ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------
BÀI TẬP THỰC HÀNH
ND: Định giá công ty dược phẩm Cửu Long (DCL)
LỜI MỞ ĐẦU
Định giá doanh nghiệp là việc điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của công
ty nhằm xác định giá trị hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp, nhằm hỗ giúp cho quá
trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu hoặc khi cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm
bắt một cách chi tiết về tính hình hiện tại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối
cùng. Nó cũng đưa ra cơ hội và tiềm năng phát triển cho tương lai đặc biệt là xác định
các khoản nợ ngoài dự kiến hoặc chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng
lần đầu. Một điều kiện bắt buộc phải định giá doanh nghiệp là do thị trường chứng
khoán áp đặt một số yêu cầu và quy tắc nhất định về chủng loại thông tin mà công ty
buộc phải công khai trong các văn bản đƣợc gọi là bản cáo hạch. Quy trình định giá
doanh nghiệp phải xác định và chỉ ra được hoạt động cốt lõi của công ty và các cơ hội
cũng như các nhân tố rủi ro để tối thiểu hóa những khó khăn mà công ty có thể bị giảm
giá trị môt cách đáng kể khi niêm yết, do đó sẽ ảnh hưởng xấu tới lợi ích của các chủ
sở hữu. Ngược lại, khi công ty hoạt động kém hiệu quả, các nhà quản trị cần phải xác
định lại giá trị của công ty để cải thiện tình hình hoạt động chung của công ty. Do vậy,
quá trình định giá của doanh nghiệp sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh,
điểm yếu của công ty bằng việc xác định và chỉ ra những vấn đề hoặc các khu vực thể
hiện rõ nhất các điểm yếu của công ty, quá trình định giá doanh nghiệp là một công cụ
nhằm giúp công ty đánh giá một cách khách quan về các cơ hội, tiềm năng và gia tăng
giá trị cho các cổ đồng hiện tại và tương lai.
Định giá doanh nghiệp cũng có những yêu cầu và nguyên tắc riêng. Đó là phải dựa
trên giá trị hiện hành của thị trường, phù hơp với cơ chế thị trường và quy luật thị
trường. Định giá doanh nghiệp chính là xác định giá trị ước tính của doanh nghiệp theo
tiêu dùng sau khi giảm từ mức 98,1 điểm trong tháng 1 xuống còn 87,2 điểm trong
tháng 9, đã tăng trở lại đạt mức 91,3 điểm và 92,6 điểm trong tháng 11 và 12/2015.Tuy
nhiên, Mỹ vẫn phải đối diện với thách thức trong việc duy trì động lực tăng trưởng khi
tốc độ tăng trưởng (tính năm so với năm) lại có xu hướng giảm, từ mức 2,9% trong
quý I/2015 xuống còn 2,7% trong quý II/2015 và 2,1% trong quý III/2015; chỉ số quản
trị mua hàng (PMI) có xu hướng giảm, từ mức 54,1 điểm trong tháng 4/2015 xuống
còn 52,8 điểm và 51,2 điểm trong tháng 11 và tháng 12; đặc biệt là trong bối cảnh giá
dầu giảm, đồng USD tăng mạnh, hoạt động sản xuất tại hầu hết các khu vực nhìn
chung tăng trưởng yếu.
Tại Anh, nền kinh tế đã lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2015. Chỉ số PMI sản xuất đã
tăng từ mức 51,5 điểm trong tháng 9 lên mức 55,2 điểm trong tháng 10 và 52,5 điểm
tháng 11; tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm từ mức 5,6% trong tháng 6 xuống còn 5,2%
trong tháng 10 cho thấy nền kinh tế đang có dấu hiệu tăng trưởng tốt. Anh cũng đạt
được tốc độ tăng trưởng tốt trong năm 2015 song cũng phải đối diện với những thách
thức trong việc duy trì tăng trưởng do tốc độ tăng GDP vẫn giảm qua các quý: quý
III/2015 đạt 2,3%, giảm so với mức 2,4% của quý II/2015 và 2,5% của quý I/2015
(năm so với năm) do các chỉ số về chi tiêu tiêu dùng.
