Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 1
The Electronic Journal of Sociology (2003)
ISSN: 1198 3655
Hành vi duy lý của con người
và sự duy lý mang tính kinh tế
Milan Zafirovski
University of North Texas
[email protected]
Tóm tắt
Một phương trình về hành vi duy lý của con người theo thuyết
công cụ, đặc biệt là về mặt kinh tế, tính duy lý đại diện cho một chuẩn
mực trong phương pháp tiếp cận chọn lựa mang tính kinh tế hay mang
tính duy lý. Thời gian gần đây, người ta ngầm hiểu việc làm rõ và mở
rộng quan niệm nội tại về hành vi duy lý cũng như sự duy lý kinh tế của
kinh tế học chính thống. Quan niệm chính thống định nghĩa tính duy lý
kinh tế bằng cách tối ưu hóa những mục tiêu theo chủ nghĩa duy vật cá
biệt, cụ thể như lợi nhuận của nhà sản xuất và tính thỏa dụng của người
tiêu dùng. Phương pháp chọn lựa duy lý ứng dụng quan điểm này rất rõ
ràng vào tất cả các hành vi duy lý và hành vi của con người, do vậy sự
duy lý kinh tế được hiểu vốn đã tự tồn tại trong chính bản thân nó. Bài
báo này tranh luận về hành vi duy lý của cá nhân so với tính thỏa dụng –
và tối ưu hóa lợi nhuận cố định, do đó không thể tự động giảm sự duy lý
kinh tế. Tranh luận quan trọng nhất là hành vi không chỉ duy lý trên nền
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 2
vào những mục tiêu, lý do hay những ý nghĩa cụ thể, chúng có thể được
hiểu theo lý lẽ của Verstehen hoặc sự thấu cảm, dù không cần thiết phải
tán thành hay đồng cảm với nó. Nói một cách tổng quát nhất, những hành
vi duy lý được quyết định bởi mức độ tương quan chặt nhất định giữa ý
nghĩa chủ quan hay lý do có ý nghĩa của người tham gia và mục đích
khách quan đặc trưng bởi những người tham gia khác hay của những
người quan sát. Theo ý định của WEber, điều này hàm ý tính tương
đương trong sự xác định rõ hành động có chủ định trước hay có chủ định
sau giữa người tham gia và môi trường xã hội, mà không loại trừ những
điểm không kết hợp khác nhau giữa các hành động duy lý khách quan bởi
những lý do hợp lý và duy lý chủ quan hiệu chỉnh bởi những mục đích đã
được tính toán hay đã được chứng minh. Nói tóm lại, hành vi duy lý được
nhận thức hay được trải nghiệm bởi những người tham gia không nhất
thiết là những gì được quan sát hay được đặc trưng bởi các đối tác khác,
và ngược lại (Boudon 1982; Simon 1982)
Do vậy, hành vi xã hội thiếu những đặc điểm như thế, ví dụ như sự
kết hợp logic giữa mục đích và ý nghĩa, sẽ chứng tỏ sự phi duy lý hay bất
hợp lý, dù không nhất thiết là phi duy lý, vấn đề chỉ là bất cứ phẩm hạnh
nào của con người, duy lý hay không cũng vẫn thể hiện sự phi luân lý mà
không hẳn là trái đạo lý. Trong tác phẩm của Pareto “varnish of logic”,
phạm vi ảnh hưởng của hành vi phi duy lý như thế không bị ảnh hưởng
bởi khuynh hướng của con người đối với những lý do hay các nhân tố cơ
bản được quan sát khách quan hay quan sát bên ngoài những hành động
phi duy lý/không thể chấp nhận được, mà chúng dùng để tìm ra nguồn
gốc hay sự giải thích duy lý, bao gồm sự nghiên cứu về tư tưởng các
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 4
thành viên trong xã hội, để làm cho những hành vi như thế lại hiện ra
xác định mục đích hay ý nghĩa của hành vi duy lý đó. Chúng có thể là
kinh tế/phi kinh tế, công cụ/phi công cụ, vị kỷ/vị tha, cá nhân/xã hội và
v.v… Những quan niệm về hành động duy lý không mô tả thuyết mục
đích cơ bản, điển hình như các đặc điểm về mục đích hay mục tiêu theo
đuổi. Dù chúng là gì đi nữa thì điều kiện tiên quyết cơ bản cho hành động
duy lý là phải tồn tại sự kết hợp vốn có giữa mục tiêu và ý nghĩa, nếu sự
kết hợp này được nhận thức bởi người hành động (chính mình)/những
người khác (bạn chí cốt). Điều này trái ngược với khuynh hướng gây hiếu
kỳ về lý thuyết hành vi duy lý trong việc xác định rõ những mục đích này
là kinh tế tiên nghiệm, công cụ, vị kỷ và cá nhân, chẳng hạn như độ thỏa
dụng, lợi nhuận, tối ưu hóa sự giàu có, tìm kiếm vị lợi, tối thiểu hóa chi
phí, tính toán chi phí - lợi ích, và những thứ tương tự thế, do đó quy tất cả
những điều này thành 1 lớp riêng. Những giả thuyết cơ bản về phương
thức này có nghĩa là chỉ các mục đích, các hành động tương ứng và
những chọn lựa như thế là duy lý và phi duy lý hay bất hợp lý khác.
Nhắc lại thuyết vị lợi xa xưa, lý thuyết chọn lựa duy lý hiện thời
trong xã hội học và kinh tế học định nghĩa hành vi duy lý là sự duy lý vốn
có trong thuật ngữ công cụ, cũng như hành vi duy lý về mặt kinh tế hay
tính toán vị lợi. Gộp tất cả các mục đích, lý do và động cơ hành động
thành công cụ, vị kỷ hay chủ nghĩa khoái lạc, ví dụ, theo đuổi mức thỏa
dụng, lợi ích cá nhân hay sự thỏa mãn, và tránh việc không thỏa dụng hay
phải chịu đựng khó khăn để làm điều này. Do đó, một hình thức đặc biệt
về tính duy lý - như công cụ, vị lợi, vị kỷ hay sự khoái lạc - được đúc kết
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 6
với hành vi duy lý một cách toàn diện. Về mặt nhận thức, phương thức
này dựa vào giả thiết “vị kỷ duy lý” (Hechter và Kanazawa 1997) và dẫn
đến thuyết vị lợi hay chủ nghĩa đế quốc kinh tế thông qua việc mở rộng
chối bỏ sự hòa trộn vấn đề trước đó thành vấn đề sau cùng được thực
hiện bởi lý thuyết chọn lựa duy lý hiện thời, với việc nhấn mạnh quá mức
quan niệm cứng nhắc và giới hạn (Boudon 1996) về hành vi duy lý được
vay mượn từ kinh tế học tân cổ điển và sau đó được mở rộng một cách
bừa bãi.
Tựu chung lại, lý thyết chọn lựa hành vi duy lý xã hội học (Kiser
and Hechter 1998; Hechter and Kanazawa, 1997) hoặc lý thuyết hành
động duy lý về xã hội học thực hiện không hơn kiểu “đưa chuyên đề tân
cổ điển hạn hẹp để trình diễn trong những lĩnh vực khác (Ackerman
1997:662). Trong khi phát triển đến một mức độ độc lập về kinh tế học,
lý thuyết chọn lựa duy lý về xã hội học đã trở thành “thí dụ nổi bật nhất
về việc sử dụng kinh tế học để suy luận trong xã hội học” (Kalleberg
1995). Nói ngược lại, mô hình chọn lựa duy lý bác bỏ hầu hết các giả
thiết xã hội học truyền thống và dường như mâu thuẫn với lý thuyết xã
hội học cổ điển, bao gồm cả lý thuyết Weber.
Thí dụ như lý thuyết chọn lựa duy lý của Coleman được thừa nhận
“dựa trên sự tổng quát hóa lý thuyết cân bằng kinh tế học thông thường”
(Fararo 2001:272). Theo lẽ này, lý thuyết chọn lựa duy lý có vẻ được
thừa nhận như ăn theo (Coleman 1986; Elster 1989; Fararo 2001) mặc dù
vài tiêu chuẩn và khoảng cách gần đây (Coleman 1994; Goldthorpe, 1998;
Hechter and Kanazawa, 1997) liên quan đến “quan hệ tân cổ điển” (Kiser
and Hechter 1998) hơn là luận thuyết hợp trội tự trị hay chương trình
nghiên cứu mới (Abell 2000; Kiser and Hechter 1991). Phương thức hòa
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 8
trộn liên quan đến những gì được xác định là sai lầm về tính trừu trượng
hay tính mập mờ đặt không đúng chỗ với toàn bộ tính chất phổ quát, bởi
vì nó cân bằng yếu tố cấu thành không thỏa đáng, cụ thể là tính duy lý
lý trong việc định nghĩa hành động xã hội duy lý là tối đa hóa vài hàm
thỏa dụng(Margolis 1982:16). Sự thừa nhận cơ bản về phương pháp tiếp
cận kinh tế đối với hành vi con người hoặc lý thuyết chọn lựa duy lý công
cụ mà các người tham gia là những người tối đa hóa độ thỏa dụng duy lý
trong hành vi kinh tế cũng như hành vi xã hội của họ, ví dụ, trong tất cả
các khả năng thuộc về hành vi được cư xử bắt nguồn từ bối cảnh thực tế
hoặc có ý nghĩa triết học (Buchanan). Hầu như không thể minh chứng
thỏa đáng bằng thực nghiệm (Lea 1994:71-5).
Ví dụ, với sự tuân thủ theo chuẩn mực xã hội, lý thuyết chọn lựa
duy lý hẹp cho rằng quy trình này là nền tảng trong việc tính toán lợi
ích – chi phí phù hợp bởi những người ích kỷ duy lý (Hechter 1990). Trái
lại, phiên bản mở rộng về vấn đề này yêu cầu thiết lập các nhân tố khác
nhau hay các khả năng khác nhau rõ ràng của những công cụ hợp lý. Về
phương diện chuẩn mực xã hội không vụ lợi thuần khiết thường là động
lực chính cho một quy chuẩn phù hợp, trong việc kết hợp với uy tín mà
nó tạo ra, không phân biệt lợi nhuận trực tiếp với hành vi này (Bourdieu
1988:19-22). Những người tham gia không tuân theo chuẩn mực xã hội
vì sự cân nhắc về kinh tế hay công cụ, và cũng vì cân nhắc phi công cụ,
được diễn đạt trong sự chủ quan của các chuẩn mực cũng như là một quy
trình tự trị không lệ thuộc vào sự tính toán giữa chi phí – lợi nhuận.
Những sự cân nhắc về công cụ như thế có tầm quan trọng thứ cấp, vì
không có độ thỏa dụng hay sự tăng cường ngoại lai nào khác được tối đa
hóa bằng những quyết định phi duy lý hay phi công cụ liên quan đến việc
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 10
xem xét quy luật và giá trị chủ quan (Kreps 1997). Tóm lại, hành động xã
hội được hành xử theo hướng dẫn bởi tính duy lý kinh tế cũng như các
cân nhắc thỏa đáng hơn là bởi các vấn đề trước đó, và với vấn đề đó,
khác biệt của hành vi duy lý mà không được quy vào loại đầu tiên. Vì
hình thức này cho trước sự tồn tại của các tác nhân xã hội và lịch sử của
các thông tin về giá trị, trong giá trị phân tích về xã hội học không thể
xem xét một cách thỏa đáng như độ thỏa dụng được phân theo thứ tự
(Willer 1992:57-59). Việc quy tụ chọn lựa thông thường của hành động
chính trị sang hành động kinh tế như quyền lực sang sự giàu có, nền dân
chủ sang cạnh tranh thị trường, quá trình bầu cử sang chu kỳ kinh doanh
và những thứ khác đều không thể chấp nhận giống nhau được. Vì liên
quan đến sự mâu thuẫn hay sự ép buộc, trái ngược với quan hệ kinh tế
trong kinh tế thị trường chẳng hạn như sự chủ động có thể đoán được,
quyền lực và những mối quan hệ về chính trị khác đi đôi với mức độ
hành động trong lĩnh vực lý thuyết xã hội riêng biệt, do đó nó không
được quy về cấp lý thuyết chọn lựa duy lý (Munch 1992:139-41). Việc
không thể quy quyền lực chính trị sang của cải hay quyền lực kinh tế ít
nhất được chứng minh là hợp lý bởi sự thật rằng, trong tác phẩm của
Parson, vấn đề trước đó đã được phân cấp và định tính, vấn đề sau đó là
tuyến tính và định lượng. Thậm chí một số nhà lý luận duy lý thừa nhận
rằng quyền lực thị trường và sự giàu có khác biệt với quyền lực chính trị,
mặc dù vấn đề sau đó có thể đạt được bởi những vấn đề trước đó không
kể đến những yếu tố khác (Coleman 1986:281-3).
