NGHIÊN CỨU SÂU HẠI TRÊN CÂY LÀI (Jasminum sambac) VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ SÂU ĐỤC BÔNG BẰNG MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC TẠI XÃ AN SƠN, HUYỆN THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
*************************

HỒ THÀNH KẾ

NGHIÊN CỨU SÂU HẠI TRÊN CÂY LÀI (Jasminum sambac)
VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ SÂU ĐỤC BÔNG BẰNG
MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC
TẠI XÃ AN SƠN, HUYỆN THUẬN AN,
TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 01/2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
*************************

HỒ THÀNH KẾ

NGHIÊN CỨU SÂU HẠI TRÊN CÂY LÀI (Jasminum sambac)
VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ SÂU ĐỤC BÔNG BẰNG
MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC
TẠI XÃ AN SƠN, HUYỆN THUẬN AN,
TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Đại học Nông Lâm TP. HCM

3. Phản biện 1:

TS. TRẦN THỊ THIÊN AN
Đại học Nông Lâm TP. HCM

4. Phản biện 2:

TS. TRÁC KHƯƠNG LAI
Công ty Việt Hóa Nông

5. Ủy viên:

PGS.TS. NGUYỄN THỊ CHẮT
Đại học Nông Lâm TP. HCM

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG

ii


LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Hồ Thành Kế sinh ngày 16 tháng 08 năm 1981 tại thị xã Thủ Dầu
Một, tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương).
Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Bình Phú, huyện Bến Cát,
tỉnh Bình Dương năm 1999.
Tốt nghiệp Đại học ngành Nông học hệ chính quy tại trường Đại học Nông
lâm, thành phố Hồ Chí Minh.

Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt khóa
học.
Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công, viên chức Trung tâm Khuyến nông Bình
Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Hội Nông dân và một số hộ trồng lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh
Bình Dương đã tận tình giúp đỡ tôi trong lúc thực hiện đề tài.
Các bạn lớp Bảo vệ Thực vật 31 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề
tài.

Xin được ghi ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã động viên,
hỗ trợ tôi trong suốt thời gian tham dự khóa học và thực hiện đề tài.

Bình Dương, tháng 01 năm 2011

Hồ Thành Kế

v


TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu sâu hại trên cây lài (Jasminum sambac) và hiệu quả
phòng trừ sâu đục bông, nụ bằng một số loại thuốc hóa học, sinh học tại xã An
Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương”. Thời gian thực hiện từ tháng 11 năm
2008 đến tháng 12 năm 2009. Đề tài được thực hiện tại phòng thí nghiệm Bộ môn
Bảo vệ Thực Vật, trường Đại học Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh, vùng trồng lài tại xã
An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Mục đích và yêu cầu của đề tài nhằm xác định thành phần sâu hại và thiên
địch trên cây hoa lài, theo dõi biến động mức độ gây hại của sâu đục bông, nụ và
sâu cuốn lá, khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học của chúng và hiệu quả phòng trừ
bằng một số thuốc hóa học, sinh học.

24 – 28 ngày. Trong đó, giai đoạn trứng kéo dài trung bình là 3,5  0,53 ngày, thời
gian phát triển trung bình của ấu trùng là 12,6  0,52 ngày, thời gian giai đoạn
nhộng trung bình là 6,1  0,88 ngày và thời gian tiền đẻ trứng của thành trùng trung
bình là 3,4  0,52 ngày và tỷ lệ hoàn thành vòng đời trung bình là 79,64%.
Các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm trừ sâu đục bông, nụ có hiệu lực cao
nhất đối với thuốc hóa học Selecron 500EC 89,17 % và đối với thuốc sinh học là
Tập kỳ 1.8EC 79,64 % ở thời điểm 5 NSP. Ở thời điểm 7 NSP, hiệu lực cao nhất
đối với thuốc hóa học là Selecron 500EC 76,30 %, sinh học là Tập kỳ 1.8EC
73,66%. Thời điểm 14NSP hiệu lực các loại thuốc điều giảm và hoàn toàn hết hiệu
lực ở thời điểm 21NSP.

vii


ABSTRACT
The thesis “Research pests on jasmine (Jasminum sambac) and effect controlling
methods to moths on chemical and biological pesticide at An Son village, Thuan
An district, Binh Duong provine” was carried out from november, 2008 to december,
2009 in Nong Lam university and the jasmine gardens at An Son, Thuan An, Binh
Duong.

The main goal and requirement of current research was to determine
component pests and natural enemies on jasmine, to watch for the variance of
harmful levels of the major pests, to study their morphological and biological
characters and and effect controlling methods to moths on chemical and biological
pesticide.
The survey results direct interview information on the status of farmers
cultivating jasmine in An Son commune, Thuan An, Binh Duong Province, is
recognized as follows: appear more pests that the most common are tortrix moths
(94,4%), moths (64,8%).

Experiments of controlling moths, the highest efficiency to control moths
after spraying 5 days include with chemical pesticide of Selecron 500EC (reach
89,17%) biological pesticide of Tập kỳ 1.8EC (reach 79,64%). At the time after
sparying 7 days, The highest efficiency to control moths after spraying 5 days
include with chemical pesticide of Selecron 500EC (reach 76,30%), biological
pesticide of Tập kỳ 1.8EC (reach 73,66%). At the time after sparying 14 days, the
efficiently pesticides have reduced and completely did not become effective at
21days.

ix


MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa

i

Trang chuẩn y

ii

Lý lịch cá nhân

iii

Lời cam đoan

iv


1

1.2. Mục đích và yêu cầu

2

1.2.1. Mục đích

2

1.2.2. Yêu cầu

2

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu

3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

2.1 Sơ lược về cây lài

4

2.1.1. Nguồn gốc và phân loại

4



2.3.2. Ngoài nước

10

2.4. Đặc điểm hình thái, sinh học và mức độ gây hại của một số loại sâu hại chính
trên cây họ lài

11

2.4.1. Palpita vitrealis (Rossi, 1794)

11

2.4.2. Cacoecimorpha pronubana Hübner

14

2.4.3. Prays oleae (Bernard, 1788)

15

2.4.4. Hendecasis duplifacialis Hampson

17

2.5. Biện pháp phòng trừ sâu hại chính trên cây lài

18


28

3.4.1. Vật liệu nghiên cứu

28

3.4.2. Phương pháp nghiên cứu

29

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

36

4.1. Hiện trạng canh tác cây lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương,
năm 2008 – 2009

36

4.2. Một số sâu hại và thiên địch trên cây lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh
Bình Dương, năm 2008 – 2009

43

4.2.1. Một số sâu hại trên cây lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương,
năm 2008-2009

43

4.2.2. Một số thiên địch trên cây lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình


63

4.3.2.1. Mức độ gây hại của sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

64

4.3.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

69

4.4. Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu đục bông, nụ lài của một số thuốc hóa học và
sinh học

76

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

81

5.1. Kết luận

81

5.2. Đề nghị

82

TÀI LIỆU THAM KHẢO


TSXH: tần số xuất hiện
TT: thành trùng
X : giá trị trung bình

xiii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG

TRANG

Bảng 4.1. Một số thông tin về tình hình canh tác lài tại xã An Sơn

37

Bảng 4.2. Kỹ thuật canh tác cây lài

38

Bảng 4.3. Một số sâu bệnh hại trên cây lài và biện pháp phòng trừ của nông dân

41

Bảng 4.4. Thành phần sâu hại chính trên lài tại xã An Sơn

45

Bảng 4.5. Tỷ lệ hiện diện của 3 loài sâu đục bông, nụ lài tại xã An Sơn



70

Bảng 4.14. Đặc điểm phát triển của ấu trùng sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

73

Bảng 4.15. Vòng đời sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

74

Bảng 4.16. Mức độ phát triển của sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

76

Bảng 4.17. Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số sâu đục bông, nụ lài tại xã An
Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2009

77

Bảng 4.18. Hiệu lực các loại thuốc đối với sâu đục bông, nụ lài tại xã An Sơn,
huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2009

xiv

79


DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH


61

Hình 4.6. Triệu chứng gây hại của sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

64

Hình 4.7. Biến động mức độ gây hại của sâu cuốn lá Adoxophyes sp. trên cây lài cả
2 dạng vườn trồng thuần và trồng xen tại xã An Sơn

66

Hình 4.8. Các giai đoạn phát triển của sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

72

Hình 4.9. Vòng đời sâu cuốn lá Adoxophyes sp.