Khu vực đồng Euro có tốc độ tăng trưởng vẫn ở mức thấp song đang trên đà phục hồi,
với tốc độ tăng trưởng đã tăng từ mức 0,9% trong quý IV/2014 lên mức 1,2% trong
quý I/2015, 1,5% trong quý II/2015 và 1,6% trong quý III/2015 (năm so với năm). Xu
hướng phục hồi của khu vực đồng Euro đang trở nên rõ nét trong năm 2015: (i) Chỉ số
PMI sản xuất có xu hướng tăng từ mức 51 điểm trong tháng 1/2015 lên mức 53,2 điểm
trong tháng 12; (ii) Dù vẫn ở mức cao nhưng chỉ số thất nghiệp cũng giảm từ mức
11,1% trong tháng 6 xuống còn 10,7% trong tháng 10/2015. Khủng hoảng di cư và
căng thẳng địa chính trị cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng của khu vực.
Tại Trung Quốc, sau khi đạt 7,0% trong quý I và II/2015 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế
đã giảm còn 6,9% trong quý III/2015 (năm so với năm) – đây là mức thấp nhất kể từ
năm 2009 do sự sụt giảm về sản xuất công nghiệp, đầu tư bất động sản và xuất khẩu
giảm. Một loạt các chỉ số được đưa ra cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang tăng
trưởng chậm lại và bước vào giai đoạn nhiều khó khăn: (i) Chỉ số PMI sản xuất có xu
Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy, bức tranh tương đối sáng tại khu vực này. Phần
lớn các doanh nghiệp (DN) được hỏi đều đánh giá, tình hình sản xuất kinh doanh càng
về cuối năm càng khả quan và ổn định hơn so với đầu năm. Theo đó, chỉ số PMI của
Việt Nam hiện vẫn tương đối ổn định trên ngưỡng 50 điểm(Hình 2). Trong đó đáng chú
ý nhất là chỉ số đánh giá về sản lượng liên tục đạt mức trên 60 điểm. Ngoại trừ mức độ
tồn kho nguyên vật liệu, xây dựng các thành phần khác (bao gồm đơn hàng mới, việc
làm) đều cho thấy những dấu hiệu phục hồi tích cực của ngành chế biến, chế tạo.
Một tín hiệu đáng ghi nhận khác là tình hình sử dụng lao động trong các DN công
nghiệp năm 2015 cũng được cải thiện đáng kể, đặc biệt trong khối DN ngoài nhà nước.
Lượng lao động ngành công nghiệp tăng 6,4% trong năm 2015, cao hơn năm 2013
(4,3%) và năm 2014 (5,8%). Trong đó, lao động khu vực DN ngoài nhà nước tăng đến
4,6%, so với mức tăng chỉ 2,5% năm 2014. Số lượng công nhân làm việc trong khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài đạt mức tăng trưởng cao nhất, mặc dù có thấp hơn so với năm
trước và chỉ đạt 8% trong năm 2015.
Lạm phát ở mức thấp:
Năm 2015 ghi nhận Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thấp nhất trong nhiều năm trở
lại đây, chỉ ở mức 0,63%. Trái với thường lệ, lạm phát năm qua thấp đặc biệt trong
những tháng cuối năm, CPI hầu như không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Sự
giảm giá của hai nhóm mặt hàng năng lượng và lương thực, vốn đóng góp xấp xỉ
17% trong rổ hàng hóa CPI, là tác nhân chính dẫn tới hiện tượng mang yếu tố bất
thường này.
