VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN THÀNH
CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
TỪ THỰC TIỄN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN THÀNH
CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ
TỪ THỰC TIỄN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ NGÂN
HÀ NỘI - 2017
NƢỚC VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ................ 6
1.1. Những vấn đề cơ bản về công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh .................. 6
1.2. Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh ........................... 18
1.3. Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế và bài
học vận dụng trên địa bàn tại Thành phố Hà Nội ..................................................... 28
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI......................................................... 34
2.1. Đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế của Thành phố Hà Nội................... 34
2.2. Đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế của
Thành phố Hà Nội ................................................................................................................... 43
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .... 60
3.1. Phương hướng xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh từ
thưc tiễn của thành phố Hà Nội ............................................................................................. 60
3.2. Giải pháp xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh từ thực
tiễn Thành phố Hà Nội............................................................................................................ 63
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ĐTBD
: Đào tạo bồi dưỡng
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và bộ máy hành chính nhà nước
nói riêng xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả hoạt
động của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước (QLNN). Công
chức quản lý nhà nước về kinh tế là một bộ phận của cán bộ, công chức nhà nước
và là nguồn nhân lực quan trọng của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa
phương. Nguồn nhân lực này quyết định việc hoàn thành chức năng nhiệm vụ của
bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá khoa học đối
với đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và
phát triển đất nước.
Trong công cuộc đổi mới, nhất là giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta hiện nay, bước đầu chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan
trọng, tạo tiền đề cho đất nước tiếp tục đi lên theo con đường mà Đảng và nhân dân
ta đã chọn. Sự nghiệp đổi mới kinh tế của nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả
về lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề công tác cán bộ. Cán bộ là nhân tố quyết
định sự thành bại của công cuộc đổi mới, vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức nói chung và công chức quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là nhiệm vụ then chốt.
Trong những năm gần đây, đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế
bước đầu đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kinh tế thị trường, về quản lý nhà
nước, hành chính, pháp luật, ngoại ngữ, … Tuy nhiên so với yêu cầu, nhiệm vụ mới
đang đặt ra, chất lượng của đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế hiện nay
chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực xây dựng chính sách, tổ chức điều
hành, thực thi công vụ còn hạn chế, ... cộng với xu hướng cạnh tranh, thu hút nhân
tài từ khu vực kinh tế nước ngoài và kinh tế tư nhân đang làm cho chất lượng đội
ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế chậm được cải thiện. Mặt khác, vẫn còn
một bộ phận công chức sa sút về phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm.
1
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học liên
quan đến nội dung của đề tài này. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
- Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) (1997), đề tài cấp Bộ:
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức.
- GS.TS Nguyễn Phú Trọng, PGS.TS Trần Xuân Sầm (2003), đề tài nghiên
cứu khoa học, công nghệ cấp Nhà nước: Luận chứng khoa học cho việc nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
- Lê Khắc Ngọc (2008), Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học Viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
quản lý nhà nước về kinh tế cấp cơ sở tỉnh Thanh Hóa.
- Trần Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ “Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy
Nhà nước và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong tình hình hiện nay”. Tạp chí
Cộng sản, Số 22 (142) năm 2007; “Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức”. Tạp chí Cộng sản, Số 22 (166) năm 2008.
- Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ “Công tác cán bộ trong tình
hình mới”. Tạp chí Xây dựng Đảng, mục Lý luận - Thực tiễn - Kinh nghiệm,
; ngày 05/6/2008.
Các công trình trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, về đội ngũ công chức quản lý nhà
nước về kinh tế nói riêng. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên
cứu riêng về đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích rõ thêm một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn; đề xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đội
ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh của thành phố Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào điều kiện thực tế tại địa phương.
- Kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu liên quan.
- Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống,
so sánh, thống kê dựa trên những tài liệu, tư liệu, báo cáo, kết luận, … của địa
phương và toàn quốc.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Khẳng định sự cần thiết của công tác xây dựng đội ngũ công chức quản lý
nhà nước về kinh tế cấp tỉnh tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Góp
phần hoàn thiện khung lý luận về xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về
kinh tế tại cấp tỉnh ở nước ta.
