VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHÓA HỌC
PGS.TS. VŨ THỊ DUYÊN THỦY
2.1.5.Các quy định pháp luật trong xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
Tiếng ồn ................................................................................................................... 55
2.2.Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp
luật về bảo vệ môi trường trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ......................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 73
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài:
Tiếng ồn tác động lên con người ở ba phương diện: tác động về mặt cơ
học, tác động về mặt sinh học và tác động lên các hoạt động xã hội. Tiếng ồn
là một trong những tác nhân mà có thể tác động đến tất cả mọi người, già hay
trẻ, nam giới hay nữ giới, trong bất cứ môi trường nào.
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa cho đến nay,
nhiều nhà máy, nhà xưởng, khu đô thị, nhà cao tầng, được thành lập và xây
dựng khắp nơi, phương tiện giao thông ngày càng tăng nhưng sự phát triển
này không được quy hoạch trong thời gian dài, dẫn đến ô nhiễm tiếng ồn ngày
càng tăng. Điển hình như ở các thành phố lớn hoặc các thành phố đang phát
triển, mật độ, tốc độ xây dựng và phương tiện giao thông ngày càng dày đặc,
các khu vực vui chơi giảm trí ngày càng nhiều… mà vấn đề ô nhiễm tiếng ồn
lại chưa được mọi người quan tâm đúng mức. Kiến thức phổ thông về tiếng
ồn không phải là kiến thức khoa học đơn thuần mà còn là vấn đề có tính thời
sự trong cuộc sống.
Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm
pháp luật trong quá trình kiểm tra, xử lý, kiểm soát, cũng như là cơ sở để chỉ
ra những điểm còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng từ đó đưa ra những
hướng hoàn thiện hơn đối với những quy định liên quan đề tài.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu, tiêp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các
học giả liên quan đến đề tài nghiên cứu này, tác giả nhận thấy các công trình
nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung
của kiểm soát ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, có thể kể tên một số
nghiên cứu như: PGS.TS Phạm Hữu Nghị (2005) “Nâng cao hiệu lực thi hành
2
pháp luật bảo vệ môi trường”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị môi trường toàn
quốc, Hà Nội; Chương trình hợp tác trong lĩnh vực môi trường giữa Việt Nam
và Đan Mạch "Kiểm soát ô nhiễm khu vực đông dân nghèo – Khu kế hoạch
hành động kiểm soát ô nhiễm cấp địa phương", các luận văn nghiên cứu về
từng lĩnh vực cụ thể có thể kể tên một số nghiên cứu về ô nhiễm không khí
như Vũ Thị Duyên Thuỷ (2002) "Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở
Việt Nam hiện nay – Thực trạng và hướng hoàn thiện" luận văn thạc sỹ Luật
học, Đại học Luật Hà Nội; nghiên cứu về chất thải nguy hại như Vũ Thị
Duyên Thuỷ (2009) "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam" luận án tiến sỹ Luật học, Đại học luật Hà Nội; chất thải rắn
như Lưu Việt Hùng (2009) "Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường
tại Việt Nam" luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; chất thải
y tế như Phạm Hồng Ngọc (2016) "Pháp luật về quản lý chất thải y tế từ thực
tiễn Thành phố Hà Nội" luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã
luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài trong khuôn khổ của một Luận văn
thạc sĩ chủ yếu là đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật về kiểm soát tiếng
ồn được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các băn bản
pháp lý liên quan khác.
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài ở đây chủ yếu tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn xoay quanh pháp luật kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh ở thời điểm hiện nay.
5.
Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành khoa học
pháp lý như: Luật Bảo vệ môi trường, Lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật
Hành chính, Luật Dân sự, Lý luận Nhà nước và pháp luật… những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành liên quan đến kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn,
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn.
