vẫn còn tồn tại trong công tác đền bù giải toả mà
Nghị định 22 chưa khắc phục được là: Người dân sau khi được di dời, hỗ trợ tái định
cư lại gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như tìm kiếm việc làm mới, xây dựng lại
mối quan hệ mới… Ngoài ra, giá đất đền bù xác định theo văn bản này thường thấp
Trang 4
Ngành: Quản lý đất đai
định hết sức quan trọng cho việc sát định giá QSDĐ trong bồi thường, GPMB. Tuy
nhiên khi đi vào xác định giá đất cho từng thửa đất cụ thể vẫn là vấn đề rất khó, đòi hỏi
các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là UNBD cấp tỉnh phải có cách thức giải quyết cụ
thể thì việc bồi thường, thu hồi đất mới nhanh chóng và có hiệu quả cao.
Trên cơ sở Luật đất đai năm 2003, ngày 3/12/2004 Nghị định 197 của chính
phủ ra đời về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, thay thế
Nghị định 22/CP. Tại Nghị định này đã có những đổi mới cơ bản về phạm vi ứng
dụng, về bồi thường đất và tài sản trên đất, về chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện.
Những quy định mới này được đề ra nhằm cụ thể hoá Luật đất đai năm 2003 và giải
quyết những vấn đề còn bất cập, chưa hợp lý của Nghị định 22/CP trong thực tế.
Trang 5
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
Những điểm mới của Nghị định 197/CP khác với Nghị định 22/CP được thể hiện qua
các mặt sau:
- Nghị định này chỉ áp dụng đối với các trường hợp khi Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục
đích phát triển kinh tế trong các trường hợp xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ. Đối với các dự
án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì nhà đầu tư được nhận
chuyển nhượng, thuê QSDĐ, nhận góp vốn bằng QSDĐ, không phải thực hiện thu hồi
đất.
- Nhà nước là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư và GPMB.
- Giá đất để tính bồi thường phải đảm bảo sát với giá chuyển nhượng QSDĐ thực
tế trên thị trường trong điều kiện bình thường.
- Chính sách hỗ trợ kèm theo như hỗ trợ ổn định sản xuất đời sống, hỗ trợ di dời,
chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm… cũng được quan tâm nhiều hơn. Chẳng hạn
như đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30%
diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thì số người trong độ tuổi lao động được hỗ trợ
chuyển đổi nghề nghiệp bằng hình thức học nghề tại các cơ sở dạy nghề tại địa phương
với thời gian không vượt quá 06 tháng.
- Cơ quan được giao trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải thông báo
công khai dự kiến phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, niêm yết công khai tại
trụ sở của tổ chức được giao trách nhiệm bồi thường, tại trụ sở UBND cấp xã nơi có
đất bị thu hồi, đồng thời có trách nhiệm tiếp thu ý kiến, giải đáp thắc mắc… hoàn thiện
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Những quan điểm chung về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy
định của Luật đất đai 2003, NĐ 197 đó là:
- Công khai dân chủ trong quá trình thực hiện.
- Giá bồi thường phải sát với giá thị trường tại thời điểm thu hồi.
- Phải có khu tái đinh cư trước khi thực hiện thu hồi đất.
- Nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
- Tạo công ăn việc làm, ổn định cuộc sống của người dân sau khi thu hồi.
Tóm lại, Chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư của Nghị định 197/CP đã
thể hiện tinh thần đổi mới trong cung cách quản lý đất đai, phù hợp hơn với thực tiển
cuộc sống, hy vọng NĐ này sẽ là công cụ đắc lực để công tác bồi thường thiệt hại ngày
càng hoàn thiện hơn. Qua những quan điểm nêu trên, ta thấy chính sách về đất đai luôn
luôn thay đổi phù hợp với thực tiễn xã hội nhằm làm cho xã hội phát triển, hướng tới
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Một số khái niệm có liên quan đến công tác bồi thường.
