PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐÊ
I. Lí do chọn đề tài
Xuất phát từ mục tiêu chung “Nâng cao tính chủ động, phát huy tính tích
cực, tư duy của học sinh”. Môn Mỹ Thuật ở trường THCS góp phần thực hiện
mục tiêu trên đó là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể
chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản để hình thành nhân cách con người, hiểu được
cuộc sống và luôn biết vươn đến cái: Chân - Thiện - Mỹ.
Phần lớn, tầng lớp trí thức là tất cả mọi đối tượng, mọi tầng lớp trong xã
hội. Mỗi lứa tuổi lại có những cách cảm nhận, suy nghĩ và lí giải về cái đẹp khác
nhau. Người lớn có cách cảm nhận logic, còn trẻ em thì có cái nhìn vô tư, trong
sáng. Chúng ta biết rằng: Mỹ Thuật là một trong những môn học đặc thù, giữ vai
trò quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ ở trường phổ thông hiện nay. Đó là môn
học về cái đẹp, khơi dậy tư duy sáng tạo trong tâm hồn trong sáng, thơ ngây và
đáng yêu của lứa tuổi thiếu nhi. Dạy nghệ thuật nói chung và dạy Mỹ Thuật nói
riêng, không phải là đưa ra một công thức cứng nhắc để làm, để vẽ mà điều cốt
lỏi quan trọng là lối tư duy, tạo điều kiện cho sự phát triển tưởng tượng, khả
năng sáng tạo của trẻ em.
Nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội,
cho nên việc nhìn nhận và thưởng thức cái đẹp của đại bộ phận nhân dân là vấn
đề tất yếu khách quan, không chỉ là đối với người sáng, nhìn sự vật qua lăng
kính màu hồng, không vướng những nguyên tắc, trăn trở mà tập trung tình cảm,
sự yêu thích của mình vào mỗi bài vẽ.
Đồng thời, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Những năm qua, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của giáo dục, đặc biệt là chất
lượng của nó, cùng với sự phát triển ngày càng cao của con người về đức dục,
trí dục, thể dục thì mỹ dục cũng không ngừng phát triển và dần có vai trò quan
trọng trong đời sống của mỗi con người và nhất là thế hệ trẻ.
Dạy – học Mĩ Thuật ở trường THCS không phải nhằm đào tạo họa sĩ hay
người làm nghệ thuật mà nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho các em. Chủ yếu
tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra
cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng học sinh muốn
giác của các em rất tốt, hứng thú ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt. Đặc biệt
là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các em thể hiện
tính tò mò, ham hiểu biết. Tuy nhiên sự phát triển hứng thú học tập của học sinh
phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức học tập cho học sinh của giáo viên.
IV.Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp quan sát.
+ Phương pháp đặt vấn đề và giao nhiệm vụ.
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
I. CÁC CƠ SỞ LÀM ĐÊ TÀI
1.1.Cơ sở lí luận:
Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, thực hiện các công văn chỉ đạo
của ngành là phát huy tính tích cực học tập của học sinh để lĩnh hội kiến thức
đầy đủ và có hệ thống.
Thực hiện cuộc vận động hai không với 4 nội dung và các quyết định, nghị
quyết của ngành cũng như của Đảng, Nhà Nước.
1.2.Cơ sở thực tiễn:
Những quan niệm của mình về cách gây hứng thú của học sinh toàn diện
hơn đã đưa ra các khái niệm quan hệ giữa sự hứng thú học môn Mĩ Thuật với
sự phát triển nhân cách và sự tích cực học tập của học sinh.
Những năm gần đây hứng thú học tập đã được như là một động cơ có ý
nghĩa hoạt động của học sinh, chính việc nghiên cứu này làm sáng tỏa thêm sự
hứng thú của học sinh tự học nó cũng một là thuộc tính của nhân cách.