4
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả sử dụng nhiều
phương pháp đan xen để nghiên cứu như: quan trắc, phân tích, đánh giá, tổng
hợp, khảo sát thực tiễn… Đồng thời luận văn còn dựa vào những số liệu
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường tại Thành
phố Hồ Chí Minh là công trình nghiên cứu mới, từ góc độ khoa học pháp lý,
trên cơ sở các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản
pháp luật liên quan. Luận văn nghiên cứu làm rõ các vấn đề từ lý luận, pháp
lý đến thực tiễn về quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn phát tán và xử
lý tiếng ồn... trên cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát tiếng ồn tại Thành
phố Hồ Chí Minh, đối chiếu với pháp luật hiện hành của Việt Nam và trên thế
giới để phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, bất cập. Từ đó đưa
ra nhu cầu, định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp
luật về kiểm soát tiếng ồn ở nước ta hiện nay.
Là một đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về lĩnh vực kiểm
soát tiềng ồn, tác giả hy vọng luận văn có giá trị tham khảo nhất định, trước
hết đối với những người quan tâm về kiểm soát tiếng ồn ở góp độ pháp lý và
là nguồn tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn
học Luật Môi trường.
Bên cạnh đó có một số kiến nghị của đề tài còn là tài liệu có giá trị
tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về
bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về kiểm soát tiếng ồn nói riêng
7.
Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được trình bày thành 02 Chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường trong kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh và giải
khó đánh giá nguồn tiếng ồn nào gây ảnh hưởng xấu hơn.
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm rất phổ biến trong đô thị phần lớn là từ
các tuyến đường giao thông, các tụ điểm dân cư, từ các công trình xây dựng,
hoạt động sản xuất công nghiệp… Ô nhiễm tiếng ồn là tiếng ồn trong môi
7
trường vượt quá nhưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc động vật.
Hầu hết các nước trên thế giới và ở nước ta, nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn chủ
yếu từ tiếng ồn ngoài trời như phương tiện giao thông vận tải, xe có động cơ,
máy bay và tàu hoả, hoặc tiếng ồn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh và từ
các hoạt động của con người.
Các nguồn ồn chính bao gồm:
- Nguồn ồn giao thông: Hiện nay, phương tiện giao thông cơ giới rất
phổ biến, mỗi xe khi vận chuyển trên đường phố sẽ gây ra tiếng ồn do động
cơ hoạt động, tiếng còi, ống xả, tiếng rít phanh và sự rung động của các bộ
phận trên xe gây nên.
Bảng 1.1: Mức ồn của một số phương tiện giao thông
Loại phương tiện
Mức ồn
Loại phương tiện
Mức ồn
Xe nhỏ
77 dB
Riêng đối với nước ta, còn tồn tại nhiều phương tiện lạc hậu, kém chất lượng
gây ra tiếng ồn lớn.
Hoặc tiếng ồn giao thông từ phương tiện tàu hoả gây ra cũng rất lớn, từ
50 – 75dB. Tại các thành phố có tuyến đường sắt đi qua, người dân hai bên
đường ray hằng ngày đều phải chịu tác động trực tiếp của tiếng ồn từ hoạt
động giao thông đường sắt, và hiện nay vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức
cũng như chưa có nghiên cứu nào quan tâm đến vấn đề này.
8
Trong giao thông còn phải kể đến tiếng ồn do máy bay, tiếng ồn này
không thường xuyên nhưng gây ra rất lớn cho khu vực dân cư gần sân bay,
đặc biết lúc máy bay cất cánh và hạ cánh. Hiện nay việc giải quyết vấn đề
tiếng ồn do máy bay gây nên rất phức tạp, nên tạm thời sân bay thường đưa ra
xa khu dân cư mới giảm bớt được tiếng ồn do nó gây nên.
- Nguồn ồn trong xây dựng: Việc sử dụng phương tiện cơ giới ngày
càng phổ biến, khi có một công trình xây dựng được thực thi thì tiếng ồn của
các phương tiện này gây ra cho con người cũng rất đáng kể.
Bảng 1.2: Mức ồn của một số máy móc trong xây dựng
(đo ở khoảng cách 15m)
Loại phương tiện
Mức ồn
Loại phương tiện
Mức ồn
Máy trộn bê tông
Mức ồn
Loại phương tiện
Mức ồn
Xưởng dệt
110 dB
Xưởng rèn
100 ÷ 120 dB
Xưởng gò
113 ÷ 114 dB
Xưởng đúc
112 dB
Máy cưa
82 ÷ 85 dB
Máy đập
85 dB
78 dB
Các loại tiếng ồn:
- Tiếng ồn cơ khí: tiếng ồn phát sinh do rung ở máy, thiết bị hoặc do
va đập của các chi tiếp của chúng.
- Tiếng ồn khí động: tiếng ồn phát sinh trong các quá trình chuyển
động của các chất khí hoặc của vật chuyển động trong khí với vận tốc khí
hoặc sinh ra do sự chảy của các chất lỏng hay sự phun chất cháy trong vòi
phun.
- Tiếng ồn điện từ: tiếng ồn phát sinh do dao động của các chi tiết
trong thiết bị có điện chịu ảnh hưởng của lực điện từ biến đổi.
- Tiếng ồn thuỷ động: tiếng ồn phát sinh trong các quá trình chuyển
động của chất lỏng. Thông thường tiếng ồn phát sinh do vật liệu rắn tác động
vào chất lỏng. [10].
10
1.1.2. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với sức khoẻ cộng đồng
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác.
Tiếng ồn không tích lũy vào trong môi trường như nhưng chất gây ô nhiễm
khác, nhưng nó lại tác động trực tiếp đến sức khỏe con người. Nguyên nhân
gây nên tiếng ồn rất đa dạng, từ các âm thanh phát ra từ nhà máy, công xưởng
đến hoạt động giao thông và cả tiếng ồn trong sinh hoạt của người dân. Hiện
nay, tại một số địa điểm ở các thành phố lớn, tình trạng kinh doanh dịch vụ cà
phê, karaoke, nhà hàng, quán bar, vũ trường… sử dụng âm nhạc và tạo tiếng
ồn quá lớn từ sau 22 giờ đêm, hơn nữa, tại các nơi này đều đang là những “đại
công trường” xây dựng các toà nhà cao ốc, các khu chung cư, xây dựng tuyến
đường xe điện ngầm… những tiếng ồn từ các khu vực đang xây dựng này làm
càng suy giảm, hậu quả được phát hiện với chỉ số lượng mỡ máu và đường
huyết tăng cao, lượng thuốc an thần, thuốc ngủ được sử dụng tính trên đầu
người ở khu vực gần sân bay và các đường giao thông lớn gấp 2-3 lần so với
khu vực bị ô nhiễm tiếng ồn khác.
- Giảm thính lực và mất thính lực: Theo WHO thống kê, ước tính trên
toàn cầu có khoảng 120 triệu người bị điếc tai hoặc khả năng nghe kém vì
giảm thính lực do ô nhiễm tiếng ồn gây nên. Tiếng ồn quá lớn ở khu vực đô
thị được xem là tên sát nhân giấu mặt vì ít ai để ý đến những tác hại của nó.
Thực tế chỉ có những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn liên
tục mới thấy rõ mình bị suy giảm thính lực dần, khả năng nghe kém hơn.
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy tình trạng bị ô nhiễm
tiếng ồn thường xuyên, liên tục ở các công nhân nhà máy công nghiệp có thể
làm cơ thể sản xuất ra nhiều nội tiết tố adrenalin và nor-adrenalin; nếu công
nhân biết mang thiết bị bảo vệ tai ngăn chặn tiếng ồn thì lượng nội tiết tố này
trở về lại mức bình thường. Tại nước ta, một nghiên cứu tại nhà máy dệt cũng
12
ghi nhận những kết quả tương tự làm ảnh hưởng cơ quan nội tiết của các công
nhân dệt.
- Đối với hệ tiêu hóa, các nhà khoa học ở tại Anh đã nghiên cứu nhận
thấy tình trạng ô nhiễm tiếng ồn liên tục đã làm ảnh hưởng đến sự tiêu hóa
của con người như làm giảm co bóp dạ dày, giảm tiết dịch vị dạ dày...
- Suy giảm khả năng, chất lượng lao động, học tập: Tại Mỹ, Viện
Quốc gia sức khỏe và an toàn nghề nghiệp nghiên cứu ghi nhận đối tượng
công nhân, người lao động thường xuyên tiếp xúc với âm thanh lớn có cường
độ 75dB trong 03 năm sẽ bị tăng nhịp tim và nhịp thở; hoặc làm ảnh hưởng
đến chức năng hoạt động của hệ thần kinh tự chủ, làm tăng nhịp tim, tăng
huyết áp, tăng sức cản của các mạch máu ngoại vi; tương lai sau đó có thể bị
ù tai, tăng huyết áp, loét dạ dày, tâm trạng bất ổn do căng thẳng tinh thần; tính
hoạt động tiêu thụ, sản xuất, vận tải và các hoạt động khác của con người sẽ
làm tích tụ hoặc phát tán chất ô nhiễm vào môi trường làm cho chất lượng
sống của con người bị suy giảm. Còn theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản từ
điển Bách khoa 2007: “Kiểm soát là xem xét, coi sóc”[32, tr.381], có thể thấy
quan điểm về “kiểm soát” theo cách này còn quá chung chung. Tuy nhiên,
trong Luận án Tiến sĩ "Pháp luật về Kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt
Nam" của Tiến sĩ Bùi Đức Hiển cho rằng: kiểm soát là việc theo dõi, kiểm tra,
giám sát nhằm nắm được sự việc đang diễn tiến thế nào, dự báo diễn tiến đến
đâu, có đi đúng hướng không để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý, uốn nắn, điều
chỉnh và đưa vào trật tự, làm đúng, tốt và có hiệu quả hơn.
Tầm quan trọng của kiểm soát ô nhiễm trong công tác quản lý môi
trường đã được xác định trong Luật bảo vệ môi trường (năm 2005), trong
chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, đặc biệt là trong Quyết định số 328/2005/QĐ-TTG ngày 12 tháng
12năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia
14
kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010. Theo khoản 18 Điều 3, Luật
Bảo vệ môi trường 2014, kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát
hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm. Còn trong quan điểm được ghi nhận trong
Giáo trình Luật Môi trường của Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân
dân năm 2011 thì kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các hoạt động
của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động
xấu đối với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý
hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên, có thể thấy khái niệm này đã loại
trừ, hạn chế những tác động xấu với môi trường, mục tiêu của hoạt động kiểm
soát là phòng ngừa ô nhiễm, khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường
và xác định các chủ thể có trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường nhưng
chưa làm rõ nội hàm. Còn Giáo trình Luật Môi trường của Đại học Luật Hà
môi trường trong các ngành sản xuất công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm môi
trường xung quanh ở các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, làng
nghề... và kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước mặt,
nước ngầm và môi trường nước biển ven bờ, nó cũng bao gồm việc kiểm soát
phát ra tiếng ồn, nếu không có việc kiểm soát ô nhiễm, các tiếng ồn từ các
hoạt động tiêu thụ, sản xuất, vận tải, giải trí và các hoạt động khác của con
người sẽ làm giảm chất lượng môi trường sống.Trong các cấp kiểm soát,
phòng chống ô nhiễm và giảm thiểu tiếng ồn được xem là các biện pháp hiệu
quả.
Để kiểm soát tốt tiếng ồn cần có đánh giá đầy đủ nguồn ồn, khảo sát
nguồn ồn cần đảm bảo các thông tin sau:
-
Loại tiếng ồn;
-
Mức ồn và biểu thời gian;
-
Sự phân bổ tần số;
-
Nguồn ồn (đặc điểm, vị trí, công suất…);
16
-
bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người. Thông qua việc định
hướng xử sự của cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong quá trình
làm phát sinh tiếng ồn, đồng thời ràng buộc những chủ thể này bằng những
chế tài cụ thể. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn không chỉ góp phần làm
giảm thiểu tiếng ồn mà còn phòng ngừa, hạn chế những tác động bất lợi của
chúng. Nghĩa là chất lượng môi trường sống của con người cũng sẽ được đảm
bảo một cách hiệu quả thông qua việc xây dựng và thực hiện một các triệt để
các quy phạm pháp luật về lĩnh vực này.