- Đánh giá một cách thực trạng công tác xây dựng đội ngũ công chức quản lý
nhà nước về kinh tế cấp tỉnh tại Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp trong công tác xây dựng đội ngũ công chức quản lý
nhà nước về kinh tế cấp tỉnh tại Thành phố Hà Nội.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công chức quản lý nhà nước về kinh tế
cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2: Thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp
tỉnh của Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh
tế cấp tỉnh của trong giai đoạn hiện nay.
5
ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà
nước nói chung.
6
Khái niệm công chức được xác định lại tại Nghị định số 169/HĐBT ngày
25/5/1985. Nghị định này quy định cán bộ, công chức là “công dân Việt Nam được
tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà
nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào
một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”.
Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ,
công chức và được sửa đổi bổ sung năm 2003. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp
lệnh là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, Pháp lệnh không đưa ra giới hạn để phân biệt thế nào là cán bộ, thế nào
là công chức, ai là cán bộ, ai là công chức.
Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh có nhiều văn bản của các cơ quan nhà nước,
trong đó có Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định 117/2003/NĐCP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ trong
các cơ quan nhà nước.
Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, ngày 9/12/2008 Quốc hội ban hành Luật
cán bộ, công chức, có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2010 quy định cụ thể hơn về
công chức, phân biệt và giải thích rõ cán bộ và công chức.
Khái niệm Công chức tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008
quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy
ban nhân dân [25].
Theo Hiến pháp năm 2013, bộ máy nhà nước của nước ta được cấu trúc theo
hai cấp trung ương và địa phương với ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Để phù hợp đề tài công chức QLNN về kinh tế cấp tỉnh, trong luận văn
này, chỉ đề cập đến các cơ quan có chức năng ban hành và thực thi các quyết định
quản lý kinh tế cấp tỉnh, tức một bộ phận thuộc Hội đồng nhân dân (HĐND) và
UBND cấp tỉnh. Phù hợp với cách tiếp cận như vậy, QLNN về kinh tế được hiểu theo
8
nghĩa hẹp gồm những hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành nền
kinh tế, được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền hoạch định và tổ chức thực
hiện các quyết định quản lý có tính nhà nước, được phân cấp theo thẩm quyền. Nội
dung của QLNN về kinh tế gồm hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát
quá trình thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.
Kế thừa những định nghĩa nêu trên, Công chức quản lý nhà nước về kinh tế có
thể được hiểu là những người làm việc trong cơ quan nhà nước thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về kinh tế; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế.
Hệ thống các cơ quan QLNN về kinh tế được tổ chức theo các cấp từ Trung ương
đến địa phương. Cơ quan QLNN về kinh tế ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
là một cấp trung gian trong hệ thống này, thực hiện nhiệm vụ kết nối giữa trung ương với
địa phương, đảm bảo sự lãnh đạo, quản lý thông suốt từ trên xuống dưới.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể xác định khái niệm công chức quản
lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh như sau:
Công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh là những người làm việc
trong cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về kinh tế; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh.
công chức giữ chức vụ từ phó trưởng phòng sở hoặc tương đương đến chức vụ giám
đốc sở hoặc tương đương.
- Công chức QLNN về kinh tế không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đó là
những công chức làm việc trong bộ máy QLNN về kinh tế, không bao gồm những
công chức giữ chức vụ từ phó trưởng phòng sở hoặc tương đương đến chức vụ giám
đốc sở hoặc tương đương nêu ở trên. Những công chức này được đào tạo ở một
trình độ chuyên môn nhất định.
* Cơ cấu theo lĩnh vực quản lý, công chức QLNN về kinh tế cấp tỉnh được
phân thành các nhóm:
- Công chức QLNN về kinh tế trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp.
- Công chức QLNN về kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
- Công chức QLNN về kinh tế trong lĩnh vực sản xuất dịch vụ.
Việc phân chia công chức QLNN về kinh tế theo lĩnh vực quản lý chỉ mang
tính tương đối bởi các lĩnh vực sản xuất này luôn có sự đan xen với nhau.
10
1.1.3. Đặc điểm của công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh
Ngoài những đặc điểm chung của công chức QLNN, công chức QLNN về
kinh tế thường có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, công chức QLNN về kinh tế làm công tác quản lý chuyên nghiệp
về kinh tế, phải được đào tạo theo các lĩnh vực chuyên môn thích hợp.