75

xv


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lài hay còn gọi là cây nhài có tên khoa học là Jasminum sambac thuộc
họ lài, có nguồn gốc từ các nước Tây Nam Á và Nam Á: Philippines, Ấn Độ,
Myanmar và Sri Lanka. Trong hoa lài có thành phần hoá học gồm một chất béo
thơm, hàm lượng 0,08% (parafin), indol và các ester formic acetic-benzoic-linalyl

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự giúp đỡ của bộ môn Bảo vệ Thực vật –
Trường Đại học Nông Lâm tp.HCM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu sâu hại trên cây lài và hiệu quả phòng trừ sâu đục bông bằng một
số loại thuốc hóa học, sinh học tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình
Dương”.

1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích xác định thành phần sâu hại, thiên địch
trên cây lài, theo dõi mức độ gây hại của sâu đục bông, nụ và sâu cuốn lá, khảo sát
đặc điểm hình thái, sinh học của chúng và tìm ra cách phòng trị sâu đục bông hiệu
quả bằng một số loại thuốc hóa học và sinh học tại xã An Sơn, huyện Thuận An,
tỉnh Bình Dương.

1.2.2. Yêu cầu
- Tìm hiểu hiện trạng canh tác cây lài tại xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh
Bình Dương
- Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch trên cây lài.
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và biến động mật độ của sâu đục
bông, nụ và sâu cuốn lá Adoxophyes sp. trên cây lài.

2


- Khảo sát hiệu quả phòng trừ sâu đục bông lài chính của một số loại thuốc
hóa học và sinh học.

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tiến hành tại xã An Sơn, huyện Thuận An từ tháng 11/2008 đến
12/2009.


Họ (Family):

Oleaceae

Giống (Genus):

Jasminum

Loài (Species):

sambac

Đặc điểm bộ Oleales: Thân to, lá mọc đối, không có lá bẹ. Hoa chỉ có hai
tiểu nhụy, hai tâm bì, hột không phôi nhũ. Bộ Oleales chỉ có một họ Oleaceae.
Đặc điểm họ Oleaceae: Thân gỗ leo hay mọc thành bụi, phân nhánh lưỡng
phân rất rõ. Lá không có lá kèm, thường mọc đối hay lá kép lông chim lẻ. Hoa đều
mẫu 5, lưỡng tính, ít khi đơn tính, có lá bắc và hai lá bắc con. Hoa ít khi mọc riêng
lẻ mà xếp thành chùm kép hay xim ở ngọn. Quả khi là quả khô, khi là quả mọng.
(Huỳnh Anh Trúc, 2004).

4


2.1.2. Đặc tính thực vật học và điều kiện sinh thái
Cây lài là cây dạng thân leo hoặc thân bụi, có chiều cao từ 1-3m. Lá lài có 2
dạng là mọc đối xứng hoặc mọc vòng. Lá đơn dạng hình trứng, dài 4-12,5 cm và
rộng 2-7,5 cm. Phát hoa từ 3 – 12 hoa, hoa có mùi thơm đặc trưng, hoa màu trắng,
tràng hoa có đường kính từ 2 - 3 cm với 5 - 9 thùy. Hoa lài nở vào ban đêm và tàn
vào buổi sáng. Quả lài màu nâu đen, dạng quả mọng, có đường kính khoảng 1 cm