Ở trường THCS trong những năm gần đây một số giáo viên đã có nhiều
sáng kiến kinh nghiệm viết về nhiều chủ đề khác nhau, nhưng chưa đi sâu vào
việc tìm hiểu học sinh có hứng thú học ở bộ môn mình giảng dạy và cũng chính
vì điều này mà tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm là tìm ra một số biện pháp gây
- Có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy Mĩ Thuật cho học sinh như:
bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 6 đến lớp 9 sách tham khảo, một số
tranh ảnh về tượng, phù điêu, ...
+ Cơ sở vật chất :
Nhà trường quan tâm đầu tư công nghệ thông tin cho dạy học. Vì thế
góp phần thuận tiện cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh. Học sinh lúc
nào cũng có đủ đồ dùng, không bị quên ở nhà.
2.2 . Khó khăn
+ Về nhận thức :
- Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môm Mĩ Thuật vẫn
còn gặp phải một số khó khăn :
- Do quan niệm của một số giáo viên, một số bậc phụ huynh ,sự thiếu
quan tâm mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh, ... Điều đó ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác
chán nản, không tự tin làm bài. Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên
giảng dạy bộ môn về phương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp
dẫn, lôi cuốn học sinh, trình bày bảng còn vụng về, lúng túng,... dẫn đến học sinh
không lắng nghe, không tập trung tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục
tiêu của bài học. Điều đó khiến cho các em không thích thú với bài học, thể hiện
tác phẩm của mình qua loa, đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và
vận dụng vào cuộc sống hàng ngày.
+ Trang thiết bị dạy học :
- Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế
đời sống dân trí còn nghèo, hầu hết là con em thuần nông nên điều kiện để phụ
huynh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn hạn chế, điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến tinh thần học tập của các em.
- Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : phòng học chức
năng, vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan, ... vì
trong đời sống. Những xúc cảm, thái độ chỉ có thể hình thành dưới sự dẫn dắt
của người thầy mà kết quả của nó là hệ quả của rất nhiều yếu tố như: cách tổ
chức tiến hành bài giảng, hình thức hoạt động, công cụ trực quan, phương tiện
dạy học, giọng nói và cả khả năng khuấy động lớp học như một MC của giáo
viên…
Tuy nhiên để có thể thực hiên, áp dụng nó vào bài dạy cụ thể thì trước hết
chúng ta phải hiểu được con đường để hình thành nên sự hứng thú. Thứ nhất
đó là sự hấp dẫn một cách tự phát không vì bất cứ lí do gì, trường hợp này trong
quá trình giảng dạy Mỹ Thuật chúng ta có bắt gặp nhưng không nhiều, có lẽ là vì
ngôn ngữ của Mỹ Thuật khá trừu tượng. Thứ hai đó là sự hấp dẫn về hình thức
khiến người ta say mê khám phá dẫn đến nhận thức về bản chất của sự vật, cái
này chúng ta thấy nhiều ở sinh viên các trường chuyên nghiệp. Thứ ba là từ chỗ
hiểu được ý nghĩa của đối tượng mà dẫn đến bị hấp dẫn lôi cuốn , đây là trường
hợp mà chúng ta bắt gặp nhiều nhất trong quá trình giảng dạy.