Thứ hai, công chức QLNN về kinh tế bị cám dỗ rất lớn, có thể bị mua chuộc
hoặc gây áp lực để ảnh hưởng đến việc phân phối sử dụng nguồn lực công do công
chức QLNN về kinh tế nắm giữ. Nói các khác, công chức QLNN về kinh tế có nguy
cơ và áp lực dẫn đến tiêu cực rất lớn.
Bộ máy QLNN ở nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất
ở Trung ương, đồng thời phân cấp hợp lý cho chính quyền địa phương. Do đó, mỗi
cơ quan QLNN về kinh tế ở cấp tỉnh phải chịu sự lãnh đạo song trùng: Lãnh đạo
phố Hà Nội đó là:
Thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, phát triển và quản lý Thủ đô theo quy
định của Luật Thủ đô năm 2012.
Nội dung công tác phức tạp do cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Nội bao gồm
cả kinh tế đô thị, kinh tế nông thôn và kinh tế miền núi. Bênh cạnh đó, trình độ phát
triển kinh tế của các quận, huyện, thị xã cũng có sự khác biệt rất lớn.
Do thành phố Hà Nội là trung tâm đối ngoại của cả nước nên kinh tế đối
ngoại cũng rất phát triển, đòi hỏi công chức QLNN về kinh tế phải có chuyên môn
nghiệp vụ cao về kinh tế đối ngoại.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm “Phối hợp với
cơ quan, tổ chức hữu quan bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan trung ương, các
hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước’ [35].
1.1.4. Vai trò của đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò QLNN về kinh tế có xu hướng tăng lên.
Sự vận hành của hệ thống chính sách và các công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả hay
không phần lớn phụ thuộc vào khả năng, trình độ của đội ngũ công chức QLNN về
kinh tế. Nước ta đang từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, vì vậy, vai trò của đội ngũ công chức QLNN về kinh tế ngày càng nổi trội,
là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại
của sự nghiệp đổi mới đất nước. Vai trò đó được thể hiện như sau:
- Công chức QLNN về kinh tế có vai trò quyết định trong việc hoạch định
đường lối, chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách,
12
cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật kinh tế trong phạm vi cả nước, từng ngành,
từng lĩnh vực, từng địa phương.
- Là bộ phận quan trọng trong quá trình triển khai và tổ chức thực hiện
đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước; là đội ngũ tiếp thu, chọn lọc, tổng
1.1.5.1. Yêu cầu về phẩm chất đối với công chức quản lý nhà nước về kinh tế
cấp tỉnh
Phẩm chất là yếu tố cơ bản, cực kỳ quan trọng đối với tất cả công chức, yêu
cầu về phẩm chất đối với công chức bao gồm cả phẩm chất chính trị và đạo đức.
Phẩm chất chính trị là yêu cầu quan trọng cơ bản nhất đối với đội ngũ công
chức nhà nước. Đó là sự trung thành, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với
mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn; nhiệt
tình cách mạng, gương mẫu, tận tụy có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công
việc, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân.
Yêu cầu cụ thể về phẩm chất chính trị của đội ngũ công chức quản lý nhà
nước về kinh tế cấp tỉnh là:
Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định
với quan điểm, đường lối của Đảng, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà
nước, tích cực trong công cuộc đổi mới đất nước.
Có bản lĩnh và kiên định trong công việc được giao. Hoạt động trong quá
trình đổi mới, công chức quản lý nhà nước cấp tỉnh vừa cần phải có bản lĩnh chính
trị vững vàng, vừa phải rất năng động, sáng tạo. Tùy từng vị trí, thẩm quyền của
mỗi công chức quản lý nhà nước về kinh tế khác nhau mà yêu cầu về phẩm chất
chính trị cũng khác nhau. Công chức giữ cương vị càng cao, phạm vi ảnh hưởng
càng rộng thì bản lĩnh chính trị càng phải vững vàng, nhất là các công chức có
nhiệm vụ đề ra chủ trương, đường lối, các chính sách của nhà nước.
Có khả năng tự hoàn thiện, tự quản lý, tự đánh giá kết quả công việc của bản
thân, đánh giá con người mà mình quản lý theo tiêu chuẩn chính trị.
Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người, tạo
được lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia.
Có tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao trong công việc.
