VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNHPI
NỘI ĐỊA Ở ĐỒ
NG B
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62.31.01.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Lê Xuân Bá
2. TS. Lê Kim Chung
Phản biện 1: GS.TS. Ngô Thắng Lợi
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Trọng Xuân
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Đình Long
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học
viện, tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà
Nội
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát triển kinh tế biển, thực trạng phát triển kinh tế biển của tỉnh
Bình Định, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy kinh
tế biển của tỉnh Bình Định phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời
gian tới.
1
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về kinh tế biển, phát triển
kinh tế biển, từ đó làm rõ được ý nghĩa của sự phát triểnkinh tế biển
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
- Tìm hiểu và hệ thống hóa một số vấn đề về thực tiễn và kinh
nghiệm phát triển kinh tế biển của một số quốc gia trong khu vực và
một số địa phương trong nước có những điều kiện tương đồng với
tỉnh Bình Định để rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển
kinh tế biển ở tỉnh Bình Định.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Bình Định từ năm 2005 đến năm 2016, tìm ra và tổng kết những
điểm yếu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy
phát triển kinh tế biển ở tỉnh Bình Định đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự phát triển kinh tế biển.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
-Về không gian: là tỉnh Bình Định.
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu mốc thời gian từ năm 2005
đến năm 2016.
khuyết điểm và nguyên nhân của những khuyết điểm.
- Đề xuất thực hiện nhiều giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát
triển kinh tế biển ở tỉnh Bình Định đến năm 2025, góp phần làm giảm
thiểu mâu thuẫn lợi ích trong khai thác và sử dụng tài nguyên biển,
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu về kinh tế biển của tỉnh Bình Định góp
phần làm rõ hơn nhiều nội dung về mặt lý luận, sẽ là nguồn tài liệu
3
tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu về kinh tế biển của nhiều địa
phương và của Việt Nam.
- Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ quan
hoạch định chính sách về phát triển kinh tế biển ở các Bộ, ngành và
tỉnh Bình Định; có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên
cứu, giảng dạy về phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền cũng
như mở rộng hợp tác quốc tế về biển.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần phụ lục, phần tóm tắt bằng tiếng Anh, phần nội dung gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế biển
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh Bình Định
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở
tỉnh Bình Định đến năm 2025
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về biển với nội dung phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước và của các địa phương ven biển và hải đảo
Cuốn “ Biển và cảng thế giới” (2002) do Phạm Văn Giáp (chủ
biên), Phan Bạch Châu, Nguyễn Ngọc Huệ, Nxb Xây Dựng, Hà Nội.
Cuốn “Chính sách ngành thủy sản Việt Nam” (2007) của Viện kinh tế
và Quy hoạch thủy sản, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.
5
Cuốn“Kinh tế biển Việt Nam, tiềm năng, cơ hội và thách thức”
(2008) của Tạp chí Tổ chức nhà nước- Trung tâm thông tin Focotech,
Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội.
Cuốn “Nền kinh tế các tỉnh vùng biển Việt Nam” (2009) của
Thế Đạt, Nxb Lao động, Hà Nội.
Cuốn “Đổi mới và phát triển vùng kinh tế ven biển”(1999) của
T.S. Lê Cao Đoàn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Không chỉ được viết dưới dạng sách, kinh tế biển cũng là đề tài
được nhiều nghiên cứu sinh thuộc nhiều chuyên ngành lựa chọn,
nghiên cứu, nhưng được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về biển, kinh tế biển với nội dung
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển
Bài viết “Tiềm năng và vấn đề đặt ra của kinh tế biển Việt
Nam” của TS. Phạm Đức Ngoan in trong cuốn “Một số vấn đề trong
chiến lược biển Việt Nam”(2011), Nxb Thanh niên.
Cuốn sách “Bảo vệ môi trường biển – vấn đề và giải pháp”
(2004), của PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao, Nxb, Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
Cuốn “Cơ sở tài nguyên và môi trường biển” (2005) của tác giả
trường hợp xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định)” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuyên.
Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế phát triển của Nguyễn
Cao Phát “Phát triển vận tải biển tại tỉnh Bình Định” (2012). Luận
văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thủy Lanh: “Kinh tế biển trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (1986 – 2015) (2016)...
