THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐỨC NINH - ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH - Pdf 47

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
-----o0o-----

ĐẶNG THỊ NGỌC MAI

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở
TRƯỜNG MẦM NON ĐỨC NINH - ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2012 - 2016

Quảng Bình, năm 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
-----o0o-----

ĐẶNG THỊ NGỌC MAI

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở
TRƯỜNG MẦM NON ĐỨC NINH - ĐỒNG HỚI - QUẢNG BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy

MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu. ................................................................. 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 2
3.2. Khách thể nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết. .............................................. 3
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn ............................................... 3
5.2.1. Phương pháp quan sát ................................................................................. 3
5.2.2. Phương pháp đàm thoại ............................................................................... 3
5.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động ..................................... 4
5.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ........................................................... 4
5.3. Phương pháp thống kê toán học ..................................................................... 4
6. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 4
7. Phạm vi và thời gian nghiên cứu ....................................................................... 4
7.1.Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 4
7.2.Thời gian nghiên cứu ...................................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận............................................................................................. 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG .................. 6
1.1.Tổng quan về lịch sử của vấn đề nghiên cứu .................................................. 6
1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài .................................................................. 6
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước .................................................................... 6


1.2. Một số vấn đề lí luận về công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
vào trường phổ thông ............................................................................................ 7
1.2.1. Sự cần thiết của việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
CHUẨN BỊ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ
THÔNG ............................................................................................................... 48
3.1. Tổ chức tốt các hoạt động ở trường mầm non. ............................................ 49
3.2. Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh ................................................................. 51
3.3. Thường xuyên liên hệ và phối hợp với trường phổ thông để làm tốt hơn
việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường phổ thông ........................ 53
3.4. Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn kiến thức nuôi dạy trẻ trong cộng
đồng, đặc biệt là trong các bậc cha mẹ có con 5 tuổi không gửi vào các cơ sở
giáo dục mầm non ............................................................................................... 54
3.5. Cho trẻ làm quen với trường tiểu học .......................................................... 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 57
1. KẾT LUẬN ..................................................................................................... 57
2. KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 58
2.1. Đối với nhà trường ....................................................................................... 58
2.2. Đối với giáo viên mầm non .......................................................................... 58
2.3. Đối với gia đình ............................................................................................ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 60


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc chuẩn bị cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi vào trường phổ thông ................................................................... 33
Bảng 2.2. Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc chuẩn bị cho trẻ mẫu
giáo vào trường phổ thông .................................................................................. 34
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên về những khó khăn mà trẻ gặp phải khi vào
lớp 1 ..................................................................................................................... 36
Bảng 2.4. Những nội dung chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường phổ thông
............................................................................................................................. 38

vào lớp 1, một bước ngoặt vô cùng quan trọng đối với trẻ. Nếu như bậc tiểu học
được coi là nền tảng cho quá trình học tập, nhận thức của trẻ thì bậc học mầm
non được coi là tiền đề cho những quá trình đó.
Trong mỗi giai đoạn phát triển trẻ đều mang những đặc điểm đặc trưng.
Việc chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một sự chuyển biến mang
tính nhảy vọt có sự biến đổi về chất và lượng. Sự phát triển ở một giai đoạn nhất
định vừa là kết quả của giai đoạn trước đó vừa là tiền đề cho bước phát triển của
giai đoạn tiếp theo. Nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn này cũng chính là sự
chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo.
Mặt khác, xã hội ngày càng quan tâm hơn đến việc chuẩn bị sẵn sàng cho
trẻ vào lớp 1.Tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng dễ dàng thích nghi được và
bước ngoặt này là một sự kiện quan trọng khiến các bậc cha mẹ và các nhà giáo
dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu trong
suốt thời kỳ mẫu giáo, mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để
thích nghi với cuộc sống ở trường phổ thông với hoạt động chủ đạo là hoạt động
học tập. Thế nhưng không phải ai cũng nhận thức vai trò quan trọng của việc
chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 và không phải ai cũng nhận thức rõ được những việc
làm cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Đối với trẻ nhỏ nếu bắt ép chúng tập luyện quá sớm khi các bộ phận chức
năng chưa thành thục sẽ tốn nhiều công sức của người dạy và làm khổ con trẻ.
Nhưng ngược lại, sự luyện tập vào lúc chớm nở sẽ gây được hào hứng và giúp
1


trẻ tiến bộ nhanh chóng. Luyện tập đúng lúc vừa gây được hứng thú vừa có hiệu
quả cao.
Hiện nay nhiều giáo viên mầm non chưa thực sự quan tâm đến việc chuẩn
bị cho trẻ vào lớp 1. Họ cho rằng việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là trách nhiệm
của phụ huynh. Bên cạnh đó, nhiều trường mầm non cơ sở vật chất, trang thiết
bị chưa đáp ứng đầy đủ cho việc dạy học gây nhiều khó khăn cho giáo viên.