- Đất đai: là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và
phát triển của mỗi con người và các sinh vật trên đất. Đất đai là nguồn của cả, là nguồn
lực, một kho vốn, một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định. Đất đai có thể hiểu như là
sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính như là sự chuyển nhượng của cải
năng khác nhau để đảm bảo sự công bằng giữa những người sử dụng đất có các điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau. Bảng giá đất được xác định phải phù hợp với
tình hình thực tế địa phương, nếu giá quá cao sẽ gây cản trở mục đích sử dụng đất, nếu
giá quá thấp thì tiềm năng của đất đai sẽ không được khai thác hết, do đó việc sử dụng
đất sẽ không đạt được hiệu quả.
- Giá thị trường: là biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của một tài sản, là
số tiền thoả thuận của người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Giá thị
trường có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá thị trường của tài sản, nhưng giữa chúng có xu
hướng xích lại gần nhau.
- Giá trị thị trường: là giá bán có thể thực hiện được của một tài sản phù hợp với
khả năng của người bán và người mua trong một thị trường mở hoặc cạnh tranh, là
mức giá thịnh hành dưới các điều kiện thị trường xác định, trong đó việc mua bán diễn
ra sòng phẳng, bên mua và bên bán điều tự nguyện được thông tin đầy đủ về thị trường
về tài sản.
Trang 8
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
3. Vị trí và vai trò của công tác GPMB và tái định cư trong hệ thống quản lý của
Nhà nước về đất đai.
Thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà
nước về đất đai, sau khi có quyết định phải chi trả bồi thường thiệt hại cho người có
đất bị thu hồi. Vậy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng hết sức quan trọng,
công tác này có tốt hay không phụ thuộc vào công tác quản lý của Nhà nước về đất đai.
Đối với việc ban hành các văn bản pháp luật thì Nhà nước ban hành khung giá
các loại đất phải sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, có các chính sách
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
hội. Quy hoạch và công tác bồi thường, GPMB có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu
quy hoạch hợp lý thì công tác bồi thường, GPMB sẽ thực hiện thuận lợi. Ngược lại,
việc bồi thường gặp khó khăn lúc đó cần phải xem xét lại quy hoạch có phù hợp chưa,
có cần phải điều chỉnh, bổ sung quy hoạch không… Như vậy mối quan hệ giữa quy
hoạch và công tác bồi thường, GPMB được hiểu như sau: sau khi lập dự án và có quy
hoạch chi tiết khu dự án phù hợp với quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế, xã hội,
nhà đầu tư sẽ trình lên UBND tỉnh thông qua Hội Đồng Thẩm Định dự án và quyết
định phương án của nhà đầu tư đưa ra có phù hợp không, UBND tỉnh phê duyệt và ra
quyết định thu hồi đất, giao đất cho nhà đầu tư xin đất xây dựng dự án. Cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đóng vai trò chuyển giao quyền sử dụng từ chủ thể là hộ gia đình,
cá nhân sang chủ thể là tổ chức đồng thời chuyển đổi mục đích sử dụng đất chuyên
dùng (theo hiến pháp 1992 và Luật Đất đai quy định:” Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” và chỉ có Nhà nước mới có quyền “định đoạt” đất
đai, nghĩa là chỉ có Nhà nước mới có quyền “quyết định mục đích sử dụng đất thông
qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”, “Quyết định giao đất,
cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất”).
4. Một số chính sách của UBND tỉnh Long An để thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đang được áp dụng trên địa bàn tỉnh Long An.
a) Một số quy định chung về chính sách bồi thường.
Từ khi Luật đất đai ra đời cho đến nay nó cũng đã khắc phục được những vướng
mắc, thiếu sót mà Luật đất đai 1993 chưa thực hiện được. Bên cạnh đó UBND tỉnh căn
cứ vào Luật đất đai năm 2003 ban hành những Quyết định, công văn kèm theo để điều
chỉnh, sửa chửa được những thiếu sót trong quá trình tiến hành công tác bồi thường,
GPMB một cách sớm nhất và chính xác nhất.
Đường tỉnh 836:
2
-Ngã 3 lộ Trung Tâm – Ngã 3 Tuyên Nhơn
Đường tỉnh còn lại:
- Các xã Thuận Nghĩa Hòa, Thạnh Phú,
Thạnh Phước, Tân Đông, Tân Tây, Thủy
3
Tây
- Các xã Tân Hiệp, Thuận Bình, Thạnh An
Các đường khác:
- Lộ Trung Tâm.