1.3. Những vấn đề được tập trung nghiên cứu và những khoảng
trống liên quan đến đề tài luận án
7
1.3.1. Những vấn đề được tập trung nghiên cứu liên quan đến đề
tài luận án
Thứ nhất, đa số các công trình nghiên cứu đều đề cập đến khái
niệm biển, kinh tế biển và đều xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế
biển ở các địa phương trong cả nước và các quốc gia khác.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về biển, kinh tế biển đều
nêu bật vai trò đặc biệt quan trọng của biển và kinh tế biển đối với
phát triển kinh tế xã hội của địa phương và quốc gia thông qua những
đóng góp cụ thể cho sự tăng trưởng kinh tế của địa phương và quốc
gia nghiên cứu.
Thứ ba, đa số các luận văn, luận án, các bài báo trên đi sâu vào
nghiên cứu một số lĩnh vực cụ thể của kinh tế biển.
1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tập
trung giải quyết
Thứ nhất, mối quan hệ về phát triển kinh tế biển và quản lý
kinh tế biển vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng với tầm quan
trọng của nó.
Thứ hai, các công trình này đã chưa đề cập đến một cách toàn
Thứ nhất,kinh tế biển đối với phát triển kinh tế nói chung.
Thứ hai, phát triển kinh tế biển góp phần giải quyết việc làm,
tăng thu nhập và đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn;
phát triển cơ sở hạ tầng.
Thứ ba, góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ vững
độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia trên biển và mở rộng hội nhập
kinh tế quốc tế.
2.2. Nội dung phát triển kinh tế biển và những nhân tố ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế biển
2.2.1. Nội dung phát triển kinh tế biển
Phát triển kinh tế biển sẽ bao gồm các nội đung sau:
9
Thứ nhất,xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế biển và kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế biển
Thứ hai, phát triển các ngành kinh tế biển
Thứ ba, phát triển các thành phần kinh tế trong kinh tế biển
Thứ tư, đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư
Với những nội dung cơ bản trên, tiêu chí để đánh giá sự phát
triển kinh tế biển như sau:
Thứ nhất, phải có thể chế kinh tế biển hiện đại, gắn với mở
cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo an ninh quốc phòng.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực biển có trình độ chuyên
môn cao, làm chủ các công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao trong kinh tế biển.
Thứ ba, phát triển công nghệ mới, tiên tiến để có thể đẩy
mạnh hơn nữa các hoạt động khai thác biển.
Thứ tư, các lĩnh vực kinh tế trong cơ cấu kinh tế biển có sự
phát triển, tăng đều hàng năm cả về quy mô, diện tích, năng suất, sản
tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Bốn là, xây dựng các khu kinh tế mở hiện đại vùng ven biển,
đóng vai trò là đầu tàu, lôi kéo các địa phương khác cùng phát triển.
Giải quyết tốt vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong phát triển kinh
tế biển với những chính sách đặc thù.
Năm là, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong khai thác và
phát triển kinh tế biển.
11
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở
TỈNH BÌNH ĐỊNH
3.1. Điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội và tiềm năng phát triển
kinh tế biển ở tỉnh Bình Định
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Định
a. Điều kiện tự nhiên
Nhìn chung, những điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn của
Bình Định tương đối thuận lợi cho sự phát triển kinh tế biển, đặc biệt
là nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản.
b. Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong hơn 10 năm qua (tính từ năm 2005), trong điều kiện
đứng trước những thời cơ thuận lợi và khó khăn, sự điều hành của ủy
ban nhân dân tỉnh, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và các
tầng lớp nhân dân nên tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định ngày
càng khởi sắc và đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống
nhân dân ổn định và từng bước được nâng cao, quốc phòng, an ninh
được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
3.1.2. Tiềm năng phát triển kinh tế biển ở tỉnh Bình Định
b. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế biển
Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế biển ở tỉnh
Bình Định luôn dược chú trọng và thực hiện thường xuyên, nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế biển để đạt mục tiêu đã đề ra.
Việc kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế biển là vô cùng
quan trọng đối với các địa phương có biển nói chung, tỉnh Bình Định
nói riêng. Tuy nhiên, đối với tỉnh Bình Định, công tác thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm chưa toàn diện, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe,
việc quản lý hoạt động của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, cứng
13
nhắc, thiếu linh hoạt, đôi khi còn ảnh hưởng đến hoạt động của các
doanh nghiệp.
3.2.2. Các ngành kinh tế biển ở tỉnh Bình Định
a. Nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản
* Nuôi trồng thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản tỉnh Bình Định chủ yếu là nuôi thủy
sản nước lợ như tôm sú, tôm thẻ, cua, cá mú, cá măng ở các đầm và
vùng ven biển.
- Việc cung cấp giống phục vụ nuôi trồng thủy sản ở Bình
Định phụ thuộc vào 2 nguồn chính: nguồn sinh sản do nhân tạo và
nguồn sinh sản tự nhiên.
- Nghề nuôi trồng thủy sản tại các đầm phá nước lợ và trên
biển ở Bình Định trong những năm gần đây phát triển nhanh cả về
quy mô và hiệu quả.
* Khai thác thủysản
- Tỉnh Bình Định hiện có gần 42.500 ngư dân với truyền
thống đánh bắt hải sản khơi xa và di chuyển tới nhiều ngư trường với
nghề đánh bắt cá như: câu, vây, rê.
Bình Định cũng tích cực đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ
hậu cầ nghề cá thông qua nhiều chương trình, dự án. Mạng lưới dịch
vụ hậu cần nghề cá ở tỉnh cũng phát triển khá mạnh, góp phần giải
quyết việc làm và tăng thu nhập cho hàng ngàn lao động ở các địa
phương ven biển.
-Về khu neo đậu tránh, trú bão
Ngoài việc đầu tư nâng cấp các khu neo đậu tàu thuyền tránh
trú bão, để giải quyết tình trạng quá tải và nâng cao hiệu quả kinh tế
cho ngành thủy sản, tỉnh Bình Định đã quy hoạch đầu tư, xây dựng
thêm các khu neo đậu mới.
c. Du lịch biển
15
Từ tiềm năng, lợi thế địa phương, tỉnh Bình Định đã xác định
sẽ đưa du lịch, đặc biệt là du lịch biển trở thành ngành kinh tế quan
trọng của tỉnh. Thực tế cho thấy, phát triển du lịch, trong đó có du
lịch biển đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh.
3.2.3. Các thành phần kinh tế trong hoạt động kinh tế biển ở tỉnh
Bình Định
Đối với khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, kinh tế cá
thể, tiểu chủ là thành phần chủ yếu.
Thành phần kinh tế tập thể trong kinh tế biển ở tỉnh Bình
Định chủ yếu dưới hình thức tổ hợp tác khai thác xa bờ.
Kinh tế nhà nước hoạt động kinh tế biển tại tỉnh Bình Định
tuy được đầu tư lớn, nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
song quá trình hoạt động lại bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Nhằm cải
thiện hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp, nâng cao vai trò của người lao động, đảm
Tỉnh Bình Đinh đã có sự đầu tư trong việc phát triển nguồn
nhân lực phục vụ cho kinh tế biển nhưng hoạt động này chưa mang
lại hiệu quả như mong đợi: cơ cấu lao động không hợp lý giữa các
ngành kinh tế biển, đào tạo chưa gắn với yêu cầu thực tiễn, thiếu đội
ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu...
c. Về phát triển công nghệ mới, tiên tiến trong kinh tế biển
* Kết quả: một số lĩnh vực kinh tế biển áp dụng công nghệ
tiên tiến vào sản xuất, thay đổi cách thức sản xuất theo thói quen
truyền thống sang phương pháp hiện đại; trong chế biến hải sản, một
số doanh nghiệp đã đầu tư, áp dụng công nghệ hiện đại; tàu thuyền
nghề cá không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng trưởng đáng kể về
17
sự đầu tư các tàu có công suất lớn và tăng cường trang thiết bị hàng
hải, thông tin liên lạc...
* Hạn chế: trong chuyển đổi nghề khai thác gần bờ ra xa bờ,
phương thức sản xuất còn mang tính thủ công, lạc hậu; cơ sở hạ tầng
nghề cá chưa đáp ứng được yêu cầu; trình độ công nghệ khai thác,
bảo quản sản phẩm ở mức độ thấp...
d. Phát triển các lĩnh vực kinh tế trong cơ cấu kinh tế biển
* Kết quả: sản lượng khai thác thủy sản tăng liên tục, năm
sau cao hơn năm trước; nghề nuôi tôm đã có sự chuyển biến theo
hướng thâm canh, công nghiệp; cảng Quy Nhơn nhiều năm liên tục
vượt chỉ tiêu cơ bản; các cơ sở tham gia vào hoạt động du lịch của
tỉnh Bình Định tăng liên tục cả về số lượng và chất lượng...