Giá cả nhiều mặt hàng cơ bản đang trong thời kỳ giảm sâu nhất kể từ sau giai đoạn
2007-2009. Tăng trưởng phục hồi khiêm tốn ở các nước phát triển và tăng trưởng
chậm tại Trung Quốc là nguyên nhân chính khiến nhu cầu năng lượng và nguyên vật
liệu của thế giới sụt giảm. Giá dầu thô thế giới giao ngay đang trong xu hướng giảm
sâu, xuống dưới 35 USD/thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2009. Giá than đá đang
trong xu thế giảm dài hạn...
nhiều giải pháp nhằm cắt giảm chi ngân sách. Tổng chi NSNN 5 năm 2011-2015 ước
xấp xỉ mục tiêu 5 năm đã đặt ra. Quy mô chi NSNN năm 2015 ước tăng trên 70% so
với năm 2010. Tỷ trọng tổng chi NSNN so GDP giảm dần từ mức trên 30% GDP
năm 2010 xuống khoảng 26% GDP năm 2015.
Một hạn chế khác của nền kinh tế là sự suy yếu của cán cân thương mại. Sau 3 năm
liên tiếp (2012-2014), cán cân thương mại đạt mức cân bằng và có thặng dư nhẹ, xu
hướng thâm hụt thương mại đang bắt đầu quay lại trong năm 2015. Theo ước tính,
kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2014. Tăng
trưởng xuất khẩu năm 2015 tiếp tục suy giảm so với các năm trước đó, giảm dần từ
mức 15,4% năm 2013 và 13,6% năm 2014. Trong đó, xuất khẩu chủ yếu vẫn nằm ở
nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với mức tăng trưởng 13,8% so với
năm 2014 (18,5% nếu không tính dầu thô), chiếm tỷ trọng 70,9% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu. Khu vực trong nước thậm chí còn suy giảm 3,5%, làm giảm 1,2
điểm phần trăm trong tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa.
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và đạt mức
165,6 tỷ USD trong năm 2015. Về cơ cấu, nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào
nhóm hàng tư liệu sản xuất, chiếm tới 91,3% kim ngạch nhập khẩu. Các nước Đông
Á và Đông Nam Á vẫn là những đối tác nhập khẩu chính của Việt Nam. Nhập khẩu
từ Trung Quốc đạt 32,3 tỷ USD và chiếm tới 28,8% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, năm
2015 cũng chứng kiến xu hướng dịch chuyển nguồn hàng nhập khẩu của nước ta
sang phía Hàn Quốc. Tăng trưởng nhập khẩu từ Hàn Quốc ở mức 27,4%, đạt 27,7 tỷ
USD và chiếm 1/6 kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm 2015. Nhập khẩu từ thị
trường các nước ASEAN và Nhật Bản lần lượt đạt 23,8 tỷ USD và 14,4 tỷ USD.
Năm 2015, cán cân thương mại thâm hụt nhẹ 3,8 tỷ USD, tương đương khoảng
1,65% GDP năm 2015. Sự thay đổi trong cấu trúc cán cân thương mại này một phần
do tỷ giá thực cao đã không hỗ trợ tốt cho xuất khẩu, đồng thời khuyến khích tiêu
dùng.
Tuy nhiên, hội nhập luôn mang lại cả cơ hội và thách thức cho các bên tham gia. Quá
trình hội nhập của Việt Nam trong vài thập kỷ gần đây đã giúp mang lại nhiều thành tích
về tăng trưởng kinh tế, đầu tư, xuất khẩu và cải thiện thu nhập cho người lao động. Mức
độ mở cửa càng lớn đồng nghĩa với rủi ro từ bên ngoài càng cao và thậm chí có thể làm
xấu đi những rủi ro nội tại. Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã
từng nhận được rất nhiều kỳ vọng lớn lao, nhưng nguồn vốn lớn ồ ạt đổ vào Việt Nam
đi kèm với chính sách tiền tệ chưa linh hoạt đã tạo “bong bóng” bất động sản và tạo ra
siêu lạm phát giai đoạn 2007-2008.
Sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu và đầu tư nước ngoài, những yếu kém và lãng phí
nguồn lực tại các DN nhà nước là những cảnh báo Việt Nam không nên tự mãn với việc
tham gia những hiệp định thương mại tự do đầy hứa hẹn như: TPP, AEC hay EVFTA.