4
- Các đường khác trong nội ô đô thị
b) Chính sách hỗ trợ.
QĐ
5205
QĐ 69
180.000
120.000
150.000
180.000
120.000
400.000
200.000
300.000
400.000
Nhà tạm
Mức hỗ trợ (đồng/hộ)
Di dời trong tỉnh Di dời ngoài tỉnh
3.000.000
5.000.000
2.000.000
3.000.000
1.000.000
2.000.000
Trường hợp phải di dời nhà, nhưng không bị thu hồi toàn bộ đất và có đủ điều
kiện xây dựng trên phần đất còn lại thì được hỗ trợ, di dời bằng 50% mức hỗ trợ trong
tỉnh nói trên.
¾ Hỗ trợ tiền thuê nhà
Người bị thu hồi đất ở, không còn chổ ở khác và chủ khu dự án chưa kịp bố trí
tái định cư thì sẽ được hỗ trợ thêm chi phí thuê nhà theo mức như sau:
- Mức hỗ trợ chi phí thuê nhà là 100.000đ/người/tháng, mức hỗ trợ tối thiểu
250.000đ/hộ/tháng.
- Thời gian được hỗ trợ tiền thuê nhà: tối thiểu là 6 tháng, và được hỗ trợ là cho
đến khi chủ dự án bố trí được đất tái định cư.
Trang 11
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
¾ Hỗ trợ ổn định cuộc sống.
Hộ bị thu hồi trên 30% diện tích sản xuất nông nghiệp mà không phải di chuyển
- Trường hợp các hộ có nhà ở chính gắn liền với đất chưa phải là đất ở hoặc chỉ
có đất khác bị giải toả từ 70% diện tích trở lên trong phạm vi dự án, nếu có nhu cầu đất
ở thì mỗii hộ được xem xét giải quyết cho mua 01 lô đất với giá ưu đãi trong khu tái
định cư.
Trang 12
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
- Trường hợp các hộ có nhà ở chính trên đất của người khác nay bị giải toả
trắng, nếu có nhu cầu đất ở thì mỗi hộ được xem xét giải quyết cho mua 01 lô đất với
giá ưu đãi trong khu tái định cư.
- Trường hợp các hộ có nhà ở chính gắn liền với đất ở có nhiều cặp vợ chồng ở
chung nhưng chưa tách hộ, nay bị giải tỏa trắng, nếu có nhu cầu về đất ở và có xác
nhận của chính quyền địa phương sẽ được xem xét bố trí thêm lô đất theo giá ưu đãi
trong khu tái định cư.
- Quy cách lô đất: được xác định tuỳ theo đặc điểm của từng dự án nhưng tối
thiểu là 64m2 và tối đa không qua hạn mức đất ở do UBND tỉnh phê duyệt đối từng
khu vực.
- Nguyên tắc xác định giá đất TĐC và giá ưu đãi.
Giá đất TĐC được xác định theo nguyên tắc cân đối và có tương quan hợp lý với
giá đất ở đã tính bồi thường nơi ở cũ, đảm bảo cho người bị thu hồi đất có được chổ ở
mới tốt hơn nơi ở cũ.
+ Mức tối thiểu bằng giá đất ở đã tính bồi thường.
+ Mức giá tối đa bằng 70% giá vốn đầu tư.
+ Giá đất ưu đãi: được xác định tối đa bằng giá vốn đầu tư
+ Giá vốn đầu tư = chi phí bồi thường + chi phí đầu tư hạ tầng.
¾ Tái định cư bằng tiền.
(7)
Trình phê duyệt phương án đền bù, hỗ trợ & TĐC,
Chi trả tiền đền bù
(8)
Thực hiện giải phóng mặt bằng, giao đất.
(9)
Giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm.
Bước 1: Tuỳ theo dự án lớn hay nhỏ mà nhà đầu tư liên hệ với các ban ngành,
các cấp có liên quan để chọn địa điểm thích hợp thống nhất về vị trí và quy mô thực
hiện dự án, sau đó nhà đầu tư lập phương án để trình lên cấp thẩm quyền phê duyệt.