17
Như vậy, dựa trên cách thức tiếp cận và điều chỉnh của pháp luật ở
quốc gia đối với các hoạt động có liên quan đến Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn,
có thể định nghĩa pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn như sau: “Pháp luật
kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là tổng thể các quy phạm pháp luật các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ
quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức là chủ nguồn ồn và các chủ thể khác
trong quá trình phòng ngừa, dự báo, theo dõi, kiểm tra, giám sát và phát hiện
những tác động của tiếng ồn, sự phát tán tiếng ồn, xử lý tiếng ồn, đảm bảo
môi trường sống của con người”.
Trên thế giới, từ năm 1997, tại Trung Quốc đã đưa vào thực hiện luật
phòng chống và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Theo đó, các tụ điểm vui chơi
giải trí nằm trong khu vực đô thị phải tuân thủ các quy chuẩn về âm lượng,
khi lắp đặt các vật dụng như thiết bị sưởi, máy điều hòa mà gây tiếng ồn lớn,
chủ sở hữu phải có biện pháp cách âm hiệu quả. Tháng 02/2013, Thượng Hải
đã thi hành một số quy định mới nhằm giảm thiểu tiếng ồn bao gồm các hình
phạt cụ thể. Các loại nhạc cụ, thiết bị khuếch đại âm thanh chỉ được sử dụng
tại các khu vực công cộng từ 10 giờ đến 18 giờ hàng ngày, nếu các thiết bị
này nhằm mục đích giải trí, tập hợp người dân trên đường phố thì công an địa
phương phải có trách nhiệm giám sát. Hoặc những người gây ra âm lượng
trường, để bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã liên tiếp thông qua và thay thế
ba đạo luật điều chỉnh về vấn đề này: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật
Bảo vệ môi trường năm 2005 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
Trong luật Bảo vệ môi trường năm 1993, ngoài các quy định chung về
Bảo vệ môi trường, Luật chưa có quy định riêng nào về kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí và tiếng ồn nói riêng, thậm chí không có quy định nào
nhắc đến thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường. Luật Bảo vệ môi trường
năm 2005 đã có những quy định ban đầu về kiểm soát ô nhiễm môi trường
19
không khí và tiếng ồn, mặc dù vậy, Luật này cũng chưa đưa ra các hiểu thế
nào là kiểm soát ô nhiễm môi trường và chưa có quy định về ứng phó với biến
đổi khí hậu. Để cụ thể hoá Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban chấp hành
Trung ương Đảng về bảo vệ tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi
khí hậu, cũng như các quy định trong Hiến pháp năm 2013 về quyền được
sống trong môi trường trong lành và phát triển bền vững, Nhà nước ta đã
thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Trong Luật này có sửa đổi, bổ
sung quan trọng liên quan đến kiểm soát ô nhiễm Môi trường, quy định về
quy chuẩn kỹ thuật về Môi trường xung quanh gồm: nhóm quy chuẩn kỹ thuật
môi trường đối với không khí, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với
âm thanh, ánh sáng, bức xạ, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với
tiếng ồn, độ rung (bao gồm cả nguồn di động và cố định). Các quy chuẩn này
là cơ sở đề đánh giá hiện trạng Môi trường, mức độ ô nhiễm, quản lý ô nhiễm
và là cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về Môi trường.
1.2.2. Các nguyên tắc trong điều chỉnh pháp luật kiểm soát ô nhiễm
tiếng ồn
Thứ nhất, nguyên tắc cơ bản của Pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
chính là Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền được sống trong môi trường
trong lành của con người, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên: