BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MỘNG LINH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI
LÒNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG
TẠI HUYỆN TIỂU CẦN
Chuyên ngành: Kinh tế
Mã số: 603110
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 8/2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MỘNG LINH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI
LÒNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG
TẠI HUYỆN TIỂU CẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN ĐẮC DÂN
Hiện tại làm việc tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức Tp.Hồ Chí
Minh, chức vụ: Giáo Viên.
Tháng 9 năm 2006 theo học Cao học ngành Kinh Tế Nông Nghiệp tại
Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh.
Tình trạng gia đình: đã kết hôn.
Địa chỉ liên lạc: Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường Cao Đẳng Công Nghệ
Thủ Đức Tp.Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (08)22.158.644 hoặc 0988.664.369
Email: [email protected]
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Học viên
Lê Thị Mộng Linh
iii
CẢM TẠ
Xin kính dâng lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ và những người có công giúp
đỡ cho con có ngày hôm nay.
Kính ghi ơn thầy Trần Đắc Dân, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi
hoàn thành luận văn này.
Kết quả kiểm định và những lập luận cho thấy các thang đo đạt yêu cầu, mô
hình lý thuyết phù hợp với thông tin thị trường và các giả thiết đều được chấp nhận.
Cụ thể, các yếu tố tác động vào sự hài lòng của người nông dân sử dụng dịch vụ
khuyến nông công là: (1) mức độ tin cậy, (2) mức độ đáp ứng, (3) năng lực phục vụ,
(4) sự đồng cảm và (5) phương tiện hữu hình.
Kết quả nghiên cứu này đã đưa ra một số hàm ý thiết thực đối với các nhà
quản trị, xác định rõ các yếu tố tác động vào sự hài lòng của người nông dân sử
dụng và cách thức đo lường các yếu tố này. Đồng thời nghiên cứu này cũng giúp
các nhà quản lý trạm khuyến nông lựa chọn ý tưởng, xây dựng nhiều sản phẩm ngày
càng chất lượng hơn, thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của người nông dân và
thoả mãn những nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người nông dân hiên đại.
v
ABSTRACT
The study is “Researching the impact factors on the satisfaction of farmers using
agricultural extension services in the Tieu Can district , Tra Vinh province”
Research methods are used to test the measurement model and theoretical model
includes preliminary studies to explore the impact of new elements to the
satisfaction of farmers, research in formal methods with samples of size n = 147 for
scale model testing. Measurement preliminary assessment Cronbach alpha
coefficients of reliability, analysis EFA and was verified again through regression
equations.
Results tested and argued that the scale met the requirements, theoretical model
suitable to market information and assumptions are accepted. Specifically, these
factors impact on the satisfaction of farmers using agricultural extension service
work are: (1) reliability, (2) responsiveness, (3) assurance, ( 4) empathy and (5)
tangibles.
Results of this study made a number of practical implications for administrators
v
Mục lục
vii
Danh sách chữ viết tắt
x
Danh sách các hình
xi
Danh sách các bảng
xii
Chương 1. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3 Ý nghĩa thực tiển của đề tài
2.2.1.3 Đặc trưng của hàng hóa và dịch vụ khuyến nông
8
2.2.1.4 Hàng hóa và dịch vụ công
8
2.2.2 Tổng quan tài liệu
9
vii
Chương 3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
13
3.1.1 Định nghĩa Hộ có tham gia khuyến nông
13
3.1.2 Khái niệm, mục đích và ý nghĩa khuyến nông
13
3.1.2.1 Khái niệm
3.1.3.5 Các phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ
18
3.1.3.6 Sự ảnh hưởng của giá cả
22
3.1.4 Sự hài lòng
22
3.1.5 Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng
24
3.2 Phương pháp nghiên cứu
27
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
27
3.2.2 Các giả thiết
28
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu
40
4.2.1 Hệ số tin cậy Cronbach alpha
41
viii
4.2.1.1 Thang đo các yếu tố tác động đến người sử dụng
41
4.2.1.2 Thang đo mức độ hài lòng của người sử dụng
45
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
46
4.2.2.1 Thang đo chất lượng dịch vụ