Bước 2: Sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt phương án xây dựng. Thì nhà
đầu tư triển khai, thông báo rộng rãi ra dân nằm trong vùng dự án, để cho người dân
biết.
Bước 3: Sau khi thông báo ra dân, UBND cấp huyện, thị xã tiến hành thành lập
HĐBT dự án. HĐBT sẽ giao nhiệm vụ cho các cán bộ trong Hội đồng từng công việc
cụ thể từ: công tác thu thập đóng góp, phản ánh của các tổ chức cá nhân về nội dung
dự án.
Trang 14
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
Bước 4: HĐBT sẽ giao nhiệm vụ cho đơn vị liên quan tiến hành đo đạc thành lập
bản vẽ của công trình, để xác định quy mô, diện tích của dự án để tiến hành công tác
đo vẽ, lập hồ sơ địa chính công trình, trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
Bước 5: Sau khi được phê duyệt của cấp có thẩm quyền, HĐBT chỉ đạo bộ phận
chuyên môn dã ngoại, lập hồ sơ kê biên chi tiết từng hộ dân. Trong quá trình kê biên
Quyết định 3279/2005/QĐ-UB ngày 22/8/2005 của UBND tỉnh Long An “ về
việc ban hành đơn giá xây dựng mới nhà cửa, công trình xây dựng trên đất”.
Trang 15
Ngành: Quản lý đất đai
Ngành: Quản lý đất đai
Quyết định 3280/2005/QĐ-UB ngày 22/8/2005 của UBND tỉnh Long An “ về
việc ban hành đơn giá hoa màu, phương tiện sinh hoạt, mồ mã”.
Quyết định 3281/2005/QĐ-UB ngày 22/8/2005 của UBND tỉnh Long An “ về
việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long
An”.
Quyết định 5205/2004/QĐ-UB ngày 21/12/2004 của UBND tỉnh Long An “về
việc ban hành giá các loại đất năm 2005 trên địa bàn tỉnh Long An”
Quyết định 69/2006/QĐ-UB ngày 19/12/2006 của UBND tỉnh Long An “về
việc ban hành giá các loại đất năm 2007 trên địa bàn tỉnh Long An. Và các quyết định
của UBND tỉnh Long An ban hành các loại đất những năm trước”.
I.2. Khái quát điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của Huyện Thạnh Hoá – tỉnh
Long An.
I.2.1. Điều kiện tự nhiên
1. Vị trí và ranh giới hành chính:
Huyện Thạnh Hóa là một huyện mới được thành lập theo quyết định số
74/HĐBT ngày 16/6/1989, trên cơ sở tách ra tự huyện Mộc Hóa và huyện Tân Thạnh.
Huyện Thạnh Hóa nằm ở phía Tây và Tây Bắc tỉnh Long An, có diện tích tự nhiên là
46825,79 ha, với 10 xã và 1 thị trấn.
Ranh giới hành chính:
Phía Đông giáp huyện Thủ Thừa
Phía Đông Bắc giáp huyện Đức Huệ
quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa lớn và phân hóa thành hai mùa trái ngược
nhau chi phối mạnh mẽ đến vấn đề sử dụng đất.
- Nhiệt độ: bình quân 270C, nhiệt độ tối cao trung bình 300C vào tháng 3 tháng
4, nhiệt độ tối thấp trung bình 250C vào tháng giêng. Tổng tính ôn đới tương đối cao,
tổng bức xạ cao và phân bố tương đối đều theo mùa vụ cho phép sản xuất cây trồng
quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây trồng nhiệt đới.
- Lượng mưa: bình quân tương đối lớn 1447mm/năm, phân bố theo mùa, đã chi
phối mạnh mẽ nền sản xuất nông lâm nghiệp.
- Độ ẩm: Các tháng mùa mưa có độ ẩm rất cao chiếm đến 80 – 90%, cộng với
mưa lớn đã làm toàn vùng gần như bão hòa về nước. Trái lại mùa khô không có mưa,
độ ẩm thấp, lượng bốc hơi lớn gây nên sự thiếu hụt nước trên đồng ruộng.
3. Tài nguyên đất:
Tài nguyên thiên nhiên đất đai là một tài nguyên quý gia nhất của loài người
nhưng nó lại là tài nguyên có giới hạn về không gian.
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất trên tỷ lệ 1/25000 năm 1998 cho
thấy: toàn huyện có 3 nhóm đất và 6 đơn vị bản đồ tương đương loại phát sinh. Trong
đó, nhóm đất xám co 2310ha, chiếm 4.9%, nhóm đất phù sa co 5479 ha chiếm 11.7 %
nhóm đất phèn có 37849 ha chiếm 80,83%, mặt nước và sông hồ có 1187,9 ha chiếm
2,54%.
4. Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng:
Khoáng sản và vật liệu xây dựng ở Long An nói chung và ở Thạnh Hóa nói
riêng rất nghèo nàn, chỉ có các nhóm phi kim loại gồm: Laterit, sạn dùng làm vật liệu
xây dựng như: Khu mõ vẹt xã Tân Hiệp, khu Thị Trấn, bắc xã Thủy Đông… việc thăm
dò đánh giá trữ lượng còn ít thực hiện. Tuy vậy có thể khai thác với quy mô nhỏ phục
vụ cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng trong phạm vi huyện. Ngoài sét, sạn làm
nguyên vật liệu xây dựng còn có than bùn ở các khu vực Chấp Mốp xanh, Chấp Rùng
Rình xã Tân Hiệp và Thuận Bình có trữ lượng khoảng 210.000 tấn đến 521.000 tấn.
5. Tài nguyên rừng:
Tài nguyên rừng vốn là lợi thế của huyện Thạnh Hóa từ trước đến nay, nhưng
hiện nay diện tích rừng chỉ còn khoảng 8513,06 ha, chiếm khoảng 18% DTTN, chủ
đi lại rất khó khăn.
I.2.2. Khái quát về điều kiện kinh tế – xã hội.
1. Tăng trưởng cơ cấu kinh tế
Bảng 1: Tình hình tăng trưởng kinh tế huyện giai đoạn 2005 – 2006
Nội dung
Tăng trưởng chung
Khu vực I
Khu vực II
Khu vực III
TH năm 2005
8,3%
8,0%
8,0%
9,0%
KH năm 2006 TH năm 2006
8% -9%
6.6%
7%
5.0%
12%
11.5%
14.3%
12%
Về kinh tế huyện Thạnh Hóa ở điểm xuất phát thấp, đang đứng trước nhiều khó
khăn, vả lại Thạnh Hóa là huyện biên giới, nằm trong vùng trũng ĐTM hàng năm bị
thiên tai tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp và yếu kém. Sự phân công
lao động chưa hợp lý, lao động nông nghiệp chiếm đại bộ phận trên 83% lao động cả
dân cư như đã quy hoạch.
3. Tôn Giáo
Toàn huyện có 9 cơ sở tôn giáo với 4 tôn giáo chính bao gồm: Công Giáo, Cao
Đài, Phật Giáo và đạo Tin Lành, có khoảng hơn 2790 tín đồ, tập trung chủ yếu ở các
xã Thuỷ Đông, Tân Đông, Thạnh Phú và Thuỷ Tây.
Nhìn chung, tôn giáo ở huyện Thạnh Hoá cũng được sự quan tâm về đời sống
tinh thần và được tự do tín ngưỡng, chính quyền địa phương các cấp đã tạo mọi điều
kiện để họ có thể sống tốt đời đẹp đạo.
4. Giáo dục, y tế.
a) Giáo Dục: Lĩnh vực giáo dục được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng,
giáo dục là mục tiêu đã được các cấp chính quyền địa phương đầu tư vào cơ sở hạ tầng
và trang thiết bị giảng dạy, bình quân đầu tư từ nguồn ngân sách do sự nghiệp giáo dục
mỗi năm là 16,2 %, cơ sở vật chất không ngừng được tăng cường, năm 2006 này tổng
số trường học của toàn huyện là 22 trường. Số lượng học sinh là 10619 học sinh tỷ lệ
học sinh cấp 3 chiếm 1.456 học sinh (chiếm13.7%). Nhìn chung tỷ lệ học sinh bỏ học
giảm nhiều, đạo đức học đường được chú trọng và có bước tiến bộ rõ rệt.
Trang 3