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi vào trường phổ thông ở trường Mầm non Đức Ninh - Đồng Hới - Quảng
Bình.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác chuẩn
bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường phổ thông ở trường Mầm non Đức
Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp các
phương pháp sau:
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,
khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu để phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm
vụ của đề tài.
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp quan sát
Dùng để quan sát trẻ và giáo viên nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng.
5.2.2. Phương pháp đàm thoại
Tiến hành đàm thoại với giáo viên, phụ huynh và trẻ để thu thập thông tin
đánh giá thực trạng về công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường
phổ thông ở trường Mầm non Đức Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình, tìm kiếm
biện pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi vào trường phổ thông.

3


5.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động
Phát hiện những biểu hiện trong công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi vào trường phổ thông, từ đó tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả

Ngoài phần Mở đầu,Kết luận,Kiến nghị,khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lí luận về công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi vào trường phổ thông.
Chương 2:Thực trạng công tác chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào
trường phổ thông ở trường Mầm non Đức Ninh- Đồng Hới-Quảng Bình.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi vào trường phổ thông.

5


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1.Tổng quan về lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài
Bianka Zazzo với công trình nghiên cứu “Bước chuyển lớn từ Mẫu giáo
lên lớp 1” đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm vấn đề việc chuẩn bị về các
mặt nói chung của trẻ Mẫu giáo lớn. Đồng thời, bà càng làm rõ hơn những vấn
đề khó khăn của học sinh lớp 1 ở nước Pháp. Công trình của bà ít giải quyết các
vấn đề lý luận mà nhằm vào giải quyết các mặt thực tiễn của vấn đề.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của C.M. Sukina đề cập đến vấn đề thích ứng
của học sinh lớp 1. Bà cũng cho rằng học sinh lớp 1 có gặp khó khăn tâm lý khi
đến trường Tiểu học.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Có một số tác giả đã nghiên cứu quá trình chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ
thông ở tuổi Mẫu giáo lớn. Cụ thể:
Năm 1998, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã dành nhiều thời gian để nghiên
cứu những quan điểm khoa học, cũng như vấn đề cơ bản trong hoạt động của
học sinh Tiểu học từ đó đưa ra những mặt cần chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1
thông qua tài liệu tổng hợp “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông”,

Bước vào lớp 1, là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ. Đó là sự
chuyển qua một lối sống mới với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua
một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ mới với người lớn và
bạn bè cùng tuổi.
Tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang phát triển vào bước ngoặt quan
trọng trong cuộc đời. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại đã cho rằng “6 tuổi là
một bước ngoặt hạnh phúc”. Ở trường mầm non trẻ chơi là chủ yếu, đây là hoạt
động mang tính chất tự do, tự nguyện không bắt buộc. Vào lớp 1 trẻ phải thực
hiện nhiệm vụ của một người học sinh, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động
học tập. Từ hoạt động vui chơi mang tính chất tự do nay chuyển sang hoạt động
7


học tập mang tính bắt buộc, nghiêm túc, được tổ chức chặt chẽ có mục đích, có
kế hoạch, đòi hỏi trẻ phải cố gắng nhiều cả về thể xác lẫn tinh thần mới có thể
thực hiện được nhiệm vụ học tập và đạt kết quả học tập tốt đẹp. Vì thế, nếu được
chuẩn bị chu đáo và toàn diện cả về sức khỏe, trí tuệ và tình cảm đạo đức xã hội
cùng cả tâm thế sẵn sàng vào lớp 1sẽ giúp trẻ tự tin, dễ dàng thích ứng với môi
trường mới và hoạt động học tập ở lớp 1.
Quá trình phát triển của trẻ em trải qua nhiều giai đoạn từ giai đoạn này
chuyển sang giai đoạn khác là sự biến đổi về chất trong tâm lý trẻ và những
thành tựu đạt được ở một giai đoạn nhất định vừa là kết quả của giai đoạn trước
vừa là tiền đề cho bước phát triển tiếp theo. Điều đó có nghĩa là nếu được phát
triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là chuẩn bị tốt cho giai đoạn phát triển sau,
một em bé ở tuổi mẫu giáo được chăm sóc và giáo dục phát triển toàn diện cả về
thể chất lẫn tinh thần vào lớp 1 là lẽ tự nhiên và không phải lo lắnggì lắm. Thế
nhưng trong thực tế không phải bất cứ gia đình nào, lớp mẫu giáo nào cũng làm
tốt việc đó hơn nữa hiện nay tuy số trẻ được đến trường đã chiếm tỷ lệ cao song
vẫn còn một số trẻ mà đặc biệt là những trẻ ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, trẻ
không được đi học qua các lớp mẫu giáo không được chăm sóc và giáo dục một

1.2.2.1. Những yêu cầu cơ bản của người học sinh lớp 1ở trường phổ thông
Để công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp một có hiệu quả, chúng ta cần
nghiên cứu chương trình học tập của học sinh lớp một, yêu cầu, nhiệm vụ của
người học sinh lớp một trong quá trình học tập ở trường phổ thông.
Những yêu cầu, nhiệm vụ đối với học sinh lớp một được thể hiện trong
nội dung các môn học, trong nội quy, điều lệ của trường phổ thông.
Nội dung dạy học của học sinh lớp một ngày nay rất phong phú và phức
tạp. Học sinh không chỉ đọc, viết,tập làm toán...mà còn lao động - kỹ thuật, mĩ
thuật, tìm hiểu tự nhiên, xã hội, hát nhạc...Những tri thức mang tính khái quát về
các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh. Để tiếp thu những tri thức
này, đòi hỏi người học sinh phải có khả năng hoạt động trí óc căng thẳng, linh
hoạt và dẻo dai; có vốn hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh, biết sử dụng
thành thạo các thao tác trí tuệ: phân tích, tổng hợp, phán đoán, quan sát...; có

9


ngôn ngữ phát triển, sự tập trung chú ý và nỗ lực ý chí cao cùng với sự say mê
hoạt động trí óc.
So sánh nội dung tri thức của một số môn học của học sinh lớp một với
mẫu giáo ta thấy, nhiều tri thức của một số môn ở lớp một là sự khái quát những
hệ thống tri thứcmà trẻ đã được làm quen và lĩnh hội ở trường mầm non. Ví dụ:
môn lao động kỹ thuật, mĩ thuật là sự nâng cao những tri thức của môn tạo hình
mà trẻ đã làm quen và lĩnh hội trong quá trình học tập ở trường mầm non; hay
môn tự nhiên, xã hộilà những tri thức khái quát theo chủ đề, mà trước đó trẻ đã
có dịp làm quen với môi trường xung quanh (ở mức sơ đẳng). Ngay cả đến môn
giáo dục sức khỏe ở lớp một cũng là sự nâng cao, khái quát những điều trẻ tiếp
thu ở mẫu giáo. Ở mẫu giáo nội dung giáo dục sức khỏe nằm trong giáo dục thể
chất, gắn liền với việc hình thành có trẻ thói quen văn hóa vệ sinh trong khi ăn
uống, sinh hoạt...vào lớp một giáo dục sức khỏe mở rộng, nâng cao hơn.

lực ta không chỉ quan tâm đến sự phát triển về lượng mà cần quan tâm đến sự
phát triển về chất.
Hoạt động học tập ở trường phổ thông là lao động nghiêm túc, căng
thẳng, với nhiều giờ học kéo dài, đòi hỏi trẻ phải có sức khoẻ tốt, khả năng chịu
đựng cao, dễ thích nghi với môi trường và hoàn cảnh xung quanh. Một khi cơ
thể khỏe mạnh thì trẻ hoạt động tích cực, lạc quan trong cuộc sống. Ngược lại
nếu cơ thể trẻ ốm yếu, mệt mỏi, khả năng làm việc giảm sút - điều này không
những ảnh hưởng đến chất lượng học tập của trẻ mà còn làm cho trẻ trở nên lười
biếng, bi quan trong cuộc sống. Vì vậy, cha mẹ phải quan tâm, chăm lo đến sức
khỏe của trẻ ngay từ khi còn nhỏ.
Sự phát triển hài hòa về thể lực và tâm lý - thần kinh, sự phát triển cân đối
về hình thể và sinh lý với các chỉ số phát triển cơ thể bình thường - đạt tiêu
chuẩn lứa tuổi. Mức độ phát triển vận động cao, tay mắt, cột sống phát triển tốt,
đặc biệt là vận động của ngón tay cũng là những yếu tố có ý nghĩa to lớn trong
việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông. Sự phát triển và hoàn thiện về sinh
lý, các chức năng thần kinh, hệ thống tín hiệu thứ hai, khả năng phối hợp vận
động của tay, mắt cũng góp phần đảm bảo cho trẻ có đủ sức học, cũng như học
có hiệu quả.
11


Để có được những sản phẩm trên đây, cần thực hiện một loạt chế độ sinh
hoạt và rèn luyện một cách hợp lý. Trước hết là chế độ dinh dưỡng trong ăn
uống của trẻ, chế độ vệ sinh và chương trình rèn luyện thể chất cho trẻ một cách
hợp lý. Tất cả những chế độ sinh hoạt này được thể hiện rõ trong nội dung
chương trình chăm sóc sức khỏe của trẻ mẫu giáo.
1.2.2.2.2. Phát triển ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cho trẻ
Ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói: sự phát
triển ngôn ngữ nói của trẻ em phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ em với
người lớn và giữa bản thân trẻ với bạn cùng lứa.

viết, thông qua các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động, các buổi tham quan,
dạo chơi...cần khuyến khích trẻ sử dụng tiếng mẹ đẻ, mở rộng vốn từ về thế giới
xung quanh, tập cho trẻ biết diễn đạt một cách rõ ràng, mạch lạc, không nói
ngọng, nói lắp, nói lí nhí.
1.2.2.2.3. Trang bị cho trẻ những hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh
Đây là việc có ý nghĩa lớn lao với sự phát triển của trẻ em. Việc mở rộng
và làm phong phú sự hiểu biết của trẻ em về thế giới xung quanh giúp cho trí tuệ
và đạo đức của trẻ em phát triển.
Những hiểu biết về thế giới xung quanh là điều kiện, phương tiện giúp
cho trẻ lĩnh hội tri thức trong quá trình học tập ở trường phổ thông.
Những tri thức trong chương trình phổ thông mang tính chất khái quát và
tính hệ thống. Để lĩnh hội được tri thức, đòi hỏi người học sinh phải huy động
vốn hiểu biết của mình về thế giới xung quanh trong quá trình tư duy, nhận thức.
Vốn hiểu biết về thế giới xung quanh của trẻ phong phú là điều kiện thuận lợi để
trẻ giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Chương trình dạy học mẫu giáo cần xác định nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể,
chính xác, chuẩn bị cho các em vào trường phổ thông: các em phải hiểu và biết
cái gì, các em phải được phát triển như thế nào và cái gì có thể giúp các em phát
triển; cần xác định rõ mức độ yêu cầu của từng độ tuổi.
Những hiểu biết về thế giới xung quanh bao gồm: những kiến thức về tự
nhiên như các vật vô sinh, hữu sinh, các hiện tượng: mưa, gió, ngày, đêm,
mùa...; những kiến thức về đời sống xã hội: nghề nghiệp xã hội, quan hệ ứng xử
13


giữa người với người trong xã hội, ngày lễ, phong tục tập quán của quê
hương...Tất cả những kiến thức này được thể hiện trong kiến thức chăm sóc giáo dục mầm non.
Trong quá trình trang bị cho các em những kiến thức về thế giới xung
quanh, cần tập cho trẻ biết hệ thống hóa kiến thức, biết sắp xếp, phân loại các sự
vật hiện tượng của thế giới xung quanh.