là điểm cung cấp hương liệu ướp trà gần như cho cả miền Nam (Hoàng Tùng,
2002).
Nguyễn Ngọc Hạnh và Trần Thanh Lương (2005 đã báo cáo rằng chiết xuất
tinh dầu từ hoa lài đã tạo ra nhiên liệu có chất lượng cao nhằm thay thế hương liệu
ngoại nhập, nâng cao giá trị sử dụng của các nguồn cây trồng. Sản phẩm tinh dầu do
các nhà khoa học VN tách chiết tinh dầu lài khoảng 400USD/100g (tinh dầu ngoại
nhập có giá 674USD/100g).
Mô hình trồng cây hoa lài đang góp phần tích cực vào chương trình xóa đói
giảm nghèo, đem lại niềm vui cho nhiều hộ nông dân ở huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình
Phước (Tin kinh tế, 2006)
Theo Trọng Minh (2006), tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, ông Thái
Văn Tín - Chủ tịch UBND xã An Sơn nhận xét: gần đây bông lài có giá nên hiệu
quả kinh tế vượt hẳn cây ăn trái, cuộc sống của bà con khá lên rất nhiều. Ngoài ra,
cây lài đã góp phần tạo việc làm đáng kể cho một lực lượng lao động nhàn rỗi tại
địa phương nhất là với độ tuổi không có điều kiện đi làm tại các xí nghiệp, công ty.
Cây hoa lài là một loại cây trồng cho hoa có giá trị kinh tế rất cao, công dụng
phổ biến của nó là dùng để ướp trà tạo hương thơm và để chữa một số bệnh hàng
ngày. Tỉnh Trà Vinh, cụ thể là đồng bào Khmer đã tận dụng những cây hoa lài xung
quanh nhà mà trước kia chỉ trồng làm cảnh để phát triển thành một trong những loại
cây trồng xóa đói giảm nghèo (Báo NNVN, 2007).
Theo Thùy Tươi (2008), cây lài trên đất Sóc Sơn – Hà Nội là cây dễ trồng, ít
vốn, giá bán cao (từ 15-30.000đồng/kg), cây lài đã nhanh chóng trở thành lựa chọn
cho bài toán thoát nghèo của người dân địa phương. Thời điểm cao nhất, toàn huyện
có tới 200ha, trong đó, hai xã là Phù Lỗ và Đông Xuân chiếm phần lớn diện tích.

6


Trong những năm gần đây, phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng của xã
Long An, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phát triển mạnh. Nhất là mô hình

Mỗi năm ông xuất đi Tiền Giang và Lâm Đồng gần 14 tấn hoa (Tin KH&CN,
2008).
Theo Chu Trinh (2010), tỉnh Tiền Giang chỉ có ấp Long Hưng, xã Long An,
huyện Châu Thành là có mô hình trồng cây hoa lài. Năm 1990, ông Nguyễn Hữu
Trọng là người đầu tiên đem giống cây này về trồng tại địa phương. Đến nay, toàn
ấp Long Hưng có hơn 20 ha đất trồng hoa lài chuyên canh.
Đặc biệt ở Bình Dương gần đây bông lài có giá nên hiệu quả kinh tế vượt
hẳn cây ăn trái. Cuộc sống của bà con khá lên rất nhiều. Chính vì lài có giá mà thời
gian qua diện tích lài tăng lên đáng kể, toàn xã An Sơn hiện nay có gần 30 ha lài,
tập trung chủ yếu ở 2 ấp An Phú và An Quới (Trọng Minh, 2007).
Mô hình trồng cây lài đang góp phần tích cực vào chương trình xóa đói giảm
nghèo, đem lại niềm vui cho nhiều hộ nông dân ở nhiều nơi trong đó có huyện Lộc
Ninh – Bình Phước (Tin kinh tế, 2006).

2.2.2. Tình hình phát triển cây lài ở một số nơi trên thế giới
Theo Mike, cây họ lài được đưa tới Ai Cập 1000 năm trước công nguyên
(TCN). Đến thế kỉ 14, cây lài được trồng để cung cấp hoa cho vua chúa ở
Afghanistan, Nepal và Ba Tư. Lài sử dụng mùi hương thì phát triển dọc theo những
vùng biển Ả Rập, Ba Tư và sau đó tới Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp. Nó được phát
triển rộng dọc theo vùng biển Địa Trung Hải - từ Châu Phi tới Ai Cập, An Giê Ri và
Ma Rốc. Vào thế kỉ 16, cây lài được Moors mang tới Tây Ban Nha, sau đó tới các
nước Tây Âu như Pháp, Italy và tới Anh vào cuối thế kỷ 17. Hiện nay, cây lài được
trồng rộng rải khắp nơi trên thế giới vì những giá trị mà hoa của nó mang lại. Hoa
lài ngoài mục đích làm đẹp bằng cách cài lên tóc của người phụ nữ các nước khu
vực Nam Á và Đông Nam Á, còn dùng để làm hương trầm hay nước hoa. Một số
nước sản xuất tinh dầu hoa lài như Ấn Độ, Ai Cập, Trung quốc và Ma Rốc. Các
nước trồng lài và cung cấp hoa lài như Philipine, Indonesia, Pakistan (Wikimedia
Foundation, Inc., 2010).

8

xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, lài ít bị sâu bệnh nhưng vào tháng

9



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status