Tại thời điểm này, khu vực tư nhân tại Việt Nam vẫn chưa được đánh giá cao khi so
sánh với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. DN tư nhân tại Việt Nam hiện nay vẫn chủ
yếu là các DN vừa và nhỏ, bất lợi cả về quy mô cũng như hiệu quả hoạt động so với
nhóm DN có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, khi TPP có hiệu lực, dòng vốn FDI được
kỳ vọng sẽ tăng mạnh, đi đôi với yêu cầu đối xử bình đằng giữa các loại hình DN, các
DN trong nước gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh ngay trên sân nhà.
B. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DƯỢC PHẨM
I.
Tình hình dược phẩm thế giới.
Hình thành và phát triển đầu tiên tại các quốc gia như : Thụy Sĩ, Ý, Đức,.. từ những
năm 20 của thế kỷ trước, đến nay, trải qua nhiều thập kỷ phát triển, môi trường sản
xuất và kinh doanh dược phẩm đã có nhiều chuyển biến rỗ rệt, các hoạt động mua
bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu đã khiến cho một số tập đoàn dược phẩm khổng lồ
thống trị thị trường dược thế giới đồng thời kiểm soát nền công nghiệp dược toàn
cầù.
Xu hướng ngành dược những năm gần đây trên toàn thế giới
là: tiểu đường, ung thư, hen suyễn hô hấp, kiểm soát mỡ máu, hệ miễn dịch. Các loại thuốc
điều trị các bệnh này đồng thời thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà sản xuất từ nay
cho đến năm 2017.
II. Thị trường dược phẩm Việt Nam
1. Tổng quan ngành dược Việt Nam
Theo IMS Health, Việt Nam thuộc 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển.
Phân loại này dựa trên tiêu chí chủ yếu là tổng giá trị thuốc tiêu thụ hàng năm, ngoài ra còn
có các tiêu chí khác như mức độ năng động, tiềm năng phát triển thị trường và khả năng
thay đổi để thích nghi với các biến đổi chính sách về quản lý ngành dược tại các quốc gia
này.
Thị trường dược phẩm Việt Nam có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á, khoảng 16%
hàng năm. Năm 2013 tổng giá trị tiêu thụ thuốc là 3,3 tỷ USD.
2. Vị thế ngành dược phẩm trong nền kinh tế Việt Nam.
Theo thống kê của BMI, ngành công nghiệp dược hiện nay chiếm 1,50% GDP. Doanh thu
của toàn ngành theo ước tính của Cục quản lý Dược liệu Bộ Y tế đạt 1,11 tỷ USD, chiếm
1,59% GDP, tăng 16,52% so với 2006. Tuy chỉ có quy mô nhỏ so với các ngành khác trong
nền kinh tế nhưng ngành dược là ngành luôn có tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian gần
đây, trung bình trong giai đoạn 2000-2007 là 15%.
III.
Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần dược Cửu Long.
CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM CỬU LONG
Địa chỉ: Số 150 Đường 14/9, Phường 5, tp. Vĩnh Long, Vĩnh Long
Điện thoại: 070 3822 533
Web: />Email:
1. Giới thiệu công ty.
a. Lịch sử công ty.
Với hơn 40 năm hoạt động trong lĩnh vực dược, thương hiệu Pharimexco - VPC của CTCP
Dược phẩm Cửu Long là cái tên thân quen, uy tín với người tiêu dùng, các nhà thuốc và các
b. Cơ cấu công ty.
c. Phân tích mô hình swot
S:Điểm mạnh
W:Điểm yếu
- Thương hiệu quen thuộc, uy tín với nhà
- Phụ thuộc vào công ty mẹ là CTCP
tiêu dùng.
đầu tư F.I.T
- nguồn nhân lực dồi dào kinh nghiệm.
- Máy móc hiện đại
- Tiềm lực tài chính mạnh
- Mạng lưới phân phối rộng rãi
O:Cơ hội
T:Thách thức
-Ngành dược hiên nay là ngành thiết yếu đối
- Mức độ cạnh tranh cao
với đời sống xã hội.