Phẩm chất đạo đức của người công chức gồm hai mặt cơ bản: đạo đức xã hội
và đạo đức nghề nghiệp.
14
không vụ lợi, tư lợi cá nhân.
15
1.1.5.2 Yêu cầu về năng lực đối với công chức quản lý nhà nước về kinh tế
cấp tỉnh
Muốn quản lý có hiệu quả, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh
phải có năng lực nhất định phù hợp trong điều kiện mới. Yêu cầu về năng lực đối
với đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh bao gồm năng lực
chuyên môn và năng lực tổ chức, quản lý.
- Yêu cầu về năng lực chuyên môn:
+ Trước hết, công chức quản lý nhà nước về kinh tế phải có kiến thức chuyên
môn về lĩnh vực được giao, trách nhiệm quản lý, biết sử dụng và tập hợp các
chuyên gia giỏi, các công chức chuyên môn dưới quyền, giao đúng việc và tạo điều
kiện cho họ phát huy khả năng chuyên môn cho nhiệm vụ chung.
+ Phải có kiến thức về kinh tế thị trường, các kiến thức mới về kinh tế, đặc
biệt về Luật kinh tế, công ty cổ phần, thị trường chứng khoán, nắm vững bản chất,
cơ chế vận động để ứng xử, lựa chọn trong kinh doanh, để sử dụng công cụ điều tiết
kinh tế thị trường trong quản lý nhà nước.
+ Phải có kiến thức về khoa học quản lý hiện đại, hình thành đội ngũ công
chức quản lý chuyên nghiệp ở mọi cấp quản lý.
+ Trong hoạt động quản lý phải xuất phát từ thực tế sản xuất kinh doanh,
thực tế của từng địa phương, thực tế của đời sống kinh tế - xã hội để tìm lời giải,
biện pháp cụ thể, tránh giáo điều sách vở.
+ Trong điều kiện đất nước đang mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, công
chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh cần phải có kiến thức sâu rộng về pháp
luật và kinh tế quốc tế. Mặt khác phải có trình độ ngoại giao, ngoại ngữ, tin học để
có thể sử dụng tốt các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại và thực hiện tốt việc
giao dịch với các đối tác nước ngoài, nhất là với Thành phố Hà Nội – Thủ đô, trung
tài sản nhà nước sẽ bị thất thoát, lòng tin của người dân sẽ bị giảm sút, kinh tế sẽ bị
trì trệ và tình hình xã hội sẽ bất ổn.
1.1.5.3. Các yêu cầu khác
Ngoài các yêu cầu về phẩm chất và năng lực nói trên, công chức quản lý nhà
nước về kinh tế cấp tỉnh còn cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Kỹ năng về ứng xử và giao tiếp: Đây là kỹ năng giúp cho người công chức
quản lý nhà nước về kinh tế nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở
nhận diện và công nhận các giá trị, nhu cầu của các đối tượng giao tiếp. Khả năng
17
này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt về kiến thức cũng như kinh nghiệm xã hội của
người công chức quản lý nhà nước về kinh tế.
- Kỹ năng thuyết phục: Là kỹ năng làm cho người khác thấy được tính ưu
việt, hợp lý trong ý tưởng của mình. Có ý tưởng nhưng không thuyết phục được
người khác tin và làm theo thì chắc chắn sẽ thất bại. Mô hình các nhà quản lý “lẳng
lặng mà làm” không còn chỗ đứng trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đồng thời, người công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh còn phải
có kỹ năng công tác. Đó là tổng hợp những khả năng của công chức trong việc tham
mưu, kỹ năng sử dụng những công cụ, phương tiện làm việc để hoàn thành nhiệm
vụ được giao một cách thành thạo, dễ dàng, khéo léo. Khả năng này được tích lũy
thông qua quá trình được đào tạo, bồi dưỡng và tự trải nghiệm trong quá trình làm
việc. Đối với mỗi công chức quản lý nhà nước về kinh tế cần phải thông thạo các kỹ
năng phục vụ trực tiếp cho công việc của mình.
- Khả năng bao quát công việc, nắm bắt tình hình, đề xuất sáng kiến, biện
pháp nâng cao hiệu quả công tác trong thực tiễn. Đó là đòi hỏi của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và của kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.2. Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước