BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ PHI YẾN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ PHI YẾN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VN
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu ...................................................................................... 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 4
1.4 Kết cấu của đề tài ................................................................................................ 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY............................................................................................... 6
2.1 Một số khái niệm................................................................................................. 6
2.1.1 Rủi ro tín dụng ............................................................................................. 6
2.1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng ....................................................................... 6
2.1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng ........................................................................ 7
2.1.1.3 Đo lường rủi ro tín dụng ........................................................................ 8
2.1.2 Vốn chủ sở hữu ngân hàng ........................................................................... 9
2.1.2.1 Khái niệm vốn chủ sở hữu ngân hàng .................................................... 9
2.1.2.2 Vai trò của vốn chủ sở hữu ngân hàng ................................................... 9
2.2 Cơ sở lý thuyết .................................................................................................. 10
2.2.1 Lý thuyết đại diện ...................................................................................... 10
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng ............................................................... 12
2.2.3 Giả thuyết “Rủi ro đạo đức”....................................................................... 12
2.2.4 Giả thuyết “Đa dạng hóa danh mục cho vay” ............................................ 12
2.2.5 Giả thuyết “Quá lớn nên không thể phá sản” ............................................. 13
2.2.6 Giả thuyết “Quy mô ngân hàng” ................................................................ 13
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan......................................................... 13
2.3.1 Nghiên cứu trên thế giới ............................................................................ 13
2.3.2 Nghiên cứu trong nước .............................................................................. 26
2.4 Các yếu tố đặc trưng và yếu tố vĩ mô tác động đến rủi ro tín dụng ................... 29
2.4.1 Yếu tố vĩ mô .............................................................................................. 29
2.4.2 Yếu tố đặc trưng của ngân hàng ................................................................. 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................................ 34
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ................................ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
HĐQT
Hội đồng quản trị
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
RRTD
Rủi ro tín dụng
TCTD
Tổ chức tín dụng
nguồn từ vấn đề tín dụng tại Mỹ được cung cấp một cách dễ dàng cho các đối tượng có
nhu cầu mua bán bất động sản. Khi thị trường bất động sản như “bong bóng” bị vỡ,
hàng loạt các doanh nghiệp, người đi vay bị phá sản, các ngân hàng không thu hồi
được những khoản tín dụng cung cấp ra thị trường. Ngân hàng đứng trước rủi ro mất
khả năng thanh khoản, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt. Chính vì
điều này, rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng luôn được ưu tiên trong việc xử lý của
bất kỳ nền tài chính nào trên thế giới. Trên thực tế, có nhiều yếu tố tác động đến rủi ro
tín dụng của ngân hàng như quy mô ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dư nợ
cho vay trên tổng nguồn vốn huy động, các yếu tố vĩ mô như GDP, lạm phát, thất
nghiệp… Trong các yếu tố đó, nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng là một trong
những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Hiện nay, trên thị trường tài
chính VN, vấn đề nợ xấu ngân hàng luôn được đặt lên hàng đầu, bởi tỷ lệ nợ xấu ở VN
đang mức cao. Yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng nói riêng, mà
còn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Chính vì lẽ đó,
đề tài chọn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, bao gồm các yếu
tố đặc trưng của ngân hàng, yếu tố vĩ mô ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tín dụng
ngân hàng (thông qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng).
Từ khóa: Rủi ro tín dụng, nguồn vốn chủ sở hữu, yếu tố vĩ mô, yếu tố đặc trưng ngân
hàng, GLS
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Rủi ro tín dụng (RRTD) của hệ thống ngân hàng luôn là một vấn đề được quan tâm
hàng đầu của xã hội. Khi nền kinh tế phát triển, tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp
vốn cho các doanh nghiệp để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập và
việc làm cho người dân, đẩy mạnh tiêu dùng, kích cầu nền kinh tế. Lãi từ việc cấp tín
dụng chính là một nguồn thu nhập quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập
Bổ sung vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng VCSH 2.5%.
Theo Hiệp ước Basel III, tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu vẫn ở mức 8% nhưng kết cấu
vốn có sự thay đổi đáng kể, theo hướng tăng tỷ trọng VCSH trong vốn cấp 1. Cụ thể, tỷ
lệ VCSH được điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) lên thành 9.5% (Basel III).
Biểu đồ 1-1: Vốn chủ sở hữu của các NHTMVN giai đoạn 2006-2016
ĐVT: Triệu đồng
(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo tài chính của các NHTM)
4
Ngoài ra, theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014, tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu từng TCTD phải duy trì là 9%, bao gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất. Có thể thấy rằng, qua các quy định mới tại Hiệp ước
Basel III và quy định của NHNN VN, VSCH ngân hàng đóng một vai trò quan trọng
trong việc phòng ngừa RRTD nói riêng và rủi ro hoạt động của ngân hàng nói chung.
Với các NHTM VN hiện nay, vấn đề về RRTD ngày càng được chú trọng, đặc biệt là
công tác phòng ngừa rủi ro. VSCH là một trong những kênh có tác động đến việc hạn
chế RRTD. Trong những năm qua, các ngân hàng không ngừng nỗ lực trong việc tăng
VCSH, điều này được thể hiện qua Biểu đồ 1-1.
Chính vì tầm quan trọng trong việc phòng ngừa, xử lý RRTD như hiện nay, đề tài
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của hệ thống ngân hàng, đánh giá tác
động của VCSH, yếu tố đặc trưng của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đến RRTD.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố bao gồm một số nhân tố đặc trưng
của ngân hàng, nhân tố vĩ mô ảnh hưởng như thế nào đến RRTD của ngân hàng.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu của đề tài nhằm mục tiêu trả lời câu hỏi sau:
6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Rủi ro tín dụng
2.1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo nghiên cứu của Coyle (2000) định nghĩa rằng, RRTD là khả năng người đi vay
không thể chi trả đầy đủ các khoản nợ đúng hạn. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối
diện khi người đi vay không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình.
Theo Jorion (2009), RRTD là những tổn thất có thể phát sinh do bên đối tác không
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như trong hợp đồng được ký kết giữa các bên. Cách đo
lường RRTD được tính dựa trên chi phí bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên
đối tác phá sản.
Ủy ban Basel (2001) cho rằng, RRTD là khả năng không thể thu hồi được các khoản
nợ một phần hoặc toàn bộ, nguyên nhân là do rủi ro hoặc các vấn đề của khoản nợ gây
ra. Còn theo định nghĩa Ủy ban Basel (1999) thì RRTD là khả năng người đi vay
không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Đối với Heefferman
(1996) nhận xét rằng, RRTD là rủi ro mà một tài sản hoặc một khoản vay không thể
thu hồi được do người đi vay không trả nợ đúng hạn, hoặc do sự chậm trễ trong việc trả
nợ. Chính điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Theo Khoản 1 Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì “RRTD trong hoạt động
ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một
phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, RRTD là những rủi ro mà ngân hàng phải đối diện nếu như người đi vay
không thực hiện được các nghĩa vụ của mình, trả nợ không đúng hạn, không trả được
7
-
Nợ gia hạn nợ lần đầu;
chuẩn)
-
Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý)
đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
-
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
-
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới
90 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại;
-
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai;
-
Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã
quá hạn thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa
thu hồi được.
(Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN)
Cũng theo quy định của NHNN, giá trị trích lập dự phòng RRTD là “số tiền được trích
lập và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Hiện nay, dự
phòng RRTD bao gồm:
Dự phòng RRTD cụ thể (Khoản 2 Điều 12 Mục 2 Thông tư 02/2013/TTNHNN): Dự phòng được trích lập cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng
nhóm nợ cụ thể như, nhóm 1 (0%), nhóm 2 (5%), nhóm 3 (20%), nhóm 4
(50%), nhóm 5 (100%).
Dự phòng RRTD chung (Khoản 1 Điều 13 Mục 2 Thông tư 02/2013/TTNHNN): Trích lập cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được
khi trích lập dự phòng. Số tiền dự phòng chung là 0.75% tổng số dư các khoản
nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
2.1.1.3 Đo lường rủi ro tín dụng
RRTD có thể được đo lường thông qua các chỉ tiêu như:
Tỷ lệ dư nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng (Said and Tumin,
2011);
Tỷ lệ dự phòng RRTD với tổng tài sản ngân hàng (Laeven and Majnoni, 2002);
Tỷ lệ DPRR năm t so với dư nợ cho vay năm t-1 (Foos và cộng sự, 2010; Hess
và cộng sự, 2009).
9
Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ (Tehulu and Olana, 2014).
2.1.2 Vốn chủ sở hữu ngân hàng
2.1.2.1 Khái niệm vốn chủ sở hữu ngân hàng
Năm 1988, Ủy ban Basel giới thiệu Hiệp ước Basel I xác định các tiêu chuẩn về vốn để
hạn chế rủi ro và tăng cường hệ thống tài chính. Đến tháng 06/2004, Hiệp ước Basel II
được ban hành để phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng. Basel II
giới thiệu khái niệm “ba trụ cột” gồm: yêu cầu vốn tối thiểu, rà soát giám sát, nguyên
tắc thị trường. Đối với trụ cột 1, vốn pháp định được tính toán cho ba thành phần rủi ro
mà ngân hàng đối mặt: rủi ro thị trường, RRTD và rủi ro vận hành. Tỷ lệ vốn tối thiểu
được yêu cầu là 8%. Tỷ lệ này chính là mối quan hệ giữa vốn của ngân hàng và tài sản
được điều chỉnh theo trọng số rủi ro (giá trị tài sản nhân với trọng số đại diện cho
RRTD liên quan đến tài sản này).
Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN của NHNN VN thì “Các TCTD phải duy trì tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản Có rủi ro của TCTD (tỷ lệ
an toàn vốn riêng lẻ)”2.
2.2 Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết đại diện
Đối với yếu tố nguồn VCSH, dựa trên cách tính VCSH trên tổng tài sản thì yếu tố này
tác động cùng chiều đến RRTD (Ayaydin and Karakaya, 2014). Điều này có ý nghĩa là
khi RRTD tăng, các ngân hàng sẽ tăng VCSH lên một cách tương đồng hợp lý. Có
nhiều nghiên cứu cho kết quả về mối quan hệ đồng biến giữa hai yếu tố nguồn VCSH
và RRTD, như nghiên cứu của Shrieves và Dahl (1992), Iannotta và cộng sự (2007).
2
Điều 4 Mục 1 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
11
Lee và Hsieh (2013) nghiên cứu về dữ liệu của 2,276 ngân hàng ở 42 quốc gia Châu Á,
kết quả nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và RRTD, tương tự
kết quả của Altunbas và cộng sự (2007). Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho kết quả
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Hiện tượng bất cân xứng thông tin xảy ra khi các bên tham gia giao dịch không có
thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời do một bên cố ý che giấu thông tin. Hậu quả của
bất cân xứng thông tin dẫn đến tình trạng một bên có lợi và một bên bị thiệt hại do
thiếu nguồn thông tin trên thị trường. Trong thị trường tài chính cũng tương tự, ngân
hàng với quy mô vốn lớn, có đủ điều kiện để tiếp cận thông tin kịp thời, chính xác, có
khuynh hướng tham gia vào các hoạt động mà RRTD đã được lường trước, hạn chế
được RRTD trong tương lai do nguồn thông tin mang lại (Altunbas và cộng sự, 2007).
2.2.3 Giả thuyết “Rủi ro đạo đức”
Giả thuyết “Rủi ro đạo đức” cho thấy mối liên quan giữa đòn bẩy và rủi ro của ngân
hàng rất cao. VCSH của ngân hàng thấp sẽ làm tăng RRTD (Altunbas và cộng sự,
2007). Vấn đề đại diện giữa người quản lý và người sở hữu cũng có mối quan hệ gần
với giả thuyết “rủi ro đạo đức” này. Nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997) về mối
quan hệ giữa chất lượng tín dụng, hiệu quả chi phí và nguồn vốn ngân hàng trong các
ngân hàng thương mại Mỹ giai đoạn từ 1985 – 1994 cũng có kết quả tương tự như giả
thuyết “rủi ro đạo đức”. Ngân hàng với mức vốn hóa thấp dẫn đến tình trạng gia tăng
nợ xấu. Mối quan hệ này là do các nhà quản lý muốn tăng rủi ro cho danh mục tín dụng
khi nguồn VCSH của ngân hàng lúc này đang thấp.
2.2.4 Giả thuyết “Đa dạng hóa danh mục cho vay”
Với giả thuyết này, mối quan hệ ngược chiều được kỳ vọng giữa đa dạng hóa danh
mục cho vay tỷ lệ nợ xấu ngân hàng. Các ngân hàng với nguồn VCSH cao sẽ có nhiều
13
cơ hội để đa dạng hóa danh mục cho vay của mình, từ đó giảm thiểu được RRTD
(Salas and Saurina, 2002; Mohamed Moussa, 2015; Tehulu and Olana, 2014).
2.2.5 Giả thuyết “Quá lớn nên không thể phá sản”
Giả thuyết này cho rằng, các ngân hàng có quy mô lớn thường chấp nhận rủi ro để
tham gia vào các hoạt động cho vay mang tính rủi ro cao, tiềm ẩn nợ xấu trong tương
Giả thuyết này đã được kiểm chứng qua nghiên cứu của William R. Keeton and
Charles Morris (1987). Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 2,470 NHTM được bảo
hiểm ở bang Tenth District và được giới hạn ở thị trường địa phương này trong giai
đoạn từ năm 1979 đến năm 1985. Thị trường địa phương được xem xét trong bài
nghiên cứu là Metropolitan Statistical Areas (MSA’s) và những vùng còn lại không
phải là MSA’s. Vùng MSA’s bao gồm Standard Metropolitan Statiscal Areas sau này
được phân lại thành Consolidated Metropolitan Statistical Areas vào ngày 30/06/1983.
Dữ liệu về các khoản nợ xấu của ngân hàng được chia thành bốn lĩnh vực, gồm các
khoản nợ vay của thị trường nông nghiệp, cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản,
thương mại và công nghiệp cùng các khoản cho vay khác. Bài nghiên cứu chỉ ra kết
quả rằng, các nhà quản lý của ngân hàng mà quan ngại về việc phòng tránh rủi ro, do
đó họ sẽ không thích các khoản vay có RRTD cao. Trong khi đó, nhiều ngân hàng khác
sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có lợi nhuận cao hơn. Do đó, trong điều kiện không đổi,
những ngân hàng với tỷ lệ VCSH cao sẽ ít sẵn sàng cho các khoản vay có độ rủi ro cao.
Những ngân hàng mà có tỷ lệ vốn thấp, động cơ của họ sẽ phản ứng theo rủi ro đạo đức
là tăng các khoản vay có độ rủi ro cao trong danh mục cho vay, điều này dẫn đến tỷ lệ
nợ xấu tăng cao trong tương lai. Nghiên cứu chỉ ra mối tương quan nghịch biến, tỷ lệ
nợ xấu càng cao thì tỷ lệ VCSH thấp.
Nghiên cứu của Ahlem Selma Messai and Fathi Jouini (năm 2013) dựa trên quan sát
của 85 ngân hàng ở ba quốc gia (Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) trong vòng năm năm từ
2004-2008. Việc lựa chọn ba quốc gia này không phải là ngẫu nhiên, bởi vì, đây là ba
quốc gia đại diện cho những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng của cuộc khủng hoảng tài
15
chính năm 2008 và tài chính công trở nên tồi tệ hơn. Biến phụ thuộc tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ trong bài nghiên cứu được giải thích bởi ba biến vĩ mô (GDP, tỷ lệ thất
nghiệp, lãi suất thực) và ba biến đặc trưng của ngân hàng (ROA, tỷ lệ dự phòng rủi ro,
tỷ lệ tăng trưởng tín dụng). Phương pháp được lựa chọn trong bài nghiên cứu là
16
sự thay đổi trong tỷ lệ tăng trưởng tín dụng không có ý nghĩa thống kê với nợ xấu của
ngân hàng.
Nghiên cứu cũng còn một vài hạn chế như tác giả không sử dụng các biến vĩ mô khác
(tỷ giá hối đoái thực, lạm phát…) và biến đặc trưng của ngân hàng (quy mô, tính thanh
khoản…). Bài nghiên cứu này có thể mở rộng bằng cách chia nợ xấu của ngân hàng
theo những cách phân loại nợ khác nhau (như nghiên cứu của Louzis và cộng sự,
2010).
Bên cạnh yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, các yếu tố nội tại của ngân hàng cũng tác động
đến RRTD. Các biến vĩ mô đóng vai trò là biến kiểm soát (như nghiên cứu của Berger
and DeYoung 1997, Jimenez and Saurina 2006). Như trường hợp nghiên cứu của các
ngân hàng tại Tây Ban Nha, Salas và Saurina (2002) chỉ ra rằng, tăng trưởng tín dụng,
tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ VCSH, quy mô ngân hàng là các biến độc lập giải thích sự
biến động của nợ xấu.
Nghiên cứu của Dimitrios P. Louzis, Angelos T. Vouldis and Vasilios L. Metaxas
(2010) dựa trên thị trường tài chính của Hy Lạp. Dữ liệu nghiên cứu của bài theo dạng
dữ liệu bảng của 9 ngân hàng lớn nhất Hy Lạp (chiếm khoảng 90% thị phần ngân hàng
tại Hy Lạp)4 trong giai đoạn từ quý 1 năm 2003 đến quý 3 năm 2009. Nghiên cứu cũng
phân loại danh mục cho vay của các ngân hàng trên thành ba danh mục chính, gồm vay
thế chấp, kinh doanh và cho vay tiêu dùng. Nghiên cứu lý thuyết chỉ ra mối tương quan
giữa các yếu tố vĩ mô và RRTD liên quan đến lý thuyết về vòng đời doanh nghiệp. Ở
giai đoạn phát triển của nền kinh tế, tỷ lệ nợ xấu đạt mức thấp bởi vì cả người tiêu dùng
lẫn doanh nghiệp đều có đủ nguồn doanh thu bù đắp cho các khoản vay của mình. Đến
giai đoạn bùng nổ, tín dụng ngân hàng lúc này dễ dàng cấp cho mọi đối tượng, trong đó
4
Macroeconomic and Bank-Specific determinants of non-performing loans in Greece (Louzis, 2010)