- Người tiêu dùng yêu cầu về chất
-Mức chi tiêu của người dân cho dược phẩm
lượng sản phẩm cao.
là rất lớn.
-Ngành dược được chính phủ cũng như toàn
thế giới quan tâm và tài trợ
2. Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Nhận xét:ROS ,ROA, ROE của DCL khá cao so với các công ty trong cùng ngành thể hiện
công ty kinh doanh hoạt động khá tốt.
C. ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
I. Xác định chi phí vốn bình quân – WACC công ty cổ phần dược Cửu Long (DCL)
Chi phí sử dụng vốn bình quân là chi phí sử dụng vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ
trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng. Nó là mức tỷ suất lợi nhuận mà nhà đầu tư yêu
cầu đối với khoản đầu tư vốn cổ phần trong công ty. Vốn của tài sản doanh nghiệp được tài
trợ dù bằng vốn cổ phần hay nợ thì chi phí sử dụng vốn bình quân là chi phí sử dụng vốn bình
quân các khoản tài trợ của doanh nghiệp. Bằng việc tính toán chỉ số chi phí sử dụng vốn bình
quân, chúng ta biết được doanh nghiệp phải tốn bao nhiêu chi phí cho mỗi đồng tiền tài trợ
cho doanh nghiệp.
Chi phí sử dụng vốn bình quân còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đoài hỏi tối thiểu mà doanh
nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định
mua lại doanh nghiệp khác. Chi phí sử dụng vốn bình quân được sử dụng như một tỷ lệ chiết
khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của
doanh nghiệp.
1. Xác định hệ số
a. Tính hệ số beta (β)
Hệ số là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một
chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường. Hệ số β là
một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn CAPM. β được tính toán dựa trên
phân tích hồi quy. Ta cũng có thể nghĩ về β giống như khuynh hướng và mức độ phản ứng của
chứng khoán đối với sự biến động của thị trường.
Xác định bằng phương pháp hồi quy: hồi quy tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu theo tỷ suất lợi
nhuận thị trường. Hệ số của phương trình tìm được sẽ là β của công ty.
Từ bảng giá đóng cửa của Vn-Index và DCL các ngày từ 26/4/2016–15/9/2016, ta tính đợc tỷ
suất lợi nhuận của cổ phiếu Vn Index và DCL, ta có bảng sau :
656.6
19.2
-0.47%
-4.95%
3
13/09/2016
659.7
20.2
-0.02%
-5.61%
4
12/9/2016
659.8
21.4
-1.06%
661.3
22.2
-0.39%
2.78%
8
6/9/2016
663.9
21.6
-0.09%
-1.82%
9
5/9/2016
664.5
22
-0.70%
672.7
22.3
0.49%
3.24%
13
29/08/2016
669.4
21.6
0.24%
-3.14%
14
26/08/2016
667.8
22.3
1.41%
659.2
23.5
0.23%
0.00%
18
22/08/2016
657.7
23.5
-0.69%
-4.08%
19
19/08/2016
662.3
24.5
0.26%
658.1
25.2
-0.21%
6.33%
23
15/08/2016
659.5
23.7
0.58%
3.49%
24
12/8/2016
655.7
22.9
-0.68%
637.3
21
1.24%
-0.94%
28
8/8/2016
629.5
21.2
0.33%
-5.36%
29
5/8/2016
627.4
22.4
-0.71%
636
21.1
-1.91%
-4.09%
33
1/8/2016
648.4
22
-0.58%
-3.93%
34
29/07/2016
652.2
22.9
-0.75%
648.6
23.3
-0.11%
0.87%
38
25/07/2016
649.3
23.1
-0.09%
4.52%
39
22/07/2016
649.9
22.1
-1.47%
19/07/2016
667.8
21.4
-0.85%
0.00%
43
18/07/2016
673.5
21.4
1.34%
0.00%
44
15/07/2016
664.6
21.4
12/7/2016
658.9
23.6
1.01%
3.06%
48
11/7/2016
652.3
22.9
-0.97%
2.69%
49
8/7/2016
658.7
22.3
5/7/2016
650.9
19
0.45%
1.06%
53
4/7/2016
648
18.8
1.20%
6.82%
54
1/7/2016
640.3
17.6
28/06/2016
622.2
16.2
0.14%
0.62%
58
27/06/2016
621.3
16.1
0.08%
-2.42%
59
24/06/2016
620.8
16.5
21/06/2016
628
16
0.24%
-0.62%
63
20/06/2016
626.5
16.1
1.18%
-1.83%
64
17/06/2016
619.2
16.4
14/06/2016
625.4
16.4
0.29%
2.50%
68
13/06/2016
623.6
16
-0.98%
0.00%
69
10/6/2016
629.8
16
7/6/2016
624.6
15.1
0.74%
0.67%
73
6/6/2016
620
15
-0.31%
-1.32%
74
3/6/2016
621.9
15.2
31/05/2016
618.4
15.1
0.63%
-2.58%
78
30/05/2016
614.5
15.5
1.05%
-0.64%
79
27/05/2016
608.1
15.6
24/05/2016
611.6
15.4
0.10%
-4.35%
83
23/05/2016
611
16.1
-0.62%
-1.23%
84
20/05/2016
614.8
16.3
17/05/2016
624.8
16.4
1.46%
2.50%
88
16/05/2016
615.8
16
0.82%
-0.62%
89
13/05/2016
610.8
16.1
92
10/5/2016
605
16.1
0.18%
0.00%
93
9/5/2016
603.9
16.1
-0.43%
0.00%
94
6/5/2016
606.5
97
29/04/2016
598.4
16.9
1.13%
0.00%
98
28/04/2016
591.7
16.9
-0.39%
-2.87%
99
27/04/2016
594
Dùng hàm slope trong excel ta tìm được β=1.06416
b. Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty thông qua hệ số β
Để đánh giá hoạt động hiệu quả của công ty thông qua hệ số beta cần tìm và . Bằng cách tính
trung bình lợi suất của Vn Index, ta tính được = 16,63%, tính trung bình lợi suất hàng năm
của trái phiếu chính phủ từ năm 2001-2014 ta được =8.25%
Năm
TPCP 1
năm (Rf)
Ngày
Chỉ số giá VNIndex
Rm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
31/12/2009
31/12/2010
30/12/2011
28/12/2012
31/12/2013
31/12/2014
206.8
235.4
183.3
166.9
239.3
307.5
751.8
927
315.6
494.8
484.7
351.6
377.8
504.6
545.60
8.25%
13.83%
-22.13%
-8.95%
43.38%
28.50%
thu nhập doanh nghiệp
Ta có bảng cơ cấu vốn của DCL (số liệu 12 quý gần nhất): ĐVT:trđ
STT
Thời gian
(1)
Tổng VCSH (2)
Tổng Nợ (3)
1
Quý
3/2012
237,769
462,159
2
Quý
4/2012
251,244
414,558
3
Quý
1/2013
253,581
394,501
4
Quý
2/2013
267,689
380,937
5
Quý
3/2013
318,221
232,881
12
Quý
2/2015
335,629
271,427
Ta có bảng lãi suất cho vay của 4 ngân hàng lớn sau:
Lãi suất cho vay của 4 ngân hàng lớn
Agribank
BIDV
Vietinbank
Vietcombank
10.0%
9.50%
10.0%
10.00%
Rd=Bình quân lãi suất cho vay của 4 ngân hàng== 9.88%
T=25%
Chi phí nợ vay sau thuế=Rd(1-T)=9.88%*(1-25%)=7.41%
Trong đó, tỉ lệ nợ, tỉ lệ vốn chủ sở hữu , lãi suất và bình quân được tính bởi công thức:
Bình quân vốn chủ sở hữu = =286,203 (trđ)
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu (We) = =45.5%
Bình quân nợ = =342,803(trđ)
Tỉ lệ nợ (Wd) = =54.5%