Đây chính xác là những gì mà hầu hết những nhà kinh tế học
đương thời và những nhà lý luận chọn lựa duy lý có thiên hướng thực
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 12
hiện bằng cách hòa trộn tất cả các hành động xã hội, các giá trị, các mục
tiêu thành những loại công cụ. Phương pháp tiếp cận này được đặc trưng
bởi việc quy lựa chọn duy lý điển hình của tính vị tha và hành động duy
lý có giá trị thành dạng nghịch đảo của tính vị kỷ và hành động duy lý
giữa hành động duy lý - giá trị xuất phát từ lợi ích duy tâm như tôn giáo,
chính trị, giá trị đạo đức hay ý thức và hành động được tạo ra bởi xúc
cảm dễ thay đổi, cũng như hành động logic và không logic của Pareto
được gây ra bởi sự thặng dư tương ứng. Điều này có giá trị đúng trong sự
phân biệt giữa hành động duy lý – giá trị và hành động xã hội duy lý –
công cụ được thấy lần lượt như được thúc đẩy bởi các lợi ích về vật chất.
Do đó, những lợi ích này không có nghĩa là nghiên cứu mọi mặt các nhân
tố chủ chốt của hành động xã hội duy lý, bao gồm các mô hình kinh tế
của nó. Điều này hàm ý rằng tính duy lý về kinh tế và hệ thống kinh tế đi
ngược lại với sự tự tham chiếu đối với hành vi duy lý và toàn bộ hệ thống
xã hội. Những sự lựa chọn về kinh tế và công cụ chỉ là tập con của hành
vi duy lý mà cũng có thể là sự chọn lựa phi kinh tế hay phi công cụ.
Không phải tất cả các hành động duy lý xã hội được quy về hành động
hay các nguyên lý kinh tế, như Weber đã tranh luậnh kinh điển. Sự quy tụ
này được nhìn nhận một cách nghi ngờ không chỉ bởi các nhà xã hội học
cổ điển mà còn các nhà kinh tế học đương thời và nhà kinh tế học tân cổ
điển chống lại thuyết vị lợi từ Mill, Jevons, Walras đến Pareto và
Marshall đến Schumpeter và Keneys ngoại trừ Spencer. Tuy nhiên, sự
quy tụ này được thực hiện điển hình theo phương pháp tiếp cận chọn lựa
duy lý hoặc kinh tế đối với hành vi con người. Thảo luận trước đó chỉ ra
tính xác thực và tính nổi bật của đa số tính duy lý trong hành vi xã hội
của con người theo ánh sáng của vô số mục đích hoặc thuyết mục đích,
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 14
không chỉ là kinh tế - công cụ vững chắc, và với vấn đề đó, hành vi duy
lý xác nhận vượt quá mục đích duy nhất như tính thỏa dụng, được giả
định bởi lý thuyết chọn lựa duy lý. Bảng 1 tổng quát lại nhiều hình thức
của hành vi duy lý liên quan đến sự phức tạp của thuyết mục đích trong
duy lý về mặt thói quen và thể chế (Hodgson 1998) được thừa nhận là
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 16
chính thống về phương pháp luận cũng như đạo lý duy lý khắt khe, điển
hình là “tính toán hành vi tối đa hóa độ thỏa dụng tổng quát” (Stigler và
Becker 1977). Quan trọng hơn là những mô hình hợp nhất phi duy lý về
hành động xã hội lúc nào cũng không hợp pháp về mặt bản thể hay về
mặt thực nghiệm lại có vẻ giống như mô hình hợp nhất duy lý. Hơn thế
nữa, mô hình hợp nhất phi duy lý của hành vi con người khôn ngoan
trong sự cân bằng duy lý về tính đúng đắn của bản thể học hoặc liên quan
đến thực nghiệm như xã hội, thậm chí bao gồm kinh tế, đời sống là duy
lý thuộc bản thể học – được thừa nhận bởi những nhà kinh tế học tân cổ
điển (Schumpeter 1991: 337). Chí ít cũng được thừa nhận trong thuật ngữ
của Pareto, có thể phi logic hoặc bán duy lý (Thaler 1994).
Thiết lập sự đúng đắn về nhận thức luận và bản thể luận, các mô
hình phi duy lý hợp nhất về hành vi con người có thể được phân loại tống
quát thành các nhóm sau. Một nhóm bao gồm các mô hình hợp nhất về
hành vi giá trị tăng thêm. Ví dụ một trường hợp cụ thể như quan niệm
của Weber về hành động giá trị duy lý – như duy lý về kinh tế và phi duy
lý về kinh tế - được tạo ra bởi nguyên lý các mục đích thuần túy, đơn cử
như loại quan niệm về doanh nghiệp tư bản Protestant, sau đó là tôn giáo
đương thời của Pareto (Schumpeter 1991:336),… Nhóm khác liên quan
đến các mô hình hợp nhất của những gì mà Weber gọi là “hành vi quy tắc
- tự trị”. Ví dụ các mô hình về “phương diện quy tắc thống trị” (Hayek
1991:368) của hành vi con người là các quan niệm của Weber về hành
động truyền thống, quan niệm của Veblen về phẩm chất thói quen hay
theo phong tục, cũng như quan niệm của Dukheim về tư chất đạo đức và
những thứ tương tự như vậy. Các hành vi phi duy lý hợp nhất là những
chất lịch sử hợp nhất của hành vi con người cũng được xem là loại riêng
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 18
biệt theo nghĩa trên. Những mô hình này được dựa trên quan niệm của
Durkhiem – Weber – Parsons về thể chế động lực, sở thích và chủ nghĩa
cá nhân, quan niệm của Veblen đem lại cuộc cách mạng về thể chế dựa
trên hành vi cá nhân, quan niệm của trường phái cổ điển về sự xác định
văn hóa xã hội của các hoạt động kinh tế,…
Trái với những minh chứng của nhà lý luận lựa chọn hành vi,
nghiên cứu trước đó cho thấy rằng không lý do có căn cứ về nhận thức
hoặc phương pháp luận và về bản thể hay thực nghiệm lý luận tại sao mô
hình về hành vi con người hợp nhất chỉ nên là loại duy lý. Các mô hình
hợp nhất phi duy lý tồn tại hay được xây dựng theo trạng thái tương tự
như tính cân bằng duy lý. Về mặt nhận thức, cả hai loại mô hình hợp nhất
đều hợp lý như nhau để xây dựng – không có tranh luận gì về phương
pháp luận đúng đắn được viện dẫn cho các mô hình chỉ có duy lý và
ngược lại là mô hình phi duy lý. Ở điểm này, sự dẫn chứng của nhà lý
luận chọn lựa duy lý về “nguyên lý lòng khoan dung” của tính duy lý
được cho là đúng đắn – những người tham gia có duy lý” – không đúng
đắn hơn việc chuyển nguyên lý đó thành cái để chỉ dẫn theo hình thức giả
định tính phi duy lý mà “đời sống là phi duy lý” hay ít nhất là bán duy lý.
Tóm lại, để chứng minh chọn lựa duy lý chỉ là mô hình hợp nhất có sẵn
hay tối ưu về hanh vi con người là không hợp lý về phương pháp luận.
Về mặt bản thể học, mô hình hợp nhất duy lý và phi duy lý của hành vi
con người chính đáng đối với phạm vi mà chúng có mức độ thích hợp về
giá trị thực nghiệm. Do đó, nếu các mô hình phi duy lý hợp nhất thực
hiện thích hợp với những phương diện liên quan đến tính xác thực của
hành động xã hội, chúng vừa có mô hình chính thống cũng như duy lý về
bủn xỉn. Do đó, về mặt lý thuyết đa nguyên được ưa thích hơn thuyết
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 20
nhất nguyên cho trước về tính phức tạp và tính vô tỷ của thế giới thực
(Arrow 1997:765). Phần tiếp theo kiểm tra lại lựa chọn duy lý là mô hình
hợp nhất.
III. Có phải chọn lựa duy lý thực sự là mô hình hợp nhất?
Giữa sự hà tiện/sự đơn giản hóa và chủ nghĩa hiện thực/ ad-hocism
Lựa chọn duy lý không chỉ chứng minh đó là mô hình hành động
hợp nhất tốt nhất bị đặt nghi vấn mà còn chứng minh mô hình là hợp nhất
như sự gắn kết chặt chẽ nội hàm. Được đề cập trước đó, sự biện minh
chọn lựa duy lý chuẩn mực của mô hình hợp nhất về hành vi xã hội mà
con người giải quyết “những người tham gia như nhau” liệu có phân tích
hành động trong lĩnh vực kinh tế thị trường hoặc trong phạm vi phi kinh
tế. Ngoài ra, lựa chọn duy lý cung cấp mô hình đơn như thế dựa trên nền
tảng giả định về hành vi duy lý phổ quát đáng tin cậy trong thực tiễn,
bằng cách ứng dụng nguyên tắc khoan dung duy lý về việc làm sáng tỏ
hành vi xã hội. Tuy nhiên, chọn lựa duy lý khi kiểm tra cho thấy quá trình
nghịch lý mâu thuẫn trực tiếp và gián tiếp và làm yếu đi sự đoàn kết và
gắn kết của mô hình. Tựu chung lại, đây là hành trình từ một mô hình
thống nhất bên ngoài của hành động xã hội sang vài mô hình khác nhau,
mô hình ẩn hoặc mô hình hiện. Một thí dụ đặc biệt hơn về chu kỳ khá lạ
này được ghi bên dưới.
(a) Từ “phương pháp kinh tế toàn diện sang hành vi con người”
(Becker 1976:3) giải thích “không chỉ là hành vi thị trường bình thường
mà còn là thị trường ngầm” (Becker và Murphy 2000:5) sang một mô
hình về tính vị kỷ về hành động trong kinh tế thị trường và mô hình khác
về tính vị tha và liên quan đến lĩnh vực phi kinh tế (Becker 1991;
Translated by Nguyen Ngoc My Tien
[email protected] Page 22
thoảng thiên về kinh tế xã hội học đương thời. Quan niệm hành động này
cho thấy sự hợp lý về thực tiễn hơn về phương diện hành động và hành vi
nhân tố đời sống thực tế, nhưng một vấn đề nữa đặt ra là điều gì xảy ra
đối với những hành động đơn nhất hay tương đồng – kinh tế học đương
thời đưa ra chọn lựa duy lý – với mô hình chọn lựa duy lý bắt đầu từ ai.
Dường như có một người tham gia đưa ra chọn lựa duy lý kiên định
thông qua tính toán chi phí – lợi ích chính xác và hành động khác gắn
kết với hành vi quy luật thống trị. Trong khi mô hình chọn lựa duy lý đơn
lẻ ban đầu giả định những cá nhân theo quy luật xã hội vì lý do lợi ích –
chi phí, mô hình phức tạp hơn cho phép hành vi quy luật thống trị không
thể luôn luôn được giải thích về mặt tính toán duy lý (Boudon 1998;
Hechter 1994), cũng như Durkheim, Weber và những nhà xã hội học cổ
điển đã tranh luận một thời gian dài. Rõ ràng là, theo cách thức giả định
trước thì phải mất một thời gian để những nhà lý luận chọn lựa duy lý
hiện đại cuối cùng mới có thể cấu thành những tranh luận về xã hội then
chốt này, và như vậy thực hiện những lý thuyết thực tế hơn. Sử dụng
thuật ngữ chọn lựa duy lý, sự hợp nhất này tạo ra lợi ích nhiều hơn chi
phí, chưa tính đến chi phí không quá vô nghĩa trong phạm vi cho phép từ
mô hình hợp nhất ban đầu được khẳng định trên cá nhân đơn lẻ tương
đồng về cách ngôn, ví dụ như “sự thiếu máu, kinh tế học đơn nhất hiện
thời” (Bowles 1998:78).
(d) Từ mô hình chọn lựa duy lý chung dựa trên nguyên lý lợi ích –
chi phí thành 2 mô hình được đề nghị khác nhau: một là duy trì lý do để
hành động cho loại lợi ích – chi phí và loại khác bao gồm các tác nhân
liên quan đến nhận thức và giá trị (Boudon 1996). Có lẽ vấn đề đầu tiên
gắn liền với hành vi kinh tế phong phú, điển hình như hành động duy lý
[email protected] Page 24
(Etzioni 1999) – ngay cả khi nhiều nhà kinh tế nhận ra không phải chỉ vì
tiền bạc hay lợi nhuận (Frey và Oberholzer-Gee 1997).
Những điều trên gợi ra rằng chính chọn lựa duy lý nhận thấy giữa
sự hà tiện/vận dụng suy diễn dễ dàng và sự đúng đắn theo thực
nghiệm/chủ nghĩa hiện thực, ví dụ như giữa Scylla của việc đơn giản hóa
và Charybdis của sự phức tạp có chủ định trước. Một phương thức nằm
ngoài tình huống này có thể là mô hình hành động hợp nhất duy lý – phi
duy lý cũng như tính đúng đắn đến mô hình chỉ duy lý cũng như phi duy
lý. Mô hình hợp nhất như thế hợp lý trên nền tảng nhận thức luận và bản
thể học. Được gợi ý từ trước, tính đúng đắn về nhận thức luận trong đó
bao gồm cả phương pháp luận, có thể bắt đầu với hành vi phi duy lý cũng
như hành vi duy lý, do vậy nguyên lý phi duy lý không nhất thiết là ít hợp
lý về mặt nhận thức luận hơn là tính hợp lý về hành vi duy lý cũng như
các nhà lý luận về chọn lựa duy lý chứng minh. Lý tưởng nhất thì cả hai
nguyên lý có thể được hợp thành một mô hình hành vi duy lý hợp
nhất/phi duy lý, trong khi thoạt nhìn thì ít hà tiện, dễ vận dụng và phức
tạp hơn hoặc một trong hai nguyên lý phải được ưa thích đối với mỗi
nguyên lý bởi vì thuyến đa nguyên hay đa chiều, cũng có thể nói là phân
tích hồi quy đa bội phải được chọn nhiều hơn hồi quy đơn giản trong
trường hợp đa biến và mối quan hệ phức tạp giữa chúng. Trái lại, tính
duy lý về bản thể học với mô hình phi duy lý/mô hình duy lý hợp nhất
được cung cấp bởi các thực tế được quan sát mà bao gồm cả xã hội học
và kinh tế học, hành vi được đặc trưng không chỉ phức tạp bởi tính duy lý
mà có lẽ còn có tính phi duy lý. Những vấn đề trên đề ra những chiến
lược có thể thay thế để xây dựng mô hình, đặc biệt là xây dựng lý thuyết
Translated by Nguyen Ngoc My Tien