động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian.
Hình thành khả năng định hướng về thời gian cho trẻ mẫu giáo là điều
kiện cần thiết để trẻ học tập, sinh hoạt tốt ở trường phổ thông, nhất là trong quá
trình tìm hiểu tự nhiên, xã hội, lao động - kỹ thuật, hát múa và xây dựng thời
gian biểu cho mọi hoạt động của cá nhân...
Hình thành khả năng định hướng trong không gian và thời gian là một quá
trình lâu dài, qua mọi hoạt động của trẻ. Trong đó trò chơi và “tiết học” giữ vai
trò chủ đạo. Nội dung của trò chơi, “tiết học” cần phức tạp dần. Về phương diện
không gian, đối với trẻ mẫu giáo bé chỉ yêu cầu các bé phân biệt được vị trí các
sự vật, hiện tượng xung quanh mình. Nghĩa là trẻ lấy mình làm chuẩn để định
hướng vị trí các sự vật, hiện tượng. Nhưng đến tuổi mẫu giáo nhỡ, nhất là mẫu
giáo lớn trẻ phải xác định một cách chính xác vị trí của các sự vật, hiện tượng
trong mối quan hệ với một sự vật, hiện tượng nào đó. Nghĩa là trẻ phải tách
mình ra khỏi các sự vật, hiện tượng, lấy một sự vật, hiện tượng nào đó làm
chuẩn để xác định vị trí không gian của các sự vật, hiện tượng khác.
Về phương diện thời gian cũng cần phức tạp và khái quát dần. Thoạt đầu
là xác định thời gian, thời điểm trong một ngày: sáng, trưa, chiều, tối...dần dần
đến những biểu tượng khái quát hơn: hôm trước, hôm sau, tuần, tháng, mùa,
năm...
1.2.2.2.6. Rèn luyện cho trẻ khả năng điều khiển sự tập trung chú ý và sự nỗ
lực ý chí trong việc giải quyết những nhiệm vụ trí óc căng thẳng
Ở lứa tuổi mẫu giáo, chú ý thường mang tính chủ định. Trẻ thường chú ý
đến đối tượng khi đối tượng đó gây một kích thích mạnh hoặc gây cho trẻ một
sự ngạc nhiên, nhất là tạo cho trẻ một sự hứng thú. Trẻ dễ bị phân tán chú ý bởi
những kích thích bên ngoài, khi kích thích đó mạnh hơn, hấp dẫn hơn đối tượng
15


cần chú ý.Cũng như sự tập trung chú ý, hành động của trẻ mẫu giáo là không
chủ định: làm cho vui, dần dần trẻ ý thức được việc làm của mình. Nhờ có sự ý

1.2.2.2.7. Giúp trẻ làm quen với hoạt động nghệ thuật
Xã hội càng văn minh thì nhu cầu tinh thần, nhất là hoạt động nghệ thuật
càng cao. Người ta không phải lo đến cái ăn, cái mặc, mà quan tâm nhiều đến
hoạt động văn hóa tinh thần, trong đó nhu cầu thưởng thức nghệ thuật và sáng
tạo nghệ thuật trở thành cái cần thiết hằng ngày, tựa như cơm ăn, nước uống
vậy.
Các nhà tâm lý học Âu - Mĩ đã khẳng định, cần phải vun đắp mầm mống
hoạt động nghệ thuật ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Từ tiếng hát à ơi của người mẹ khi
trẻ còn nằm trong nôi, đến việc trẻ tiếp xúc với thế giới đồ vật, đồ chơi màu sắc
hấp dẫn, rồi dần dần trẻ tự tạo ra cái đẹp như xây một ngôi nhà đẹp, vẽ một bức
tranh, hay nghe, hay hát và vận động theo nhạc,v.v...nhu cầu, năng lực cảm thụ
và sáng tạo nghệ thuật được hình thành.
Cho trẻ tiếp xúc làm quen với các loại hình nghệ thuật là điều kiện cần
thiết để trẻ tiếp thu lĩnh hội được nội dung dạy học các môn học mang tính chất
nghệ thuật ở trường phổ thông như: hát nhạc, mĩ thuật, kĩ thuật,v.v...
Trường mầm non thực hiện tốt chương trình giáo dục âm nhạc, giáo dục
hoạt động tạo hình, ngôn ngữ và phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học, cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, v.v...sẽ được hình thành
ở trẻ nhu cầu và tiền đề cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật.
1.2.2.2.8. Cho trẻ làm quen với các con số, chữ cái và tập cho trẻ một số kỹ
năng cần thiết của hoạt động học tập
Làm quen ở đây không có nghĩa là dạy cho các cháu tập đọc, tập viết, tập
làm tính...mà cái chính ở đây là giúp trẻ có những biểu tượng về số lượng, nhận
dạng được các chữ cái và có một số kỹ năng ban đầu của hoạt động học tập.
Biểu tượng về số lượng, chữ số được hình thành chủ yếu thông qua bộ
môn hình thành những biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ em. Đó là một quá
trình, từ khi trẻ học mẫu giáo đến khi vào lớp một. Cuối tuổi mẫu giáo trẻ phải
có biểu tượng chính xác từ số 1 đến số 10.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status