* Hạn chế: các cơ sở chế biến chủ yếu quy mô nhỏ, lẻ, thủ
công; các doanh nghiệp chưa xây dựng tốt mối quan hệ liên kết giữa
sản xuất, cung cấp nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản
- Sự đầu tư cho kinh tế biển chưa thật sự thỏa đáng, hoặc có
đầu tư nhưng hiệu quả chưa cao.
Chương 4
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐẾN NĂM 2025
4.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Bình Định
4.1.1. Bối cảnh quốc tế
Ngay trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, biển, đảo đã trở
thành mối quan tâm, trở thành vấn đề chính trị, kinh tế, an ninh –
quốc phòng nóng bỏng ở nhiều khu vực trên thế giới.
Xu thế hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay cũng tác động
mạnh mẽ đến phát triển kinh tế biển.
19
Tình hình phức tạp của biển Đông, đặc biệt là các hoạt động
phi pháp của Trung quốc ở biển Đông.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay đang trở
thành mối quan tâm hàng đầu của các nền kinh tế trên toàn thế giới
vàViệt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó.
4.1.2. Bối cảnh trong nước
Những chủ trương, biện pháp mà Đảng và Nhà nước đưa ra
từng bước được cụ thể hóa trong các lĩnh vực kinh tế biển. Nhờ đó,
các lĩnh vực kinh tế biển nước ta đã có bước chuyển biến đáng kể và
đạt được những kết quả quan trọng.
4.2. Định hướng phát triển kinh tế biển
4.2.1. Định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Hội nghị thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
triển kinh tế biển của tỉnh Bình Định
- Có chính sách ưu đãi phát triển kinh tế biển
- Chính sách đảm bảo an toàn, an ninh cho các hoạt động
kinh tế biển
4.3.3. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế biển
- Bằng nhiều hình thức, định kỳ hoặc đột xuất, các ban ngành
của tỉnh có thể kiểm tra, thanh tra việc thực thi chính sách, pháp luật
về biển, kinh tế biển.
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực
hiện Quy hoạch tổng thể phát triển đến năm 2020, tầm nhìn 2030
trong lĩnh vực thủy sản, cảng biển, du lịch...
- Có sự phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các Sở ngành trong
quy hoạch...
4.3.4. Giải pháp về môi trường
Tỉnh Bình Định cần phải đầu tư về vốn để mua sắm các thiết bị
đo đạc hiện đại; xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn
21
trong lĩnh vực quan trắc, có thể tiếp cận được kỹ thuật, công nghệ
mới...
Có hình thức xử phạt thật nặng và cụ thể đối với các cá nhân,
tổ chức đổ nước thải ra biển khi chưa qua xử lý.
4.3.5. Giải pháp về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Bình Định
a. Thu hút vốn trong nước
- Thứ nhất, huy động nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước.
- Thứ hai, phát hành trái phiếu địa phương
- Thứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Quy hoạch chi tiết vùng nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ
cao tại đầm Đề Gi, Trà Ổ theo hướng bền vững, bảo vệ nguồn lợi,
môi trường.
4.3.8. Liên kết phát triển vùng duyên hải Miền Trung
Phải có sự thống nhất giữa các tỉnh duyên hải miền Trung
trong xây dựng, thực thi các chính sách và cơ chế phát triển chung
của cả vùng, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững, nâng cao sức
cạnh tranh khi giao nhập vào thị trường quốc tế.
4.4. Kiến nghị
-Đối với Trung ương
+ Để tạo thuận lợi trong phát triển kinh tế biển, Trung ương
nên kéo dài thời gian triển khai Nghị định 67/2014/NĐ- CP về một số
chính sách phát triển thủy sản, giúp tỉnh có thêm thời gian hiện đại
hóa đội tàu đánh bắt xa bờ.
+Hiện nay, Luật Thủy sản đang đang được dự thảo sửa đổi, bổ
sung trình Quốc hội thông qua trong năm 2017, do đó, đề nghị Quốc hội
xem xét quy định rõ về một số nội dung trong dự thảo Luật.
23