Song nói gì thì nói kĩ thuật và phương pháp giảng dạy mới đặc biệt quan
trọng. Trước đây , khi còn là sinh viên trong quá trình thực tập , chứng kiến một
số bài dạy của giáo viên và sinh viên, mặc dù có sự chuẩn bị khá đầy đủ nhưng
hiệu quả thì chưa phải là tốt nhất. Lí do là bởi các bạn không tìm cho mình một
phương pháp riêng để lý giải một vấn đề mà hầu hết tất cả đều na ná giống
nhau, một bài trình chiếu PowerPoint đẹp không có nghĩa là nó hiệu quả và gây
được hứng thú khi mà các bạn cứ liền tù tì một mạch từ slide này sang slide
khác và kết thúc bằng việc đưa giấy ra thực hành. Bởi với tôi mục đích của trình
chiếu là để hỗ trợ người giáo viên làm sáng tỏ vấn đề để đưa đến một kết luận
nào đấy, có những lúc các bạn phải dừng lại kết hợp với bảng để lí giải nó, mô
phỏng nó. Cũng như không phải các bạn cứ đưa một số bức tranh ra với một
loạt câu hỏi đại loại như: các bức tranh vẽ đề tài gì? Màu sắc ra sao? Bố cục
như thế nào?…và rồi đưa ra kết luận về đặc điểm của một trường phái nghệ
thuật nào đó. Có rất nhiều cách thức để chúng ta thực hiện , một câu hỏi mang
những điều đó cũng gây được hứng thú của học sinh.
- Tở chức trò chơi để gây hứng thú cho học sinh bằng cách cho học sinh
tìm ra những hình ảnh cần vẽ về đề tài ngày tết và mùa xn nhóm nào tìm
được nhiều sẽ có phần thưởng. Trò chơi học tập là hình thức học tập thơng qua
trò chơi. Trò chơi học tập khơng chỉ nhằm vui chơi giải trí mà còn góp phần củng
cố tri thức, kỹ năng học tập cho học sinh. Việc sử dụng trò chơi học tập trong
q trình dạy học nhằm làm cho việc hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng
của học sinh bớt đi vẻ khơ khan, tăng thêm phần sinh động hấp dẫn.
- Thực hành cũng cần tạo cho học sinh khơng khí thoải mái khơng gò ép học
sinh theo khn mẫu, các em có thể thoải mái thể hiện ý tưởng của mình.
Ví dụ 2: Để dạy bài “Tạo dáng và trang trí thời trang”, lơùp 9 đối
vơùi phân môn vẽ trang trí thì ta coù thể tự làm một bộ tranh vẽ caùc
maãu thời trang khaùc nhau, vơùi chất liệu phong phuù như:
+ Sử dụng nhiều chất liệu màu: màu nươùc, màu bột, saùp màu, chì
màu, màu sơn…
+ Ngoài tô màu ta coù thể sử dụng giấy màu để xeù daùn (những
mảng giấy màu thủ công hoặc những màu trên lòch, baùo…).
+ Dùng những sợi len, vải vơùi nhiều màu saéc khaùc nhau, sử dụng keo
kết dính chuùng lại thành maãu ao thời trang theo yù thích rồi dùng hoa
khô hoặc hoa nhựa trang trí thêm tạo sự hấp daãn hơn cho moãi
maãu áo thời trang.
+ Dùng những phế phẩm khaùc như giấy boùng nhựa vơùi nhiều màu
saéc khaùc nhau được caét nhỏ rồi trải đều trên maãu ao thời trang và
cũng dược kết nối bằng keo dính.
Tương tự như thế thì ta coù thể tìm nhiều loại phế phẩm khaùc để
tự làm đờ dùng dạy học cho những dạng bài như thế này để tạo được
sự kích thích, tò mò saùng tạo ở moãi học sinh. Và đặc biệt hơn là khi
tạo daùng maãu thời trang phải tạo theo 2 kiểu trang trí đoù là kiểu trang
Lập tiến trình khoa học xây dựng kiến thức:
Các nội dung cơ bản của tiến trình khoa học xây dựng kiến thức bao gờm:
kiến thức cần dạy.
3.3.Tổ chức triển khai và thực hiện:
Muốn tạo hứng thú cho học tập của học sinh qua việc đởi mới phương pháp
dạy học có hiệu quả thì giáo viên cần phải:
Naém vững đối tượng học sinh, tạo được nhu cầu học tập cho caùc
em.