46
4.2.2.2 Thang đo mức độ hài lòng của người sử dụng
51
4.3 Kiểm định mô hình và các giả thiết nghiên cứu
65
ix
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
KN
: Khuyến nông
NN & PTNT
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TT KN QG
: Trung tâm khuyến nông quốc gia
NN
: Nông nghiệp
SX
: Sản xuất
Tp.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
26
Hình 3.6 : Mô hình nghiên cứu
28
Hình 3.7 : Qui trình nghiên cứu
29
Hình 4.1 : Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết
56
xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 : Thang đo SERVQUAL
31
Bảng 3.2 : Thang đo SERVQUAL đã điều chỉnh
33
Bảng 3.3 : Thang đo sự hài lòng
36
45
Bảng 4.9 : Cronbach alpha của thang đo sự hài lòng
46
Bảng 4.10 : Kết quả EFA thang đo các yếu tố tác động sự hài lòng
47
Bảng 4.11 : Kiểm định KMO và Bartlett’s test
47
Bảng 4.12 : Kết quả phân tích EFA của thang đo mức độ hài lòng
51
Bảng 4.13 : Kiểm định KMO và Bartlett’s test
52
Bảng 4.14 : Kết quả hồi qui của mô hình
53
Bảng 4.15 : Bảng phân tích phương sai ANOVA
53
xuất và hơn 80% dân số sống ở nông thôn, giá trị sản lượng nông nghiệp đóng góp
khoảng 18% GDP của cả nước. Đặc biệt là từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập
WTO (ngày 7/11/2006) thì hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính chất là sản
xuất hàng hóa ngày càng rõ rệt. WTO mở ra cho nền nông nghiệp Việt Nam nhiều
cơ hội hơn để liên kết, hợp tác và tiếp nhận khoa học kỹ thuật tiến bộ, xuất khẩu
nhiều hơn sản phẩm hàng hóa nông nghiệp.v.v… Bên cạnh đó, WTO cũng ngăn cản
sự hỗ trợ, giúp đỡ trực tiếp của Nhà nước đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Chẵng hạn như Chính phủ Việt Nam không được trợ cấp, hỗ trợ trực tiếp cho nông
dân sản xuất nông nghiệp như trợ cấp đầu vào, đầu ra.v.v…mà chỉ có sự giúp đỡ
gián tiếp thông qua việc: tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn người nông dân sử
dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật.v.v... Do đó, hoạt động khuyến nông thực sự là rất
cần thiết và là một trong những hoạt động đắc lực của Nhà nước để hỗ trợ, giúp đỡ
người nông dân cả nước nói chung và nông dân ở tỉnh Trà Vinh nói riêng. Khuyến
nông là một loại hình dịch vụ công do Nhà nước tổ chức nhằm mục đích giúp người
nông dân càng ngày càng trở thành người nông dân hiện đại, nâng cao năng lực cho
người nông dân, gia tăng hiệu quả sản xuất để cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần cho người nông dân.v.v…Từ đó, nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam ngày càng
vững bền, làm nền tảng vững chắc góp phần thúc đẩy các lĩnh vực sản xuất khác
ngày càng vững mạnh, đất nước ngày càng phát triển. Chính vì vậy, đề tài “ Nghiên
Cứu Các yếu Tố Tác Động Đến Sự Hài Lòng Của Người Sử Dụng Dịch Vụ Khuyến
Nông Tại Huyện Tiểu Cần” được thực hiện.
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người
sử dụng dịch vụ khuyến nông tại huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh.
* Mục tiêu cụ thể:
- Khám phá các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người nông dân
nông dân sử dụng dịch vụ khuyến nông công – khuyến nông của nhà nước; (2) bổ
sung vào thang đo và mô hình lý thuyết các yếu tố tác động đến sự hài lòng của
người sử dụng;(3) xác định sự hài lòng của người sử dụng;(4) từ đó đề xuất các giải
pháp cải thiện chất lượng dịch vụ khuyến nông công.
Đề tài được thực hiện tại huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh.
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được nghiên cứu và trình bày trong 5 chương:
Chương 1: Đặt vấn đề, mục tiêu, ý nghĩa thực tiển, phạm vi và cấu
trúc của đề tài.
Chương 2: Tổng quan: trình bày tổng quan địa bàn nghiên cứu và tổng
quan về tài liệu nghiên cứu.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: trình bày các cơ
sở lý luận, nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Chương 4: Kết quả và thảo luận: trình bày các kết quả nghiên cứu
định lượng, kiểm tra thang đo và mô hình lý thuyết cùng các giả thiết đã đặt ra; xác
định mức độ hài lòng của người sử dụng.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: trình bày những kết quả chính của
đề tài. Từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ khuyến nông và
cũng trình bày các hạn chế của đề tài để định hướng cho những nghiên cứu tiếp
theo.
3
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu: huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh
Huyện Tiểu Cần là một trong 8 huyện thị của tỉnh Trà Vinh. Toàn huyện có 9
xã và 2 thị trấn, gồm Thị trấn Tiểu Cần, Thị trấn Cầu Quan, các xã Phú Cần, Long
Thới, Tập Ngãi, Ngãi Hùng, Tân Hòa, Hùng Hòa, Hiếu Tử, Hiếu Trung và Tân
hỗ trợ đắc lực từ các nhân viên khuyến nông, các trạm khuyến nông để cải thiện và
nâng cao cuộc sống của người dân.
2.2 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan về khuyến nông
2.2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành khuyến nông ở Việt Nam
Khuyến nông xuất hiện ở Việt Nam từ thời kỳ xã hội nguyên thủy nhưng chỉ
là sự truyền đạt kinh nghiệm về săn bắt, hái lượm và dự trữ thức ăn từ người này
sang người khác. Đây chỉ là hình thức sơ khai của khuyến nông (Nguyễn Thị Lan,
1994). Đến thời kỳ sản xuất theo kiểu truyền thống: người nông dân đã biết chọn
giống cây trồng, tích trữ hạt giống, biện pháp gieo trồng.v.v.. thông qua các câu ca
dao, tục ngữ. Cho đến tháng 11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị “phải làm tốt
công tác khuyến nông” (Nguyễn Thị Lan, 1994). Năm 1960 ở miền nam thành lập
nha khuyến nông trực thuộc bộ Nông nghiệp cải cách điền địa Nông Ngư mục
(Nguyễn Thị Lan, 1994). Từ năm 1964 Bộ Nông nghiệp chính thức lập các đoàn chỉ
đạo sản xuất, đưa các sinh viên mới tốt nghiệp xuống các cơ sở: hợp tác xã, nông
trường xây dựng mô hình, mở lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của hợp tác xã,
nông trường.
Thời kỳ nông nghiệp hiện đại: đến năm 1988 tổ chức khuyến nông đầu tiên
được thành lập là An Giang, sau đó là Bắc Thái (1991). Năm 1992, Bộ nông nghiệp
thành lập Ban điều phối khuyến nông và đến ngày 31/3/1993 tổ chức khuyến nông
được thành lập. Hoạt động khuyến nông cả nước đã nhanh chóng hình thành hệ
thống tổ chức khuyến nông từ trung ương đến địa phương. Đội ngũ khuyến nông đã
nhanh chóng tăng về số lượng và chất lượng. Hoạt động khuyến nông đã bám sát
5
các chương trình nông nghiệp trọng điểm của quốc gia, hỗ trợ và cung cấp thông tin
đầy đủ và kịp thời cho người nông dân về chủ trương, đường lối và chính sách của
Đảng, Nhà nước, khoa học kỹ thuật tiến bộ, các loại giống, các điển hình trong thực
* Hướng dẫn thực hiện các chương trình KN
tại tỉnh.
* Tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho nông
dân.
* Kết hợp với cục KN xây dựng các điểm
trình diễn thuộc chương trình quốc gia.
* Đánh giá kết quả các chương trình KN.
Cấp
h
Phòng NN &
PTNT
Trạm KN
* Trực tiếp tiến hành chuyển giao kỹ thuật
cho nông dân.
* Hướng dẫn nông dân áp dụng kỹ thuật mới.
* Cùng với nông dân xây dựng các điểm
trình trình diễn.
* Phối hợp và báo cáo với cấp trên về các
hoạt động KN cấp huyện.
Khuyến Nông viên hợp đồng hoặc
cán bộ NN kiêm cán bộ KN
Cấp Xã
Hộ nông dân/ Nhóm hộ sở thích về SX nông nghiệp
* Làm việc theo chức năng nhiệm vụ đưa ra
trong hợp đồng.
2.2.1.4 Hàng hóa và dịch vụ công
Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa và dịch vụ tư nhân không thể cung cấp
chủ yếu nhà nước hay cộng đồng đảm trách. Những loại hàng hóa này gọi là hàng
hóa công. Ví dụ: quốc phòng đảm bảo an toàn, giáo dục.v.v.. Để xem xét khuyến
nông có đầy đủ tính chất của hàng hóa và dịch công cần tìm hiều về khái niệm hàng
hóa và dịch vụ công.
Hàng hóa và dịch vụ công là những loại hàng hóa và dịch vụ mà việc cá nhân
này thụ hưởng do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng
thời hưởng thụ lợi ích của nó. Do vậy hàng hóa và dịch vụ công có hai thuộc tính:
- Hàng hóa và dịch vụ công không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng.
- Hàng hóa và dịch vụ công không có tính loại trừ .
8
Chương trình khuyến nông là hàng hóa và dịch vụ do nhà nước cung cấp.
Nhà nước triển khai các chương trình khuyến nông để thay đổi quan niệm, cách
thức sản xuất nhằm thúc đẩy tăng năng suất và phát triển kinh tế. Chương trình
khuyến nông cung cấp miễn phí để nông dân có thể tiếp cận kiến thức và kỹ năng
mới dễ dàng tại trạm khuyến nông hay ngoài thực tế. Do vậy, chương trình khuyến
nông có đầy đủ tính chất của hàng hóa và dịch vụ công.
Theo kinh tế học, nguyên nhân xuất hiện của hoạt động khuyến nông như là
hàng hóa dịch vụ có ngoại tác lên thị trường sản xuất nông nghiệp. Ngoại tác của
dịch vụ khuyến nông có tính tích cực. Nhà nước đóng vai trò người bán, cung cấp
các chương trình khuyến nông đến người nông dân tiêu dùng dịch vụ này. Trong
trao đổi này chỉ người tiêu dùng (nông dân) có lợi trực tiếp nhờ ứng dụng kỹ thuật
mới với sản xuất. Người cung cấp (nhà nước) không thu lợi trực tiếp (dịch vụ trợ
cấp) nên nhà nước chịu thiệt. Nhưng xét góc độ tổng thể, xã hội được lợi từ sản
lượng gia tăng và ứng dụng kỹ thuật lan truyền từ nông dân này đến nông dân khác
trong cộng đồng. Do vậy, chi phí Nhà nước bỏ ra cân xứng với lợi ích xã hội mang
tạo nên sự hài lòng của người sử dụng để kết luận chất lượng khuyến nông. Ngoài
ra, phương pháp này chưa chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu cụ thể để phát
huy hay khắc phục.
Trên cơ sở tổng quan tài liệu này cho thấy mô hình Servqual khá phù hợp để
xác định mức độ hài lòng của người nông dân sử dụng dịch vụ khuyến nông từ đó
đánh giá chất lượng khuyến nông, nhằm mục đích khắc phục những điều chưa làm
được của phương pháp trên. Mô hình Servqual là một mô hình được sử dụng phổ
biến trong lĩnh vực đánh giá chất lượng marketing dịch vụ, kết quả mô hình sẽ chỉ
ra cụ thể chất lượng dịch vụ được tạo ra từ các yếu tố nào để làm hài lòng người sử
dụng, trong từng yếu tố có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá chất lượng. Từ đó các nhà
quản lý có cách nhìn toàn diện hơn về chất lượng dịch vụ, tập trung tốt hơn trong
việc cải thiện dịch vụ và phân phối nguồn lực cũng như khuyến khích nhân viên cải
thiện khả năng phục vụ.
Ứng dụng mô hình Servqual trên, đề tài “ Đánh giá chất lượng dịch vụ siêu
thị ở Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)” của Tác giả Nguyễn Thị Mai Trang, Đại
học Quốc gia TPHCM và Nguyễn Đình Thọ, Trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã
kết luận rằng chất lượng dịch vụ siêu thị ở TPHCM bao gồm năm thành phần cụ thể
10
là: (1) Chủng loại hàng hóa, (2) Nhân viên phục vụ, (3) Trưng bày siêu thị, (4) Mặt
bằng siêu thị và (5) An toàn siêu thị. Mỗi thành phần được đánh giá bằng các chỉ
tiêu cụ thể, ví dụ: thành phần thứ nhất Chủng loại hàng hóa được đo lường bằng 3
chỉ tiêu: (i) Hàng tiêu dùng hàng ngày rất đầy đủ, (ii) Có nhiều mặt hàng để lựa
chọn, (iii) Có nhiều hàng mới. Ngoài ra, còn có các tác giả khác trên thế giới cũng
ứng dụng mô hình này như: Dabholkar & ctv (1996) sử dụng mô hình Servqual và
điều chĩnh nó để kiểm định chất lượng dịch vụ bán lẻ ở Mỹ, ông kết luận chất lượng
dịch vụ bán lẻ gồm 5 thành phần và 23 chỉ tiêu; Mehta & ctv (2000) kiểm định dịch
vụ bán lẻ hàng điện tử và siêu thị tại Singapore kết luận: chất lượng dịch vụ này