Nắm vững chương trình ở các phân mơn, từng bài học cụ thể, từng đờ vật, mẫu
vật có trong bài và sự chuẩn bị. Trong giờ học giáo viên cần chú ý đến những
học sinh khơng có khả năng năng khiếu, khơng q nặng nề, thoải mái vì dạy Mĩ
Thuật là một nghệ thuật mà giáo viên dạy Mĩ Thuật cần phải nghệ thuật hơn.
3.4 Hiệu quả của SKKN
Trong q trình dạy học khi tơi đởi mới phương pháp dạy học thì học sinh có
hứng thú học tập hơn và qua q trình khảo sát đã đạt được kết quả có chuyển
biến rõ rệt:
Kết quả học kỳ I năm học 2011 – 2012:
Số tt
Khối
1
2
Khối 6
Khối 8
Kết quả khảo sát
Giỏi %
PHẦN III : KẾT LUẬN
1. Kết luận chung
Qua thực tế giảng dạy trong những năm qua tôi luôn xác định được mục tiêu
trong nhà trường THCS, đồng thời cũng hiểu sâu sắc được vai trò của môn Mĩ
thuật trong việc giáo dục học sinh phát hiện ra những mặt hạn chế và có một giải
pháp nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn Mĩ Thuật. Tôi thấy việc nắm
vững phương pháp và cách tổ chức cơ bản về môn Mĩ Thuật cũng như việc xây
dựng cho mình một cách tổ chức dạy học vững chắc còn có tìm ra những giải
pháp dạy học phù hợp của môn Mĩ Thuật sẽ có tác dụng và ý nghĩa rất quan
trọng trong hoạt động dạy và học, giúp cho giáo viên có một định hướng đúng
đắn, phù hợp một cách thức tổ chức giờ hợp lý giúp cho học sinh hứng thú tìm
hiểu, khám phá thế giới thẩm mĩ một cách say mê, hấp dẫn, góp phần giáo dục
nên những con người toàn diện hơn theo 4 mục đích : Đức - Trí - Thể - Mỹ. Nó
giúp học sinh hoàn thiện nhân cách có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, quý
trọng mọi người, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp hơn, từ đó điều chỉnh
nên những con người mới với những nhân cách tốt.
- Muốn giảng dạy tốt môn học trước hết giáo viên phải hiểu được mục đích
yêu cầu của môn học từ đó tìm ra cho mình một định hướng giảng dạy đúng
đắn.
- Phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ cảm nhận
của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học.
- Luôn luôn tôn trọng gần gũi học sinh.
- Phải có tính kiên trì công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời đối với
các em.
- Áp dụng nhiều phương pháp trò chơi, phương pháp thích hợp, không áp đặt
đòi hỏi quá cao đối với học sinh để giúp các em yêu thích môn học và học tốt
hơn.
- Trong tiết học luôn tạo không khó vui vẻ thoải mái nhẹ nhàng, thu hút lòng
say mê của các em đối với tiết học, môn học.
Người viết sáng kiến
Lê Thị Ánh Hồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn mĩ thuật THCS.
Tác giả: Đàm Luyện, Bạch Ngọc Diệp, Nguyễn Quốc Toản. Năm 2008.
- Thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá.
Tác giả PGS –TS Đặng Thành Hưng.
- Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ( phần 1)
Tác giả: trần Nguyên Bình, Võ Quốc Thạch, Nguyễn Thị Ngọc Bích.
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐÊ:..............................................................................
1 Lí do chọn đề tài………………………………………………………………
2. Thực trạng …………………………………………………………………...
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ……………………………………………….
I. Các Cơ sở lí luận:…………………………………………………………… .
1.1 Cơ sở lí luận…………………………………………………………………
1.2 Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………….
II. Thực trạng của vấn đề:……………………………………………………….. .
2.1Thuận
lợi……………………………………………………………………… .
2.2 Khó khăn………………………………………………………………………
III. Biện pháp, giải pháp thực hiện……………………………………………….
3.1.Cơ sở xuất phát các giải pháp……………………………………………… ..