Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
vô cùng quý giá. Người mà tôi biết ơn nhất đó chính là giảng viên hướng dẫn Ths. Phạm
Thị Yến. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô: “Em cảm ơn
cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua”.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới Ban lãnh đạo Khoa cùng các giảng
viên trong Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi hoàn
thành Khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các giáo viên cùng các cháu trường Mầm
non Hải Thành đã hợp tác và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn mọi người trong gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên làm chỗ dựa tinh
thần giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đạt kêt quả.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, 5/ 2016
Tác giả: Lê Quỳnh Trang
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .........................................................................2
4. Gỉa thuyết khoa học .................................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................2
6. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................3
8. Đóng góp mới của đề tài ..........................................................................................4
9. Cấu trúc của khóa luận .............................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU .....5
1.1. Cơ sở lý luận .........................................................................................................5
3.6.1. Kết quả đo trước thử nghiệm ........................................................................56
3.6.2. Kết quả sau thử nghiệm ................................................................................58
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................66
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
Đc
Đối chứng
2
GDMN
Giáo dục mầm non
3
GV
Giáo viên
9
Tn
Thử nghiệm
10
TN
Thí nghiệm
11
TTCST
Tính tích cực sáng tạo
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Ký hiệu
Tên bảng
Trang
1
32
5
Bảng 1.5
Thời gian tiến hành PP TN
32
6
Bảng 1.6
Hình thức tổ chức cho trẻ tiến hành TN
33
7
Bảng 1.7
Mức độ phát triển TTCST của 60 trẻ 5-6 tuổi
33
8
Bảng 1.8
12
Bảng 3.4
Mức độ hứng thú tạo ra sự mới lạ của trẻ
60
13
Bảng 3.5
Mức độ duy trì trạng thái tích cực của trẻ
61
14
Bảng 3.6
Bảng tổng hợp
62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Ký hiệu
Biểu đồ 3.4
Mức độ hứng thú tạo ra sự mới lạ của trẻ
60
5
Biểu đồ 3.5
Thời gian duy trì trạng thái tích cực của trẻ
61
6
Biểu đồ 3.6
Mức độ trung bình của các tiêu chí sau thử nghiệm
63
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng một nước dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững chắc đi lên xã hội chủ nghĩa. Để hoàn
thành nhiệm vụ đó trong điều kiện đất nước còn nghèo, chúng ta phải phát triển giáo
thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng
1
lại một hiện tượng có trong tự nhiên. Trong quá trình thực hiện TN, trẻ có cơ hội tiến
hành và thực hiện các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp…đồng thời
phát triển TTCST của trẻ. Thông qua quá trình thực hiện TN, trẻ có thể tự trải nghiệm,
tự khám phá, trẻ sẽ có những sáng tạo để thực hiện tốt công việc. Cũng chính thông
qua kết quả TN trẻ biết ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày và ở trường MN. Đây
chính là cơ sở cho những kiến thức khoa học sau này trẻ sẽ tiếp thu ở trường phổ
thông. Như vậy sử dụng phương pháp (PP) thí nghiệm chính là con đường thuận lợi và
có hiệu quả cho sự phát triển TTCST của trẻ trong KPKH về MTXQ.
1.4. PP TN ở các trường mầm non hiện nay được tổ chức một cách hạn chế, chưa
kích thích trẻ khám phá, chưa giúp trẻ biểu hiện được TTCST. Chính vì vậy, cần phải
có sự nghiên cứu thật kỹ lưỡng những bước thực hiện khoa học kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn để có thể lựa chọn các TN phù hợp nhằm nâng cao chất lượng trong hoạt
động KPKH về MTXQ nói riêng và nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động nhận thức
cho trẻ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng
phương pháp thí nghiệm nhằm phát triển tính tích cực sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi qua
hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng PP TN nhằm phát triển TTCST cho trẻ 5-6 tuổi qua
hoạt động KPKH về MTXQ, từ đó xây dựng các TN nhằm góp phần phát triển TTCST
và nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường MN.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển giáo dục trí tuệ của trẻ mẫu giáo (MG) thông qua PP TN
trong hoạt động KPKH về MTXQ.
* Đối tượng nghiên cứu
Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những nguồn tài liệu
liên quan đến đề tài nhiên cứu
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực thiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát biểu hiện TTCST của trẻ khi trẻ thực hiện TN.
- Dự giờ, đánh giá PP TN mà GV MN cho trẻ thực hiện.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
- Trao đổi với GV về việc sử dụng PP TN nhằm phát triển TTCST cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi qua hoạt động KPKH về MTXQ.
- Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để tìm hiểu mức độ cũng như TTCST của
trẻ trong hoạt động giáo dục nói chung và khi thực hiện PP TN nói riêng.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng anket
Nhằm thu thập thông tin về thực trạng sử dụng PP TN trong hoạt động KPKH về
MTXQ ở trường MN, từ đó đánh giá thực trạng và làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên
cứu, lựa chọn PP TN nhằm phát triển TTCST cho trẻ MG.
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trao đổi, tham khảo ý kiến giáo viên nhằm thu thập những kinh nghiệm quý báu
của các nhà chuyên môn về các biện pháp phát triển tính sáng tạo của trẻ để đưa ra kết
luận chính xác và khoa học, rút ra bài học cho bản thân.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ
- Nghiên cứu giáo án và giờ dạy của GV nhằm tìm hiểu việc tổ chức PP TN và
việc phát triển tính tích cực sáng tạo cho trẻ ở trường MN hiện nay.
- Nghiên cứu sản phẩm của trẻ (các bài tập, TN, các hoạt động khác nhau của trẻ)
nhằm biết được mức độ phát triển TTCST của trẻ.
3
7.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Bước đầu thử nghiệm các TN đã lựa chọn nhằm đánh giá hiệu quả thực tiễn của
PP TN đó đối với TTCST của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động KPKH về MTXQ.
giáo dục, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nhưng vẫn chưa có công trình
cụ thể nào nói về sử dụng TN nhằm mục đích phát triển TTCST cho trẻ 5-6 tuổi trong
hoạt động KPKH về MTXQ. Cụ thể:
* Trên thế giới
Trong giáo dục, vấn đề sử dụng các TN là một phương pháp dạy học đã có từ
rất lâu cùng với hệ thống các phương pháp dạy học khác. Do đó, có rất nhiều quan
điểm, cũng như các công trình nghiên cứu bàn về vai trò của TN.
Ngay từ thời văn hóa Phục Hưng, các nhà giáo dục như Thomas More (1478 –
1535) cũng đã đề cao phương pháp quan sát, TN thực hành trong dạy học.
Đến thế kỷ XX, nhà Vật Lý nổi danh Heisenberg đã viết: “Những TN đó được
sáng tạo ra để giải thích những vấn đề đặc biệt quan trọng bất kể là thực tế cho ta có
thực hiện được TN đó hay không. Dĩ nhiên, điều quan trọng là TN đó có thể thực hiện
được về nguyên tắc, mặc dù kỹ thuật thực nghiệm của chúng có thể rất phức tạp.
Những TN tưởng tượng đó rất có ích trong việc giải quyết một số vấn đề”.
Nhà bác học Anhxtanh đã khẳng định: “Tất cả sự nhận thức về thế giới thực tại
xuất phát từ thực nghiệm và hoàn thành bằng thực nghiệm”.
Theo nhà động vật học người Pháp Cuvier thì: “Khi ta quan sát ta lắng nghe
xem thiên nhiên nói gì, còn khi ta tiến hành TN thì ta phải làm cho thiên nhiên bộc lộ
ra những bí mật của mình”.
Các tài liệu khoa học của các nhà tâm lý học, giáo dục học như: J.J.Rutxô,
I.F.Kharlamop… đã đi sau tìm hiểu bản chất phương pháp TN, từ đó đưa ra hệ thống
lý luận khoa học của phương pháp TN. Trong đó nhấn mạnh đến vấn đề phát huy tính
tích cực nhận thức của người học và vấn đề sử dụng phương pháp TN trong dạy học.
Nhà giáo dục học kiệt xuất J.A Cômenxki (1592-1670) cho rằng: “Sẽ không có
gì hết trong trí não nếu như trước đó không có gì trong cảm giác”. Vì vậy, dạy trẻ
không thể từ sự giải thích suông về các sự vật, hiện tượng mà phải thông qua sự quan
sát, thực hành tác động vào đối tượng được tìm hiểu. Dạy học dựa vào cảm giác càng
5
Tác giả Mai Khắc Dũng dựa trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của TN đã đưa ra
kết luận: “Sử dụng TN để kích thích hứng thú và lôi cuốn học sinh tích cực tìm tòi
kiến thức là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Vật lý”. Từ đó tác giả tiến hành nghiên cứu, tự làm một số TN trong dạy học Vật lý.
Năm 1994, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã hệ thống phương tiện trực quan
môn Hóa học gồm: TN và phòng TN (dụng cụ thiết bị, hóa chất) và đồ dùng trực quan
(mẫu vật, mô hình, hình vẽ, bảng biểu). Theo tác giả trong quá trình dạy học, phương
6
tiện trực quan đóng vai trò là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn
phát thông tin về sự vật, hiện tượng, là cơ sở cho lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của
học sinh. Từ đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp, quy trình sử dụng phương tiện trực
quan đạt hiệu quả cao.
Các tác giả Hoàng Thị Chiên, Nguyễn Văn Lưu, Cao Cự Giác đã đề xuất
phương án sử dụng TN để rèn luyện ngôn ngữ Hóa học cho học sinh, nhằm nâng cao
hứng thú và chất lượng học tập môn Hóa học.
Tác giả Trịnh Bích Ngọc và Phan Minh Tiến cũng đã nghiên cứu việc tổ chức
các hoạt động quan sát, TN trong dạy học sinh học ở trường THCS. Từ đó, các tác giả
đã đề xuất quy trình tổ chức cho học sinh quan sát và tiến hành TN theo hướng tích
cực hóa hoạt động của học sinh.
Tác giả Nguyễn Vinh Hiển từ sự phân tích vai trò của hoạt động quan sát, TN
trong quá trình dạy học nói chung và dạy học học sinh nói riêng đã đề ra việc nâng cao
hiệu quả sử dụng TN trong dạy học sinh học tế bào (sinh học 10).
Về các môn khoa học giáo dục các tác giả cũng đã nghiên cứu việc sử dụng
phương pháp thí nghiệm chẳng hạn như:
Tác giả Lê Thị Hương nhấn mạnh tới việc sử dụng phương pháp TN kết hợp
với hình thức hoạt động nhóm trong quá trình dạy học phần khoa học chuyên môn tự
nhiên xã hội nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Tác giả Lê Thị Ánh Nga đã đề cập tới việc sử dụng phương pháp TN kết hợp
với các đề tài về môi trường tự nhiên.
Năm 2005, vụ GDMN ra “Chương trình Mầm non mới” nhấn mạnh việc sử
dụng phương pháp TN, tạo ra môi trường đưa trẻ vào trải nghiệm trực tiếp trong quá
trình hoạt động.
Từ việc nghiên cứu lịch sử của việc sử dụng các TN nhằm phát triển TTCST
cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động KPKH về MTXQ, chúng tôi có thể khẳng định đề tài
nghiên cứu này của chúng tôi đề cập đến vấ đề hoàn toàn mới, không lặp lại các
nghiên cứu của các đề tài đã có trước đó với mong muốn góp một phần công sức của
mình vào việc phát triển TTCST cho trẻ, nâng các chất lượng dạy học và thực hiện tốt
mục tiêu GDMN.
1.1.2. Lý luận chung về tính tích cực và TTCST của trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động
KPKH về MTXQ
1.1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về tính tích cực
Theo từ điển Tiếng Việt, tính tích cực gồm 3 nghĩa:
- Một là, có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu
cực.
- Hai là, tính chủ động có những hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi theo
phương hướng phát triển.
- Ba là, hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc.
Tính tích cực theo quan điểm duy vật biện chứng: C.Mác – Ph.Ănghen,
V.I.Lênin: “Tính tích cực có nguồn gốc từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong
đó yếu tố bên trong có vai trò quyết định. Tính tích cực chính là thái độ cải tạo và biến
đổi khách thể của chủ thể, nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới hiện thực
khách quan, biến đổi và cải tạo nó”.
Các nhà Tâm lý – Giáo dục học lại xem xét tính tích cực ở những khía cạnh
khác nhau, đó là:
8
sự thay thế trò chơi trẻ con cũ”. Với Freud trò chơi và tưởng tượng là hai hình thức
biểu hiện của vô thức, nền tảng của sáng tạo là nguyện vọng không được thỏa mãn.
Cùng với quan điểm của Freud cho rằng sáng tạo như một trò chơi, Thiessy
Gaudin, đã viết rằng: “Trò chơi là sự thăm dò những cái có thể và một sự học tập. Ai
không chơi thì người đó đã thu hẹp trường tri giác và sáng tạo của họ”.
9
Chu Quang Tiềm, giáo sư đại học Bắc Kinh, trong cuốn sách “Tâm lý văn
nghệ” đã định nghĩa sáng tạo là: “Căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi
cắt xén gạt bỏ chọn lọc tổng hợp để tạo thành một hình tượng mới”.
Ia.A.Ponomariov (Nga):“Sáng tạo là nét đặc trưng riêng cho cả thế giới vô
sinh và hữu sinh từ khi xuất hiện loài người, hình thành nên xã hội loài người. Sáng
tạo là điều kiện thiết yếu để phát triển vật chất và cùng với sự xuất hiện của chúng thì
bản thân các hình thức sáng tạo cũng thay đổi”. Ông còn nhấn mạnh thêm: “Sáng tạo
của con người chỉ là một trong những hình thức đó”.
Đối với L.X. Vygotsky hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động cao nhất của
con người. Theo ông,“Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh
nghiệm cũ của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lý một cách sáng tạo và
xây dựng nên những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm
cũ đó”.
Thông thường chúng ta thường cho rằng sáng tạo là hoạt động chỉ có ở một số
ít những thiên tài, những tài năng xuất chúng như: Mozart, Newton, Einstein,
Tolstoy… đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại hoặc phát minh ra những cái mới về khoa
học kỹ thuật. Nhưng theo L.X. Vygotsky: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi
nó tạo ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp,
biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với
những sáng tạo của các thiên tài”.
Ông quan niệm rằng: “Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra
tôi sáng tạo có thể hiểu là: quá trình con người vận dụng những kinh nghiệm của bản
thân, độc lập đưa ra những ý tưởng mới lạ hoặc cải tạo và biến đổi những sản phẩm
có sẵn để tạo ra những sản phẩm mới nhằm phục vụ cho lợi ích chính đáng của bản
thân và của xã hội.
* Khái niệm về TTCST của trẻ mẫu giáo
Bắt đầu từ cuối giai đoạn nhà trẻ, ở trẻ xuất hiện nguyện vọng độc lập, nhu cầu
tự khẳng định và ở trẻ mẫu giáo đã có nhu cầu được người khác thừa nhận. Đây là
những hình thức biểu hiện quan trọng của tính tích cực, là điều kiện cần thiết cho nhân
cách của trẻ phát triển bình thường. Vì vậy việc giáo dục tính tích cực bắt đầu ngay từ
lứa tuổi mẫu giáo.
Theo các nhà Tâm lý học, Giáo dục học: TTCST của trẻ MG thể hiện ở lòng
ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của MTXQ. Sự phát triển tính ham
hiểu biết, trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao độ và sự nỗ lực tự phát nhằm khám
phá, thử nghiệm và thao tác độc đáo mang tính trò chơi.
L.X.Vygotsky cho rằng “Khi trong đầu trẻ xuất hiện ý định chơi và mong muốn
tìm kiếm phương tiện để thực hiện nó có nghĩa là đứa trẻ đã bộc lộ tính sáng tạo trong
hoạt động chơi của nó”. TTCST của trẻ MG được xem xét khi trẻ bắt đầu tái tạo, bắt
chước, mô phỏng một điều gì đó và thường không có tính chủ đích. TTCST của trẻ
phụ thuộc nhiều vào xúc cảm, vào tình huống và thường kém bền vững.
Trên cơ sở phân tích, so sánh, khái quát hóa những công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học trong nước và trên thế giới về tính tích cực và tính sáng tạo của trẻ
MG, chúng tôi quan niệm TTCST của trẻ MG trong quá trình KPKH về MTXQ như
một phẩm chất tâm lý cá nhân của trẻ trong hoạt động giáo dục trí tuệ, thể hiện thái
độ tích cực của trẻ đối với môi trường xung quanh. Đó là năng lực trí tuệ phức tạp đòi
hỏi sự nỗ lực vận dụng những kinh nghiệm của bản thân để trẻ bắt chước, mô phỏng
một điều gì đó và thường không có tính chủ đích. TTCST của trẻ không có nghĩa là tạo
11
ra một cái mới mà chỉ cần trẻ có nhu cầu chơi, ý định chơi và mong muốn tìm ra cách
lớn, trẻ luôn muốn thể hiện bất cứ tưởng tượng nào của mình thành những hình tượng
và hành động sinh động.
- Trong mọi hoạt động của mình trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao độ và
một sự nổ lực tự phát nhằm khám phá, thử nghiệm và thao tác theo kiểu độc đáo mang
tính trò chơi. Đó là biểu hiện TTCST của trẻ.
- TTCST của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí và
đặc biệt là TTCST được hưng phấn với một sức mạnh trực tiếp của cuộc sống.
12
- Chúng ta biết rằng so với người lớn, tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi,
trí tưởng tượng còn nghèo nàn, hứng thú đơn giản và sơ đẳng hơn nhưng do sự dễ dãi,
sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng nhiều hơn, tin
vào sản phẩm của trí tưởng tượng nhiều hơn, kiểm tra những sản phẩm ít hơn đo đó
mà trẻ dễ có những biểu hiện TTCST hơn.
- Sản phẩm sáng tạo của trẻ có thể không hoàn hảo nhưng ưu thế là chúng nảy
sinh trong quá trình sáng tạo của trẻ.
- Ở đứa trẻ, toàn bộ con người nằm trong sự vận động thực tế trực tiếp. Nó thể
hiện TTCST ra hành động thực tế. Nó quan tâm trước hết đến quá trình hành động chứ
không phải đến kết quả.
1.1.2.3. Vai trò của TTCST đối với sự phát triển tâm lý của trẻ MG
Lứa tuổi MG là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý, do đó mọi
tác động đến trẻ lúc này đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhân
cách về sau của chính đứa trẻ. Cho nên việc phát triển TTCST cho trẻ cần phải được
quan tâm thích đáng bởi vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển toàn diện của
trẻ. Mặc dù những nghiên cứu về TTCST của trẻ còn ít, nhưng thông qua các nghiên
cứu của một số nhà tâm lý, giáo dục học thì chúng ta đã phần nào thấy được vai trò
của TTCST đối với sự phát triển tâm lý trẻ. Điều này thể hiện ở m ột số điểm:
Một là, TTCST là một hình thức trẻ tự do thể hiện cái tôi của mình. Đề cặp đến
vấn đề này, X.L.Rubinstein cho rằng: “Mặc dù vốn kiến thức kinh nghiệm của trẻ còn
Trong đôi mắt trẻ thơ, MTXQ là một bức tranh muôn màu với đầy đủ những
điều mới lạ, hấp dẫn. Song, không phải ở lứa tuổi nào trẻ cũng có những đam mê khám
phá, khả năng nhận thức về MTXQ giống nhau.
Đối với nhà trẻ: Ở giai đoạn đầu tuổi nhà trẻ, khi tiếp xúc với các sự vật và hiện
tượng xung quanh, trẻ mới chỉ thể hiện ra bên ngoài bằng đôi ba từ hoặc bằng những
hành động đơn giản, thể hiện những cảm xúc khi được tiếp xúc với đối tượng. Sau đó
trẻ trả lời được một số câu hỏi của người lớn bằng cách chỉ tay vào đối tượng cụ thể.
Đối với trẻ MG: Trẻ 3-4 tuổi thích các hoạt động chân tay và khám phá bằng
các giác quan. Trẻ thích thú khi quan sát những sự vật, hiện tượng xung quanh và bắt
chước những vận động ngộ nghĩnh, mới lạ; hay đặt câu hỏi nhưng không phải lúc nào
cũng hiểu câu trả lời; bắt đầu nhận ra các mối quan hệ nhân quả đơn giản dưới dạng
câu hỏi đơn giản như: Tại sao? Để làm gì? ... Trẻ có thể móc nối các sự kiện khi thảo
luận nhưng lại gặp khó khăn trong vấn đề phát âm, diễn đạt bằng lời nói.
Trẻ 4-5 tuổi đã có một vốn hiểu biết về MTXQ tương đối phong phú, đa dạng.
Nhu cầu muốn khám phá mọi thứ xung quanh của trẻ phát triển hơn nên trẻ bắt đầu
hiểu TN là gì và trở nên có chủ định cũng như sáng tạo hơn trong việc khám phá. Trẻ
thường thích các TN do bản thân tự tạo ra; bắt đầu suy nghĩ lập kế hoạch cho một hoạt
động và đưa ra những dự đoán dựa trên những gì trẻ trải nghiệm được, thích nghĩ ra
các lời giải thích về những gì trẻ quan sát được, tuy nhiên trẻ thường thêm những chi
tiết tưởng tượng vào các sự việc.
Trẻ 5-6 tuổi có vốn từ phong phú hơn, khả năng nhận biết sự vật, hiện tượng
xung quanh qua những dấu hiệu nổi bật, điều này kích thích khả năng tập trung chú ý
của trẻ lâu hơn, bền vững hơn, ghi nhớ của trẻ có chủ định hơn nên khả năng khám
phá sự vật, hiện tượng của trẻ ngày càng phong phú, trẻ có nhiều thông tin hơn về một
số sự vật, hiện tượng nào đó nhưng chưa hiểu biết đầy đủ về bản chất của sự vật, hiện
tượng đó: Nhận biết được rằng vật chất có thể bị thay đổi dưới những sự tác động như
đun nóng, làm lạnh, trộn hay uốn cong; Bắt đầu khám phá ra những nguồn phát ra âm
14
thử và sai sót, đó chính là những thông tin, những bài học kinh nghiệm cho bản thân
trẻ. Thông qua hoạt động khám phá, trẻ tiếp thu được những kinh nghiệm thực tiễn,
những kiến thức đơn giản về đặc điểm, tính chất, các mối quan hệ, liên hệ, sự phát
triển của sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội. Những kiến thức mà trẻ thu được
giúp trẻ ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày của trẻ, giúp cho trẻ phát triển TTCST
trong quá trình trải nghiệm và tích lũy vốn kinh nghiệm trong cuộc sống.
15
Trẻ càng lớn thì môi trường hoạt động của trẻ càng được mở rộng, trẻ không chỉ
tiếp xúc với những người thân trong gia đình mà còn được tham gia vào các hoạt động
xã hội khác nhau, có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những nguời xung quanh, đặc biệt là
được chơi, hoạt động, được thỏa mãn nhu cầu khám phá của bản thân trẻ. Trong quá
trình tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau thì vốn kinh nghiệm của trẻ cũng
được tăng lên, đồng thời trẻ cũng trở nên mạnh dạn, tự tin hơn, có nhiểu cơ hội hơn để
được trải nghiệm, được thử sai, và hình thành kỹ năng chủ động phát huy kinh nghiệm
và sử dụng nó vào việc nhận thức cái mới.
Hai là, hứng thú đối với công việc:
Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng, công việc nào
đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn tình cảm của chính nó. Hứng
thú có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hoạt động của con người. Con người
cảm thấy sống đầy đủ và hạnh phúc khi họ có hứng thú. Hứng thú sẽ tác động làm con
người trở nên tích cực hơn, gần gũi, thân thiện với nhau hơn. Công việc nào phù hợp
với hứng thú thì được hình thành và phát triển một cách rõ ràng và có hiệu quả.
Hứng thú với công việc có ảnh hưởng rất lớn TTCST của trẻ, bởi khi có hứng thú
thì trẻ sẽ thực hiện công việc dễ dàng hơn, tìm ra nhiều phương pháp giải quyết công việc
hiệu quả hơn. Hứng thú với công việc càng cao thì trẻ càng phát triển được TTCST.
Trong mọi hoạt động nếu thiếu hứng thú thì trẻ sẽ nhàm chán, không muốn thực hiện
công việc hay làm cho có, lúc đó trẻ không phát triển được TTCST.
giáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách cho trẻ nói chung và phát triển trí tuệ cho trẻ nói riêng.
Sự phát triển TTCST xuất phát từ gia đình, trong đó bố mẹ có ảnh hưởng rất lớn
đến trẻ. Theo thống kê của nhiều nhà giáo dục: Nếu trong gia đình, người lớn biết
quan tâm tạo điều kiện cho trẻ được tham gia vào các hoạt động xã hội và luôn xem trẻ
như một thành viên thực thụ của gia đình, đối xử với trẻ một cách bình đẳng, cho phép
trẻ được nói lên ý kiến của mình về các vấn đề có liên quan đến trẻ, luôn lắng nghe và
tôn trọng trẻ thì sẽ tạo cho trẻ có cảm giác mình được tin tưởng, mình có giá trị với tư
cách là một thành viên của gia đình. Từ đó trẻ rất tự tin, mạnh dạn và dễ dàng nêu lên
ý kiến cá nhân, thực hiện công việc theo cách giải quyết riêng của trẻ. Người lớn cần
chú ý đến nhu cầu khám phá, tìm tòi, học hỏi của trẻ. Người lớn cần phải chấp nhận,
tôn trọng các sản phẩm của trẻ dù sản phẩm đó chưa thực sự tốt, bởi vì những hoạt
động của trẻ có thể thử và cho phép được sai sót để trẻ có thể trải nghiệm, đúc rút kinh
nghiệm cũng như hình thành tri thức riêng cho bản thân nên sản phẩm trẻ tạo ra có thể
chưa thực sự hoàn hảo. Cần phải động viên, khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt
động khám phá thế giới xung quanh để trẻ được thực hành, được trải nghiệm nhiều
hơn, giúp trẻ tích lũy được nhiều kinh nghiệm, phát triển nhận thức, hình thành những
kỷ năng cần thiết cho trẻ. Người lớn cũng không nên ép buộc và cấm đoán trẻ làm cho
trẻ mất đi hứng thú khám phá, cần tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm nhiều hơn,
cho trẻ có nhiều cơ hội được tự tìm hiểu những điều thú vị xung quanh cuộc sống của
trẻ. Ví dụ: Khi trẻ được tắm hay chơi với nước, trẻ luôn tò mò, tìm ra đủ trò để chơi
như dội nước lên người, múc nước, thả các đồ vật vào nước… Người lớn cần tạo điều
kiện cho trẻ tự hình thành những kiến thức, những hiểu biết, động viên, khuyến khích
trẻ, hướng dẫn để trẻ tìm ra những hiểu biết mới như vật nào ngấm nước, vật nào
không ngấm nước, vật nào ngấm nước thì bị hư hỏng, vật nào chìm, vật nào nổi… chứ
17
không nên cấm trẻ vì sợ trẻ bị ướt, sợ hư hỏng đồ. Tuy nhiên cũng không ép trẻ phải
Không khí lớp học là rất quan trọng đối với tâm trạng của trẻ trong mối quan hệ
đối với việc học. Sự tự tin phát triển tốt khi tất cả sự khác biệt của cá nhân được tôn
trọng và chấp nhận. Cô giáo phải thừa nhận sự nỗ lực, sự đóng góp tích cực của trẻ
trong quá trình hoạt động để tạo ra sản phẩm của trẻ cho dù sản phẩm đó đẹp hay xấu,
đạt yêu cầu hay chưa.
18
Việc thi đua với bạn khác để hoàn thành một sản phẩm giống nhau sẽ gây ra sự
chán nản, thất vọng nhiều ở trẻ. Trong hoạt động khám phá MTXQ, trẻ có thể thi đua
để làm ra những sản phẩm khác nhau hoặc các sản phẩm thay thế phù hợp bằng nhiều
cách khác nhau mà không có sự thất vọng chán nản vì những tình huống xảy ra cho
phép nhiều sản phẩm ở mức độ khác nhau. Giáo viên có thể cung cấp cho trẻ cơ hội để
trẻ có thể vừa tạo ra sản phẩm như hướng dẫn của cô giáo vừa làm theo cách sáng tạo
riêng của mình. Trong lớp học, khi trẻ được kích thích tự đánh giá về thành quả của
mình đã đạt được, chúng sẽ phát triển được cảm giác thi đua lành mạnh với chính
thành quả của mình.
Việc tổ chức thi đua không phải là để xem ai nhanh hơn, mạnh hơn, ai làm
được nhiều sản phẩm hơn, ai thắng ai thua mà thi đua ở đây là để tìm ra ai tạo ra nhiều
sản phẩm sáng tạo bằng nhiều cách thức khác nhau. Trong hoạt động khám phá
MTXQ nếu giáo viên biết tổ chức cho trẻ thi đua lành mạnh, công bằng, dân chủ với
các bạn trong lớp thì sẽ kích thích ở trẻ hứng thú học tập và giúp trẻ phát triển TTCST
một cách tốt hơn.
1.1.3. Hoạt động khám phá MTXQ trong trường MN
1.1.3.1. Vài nét về đặc điểm hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở trường MN
MTXQ là toàn bộ các sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiện, xã hội tồn tại
gần gũi, quen thuộc xung quanh chúng ta. MTXQ bao gồm: môi trường tự nhiên (Thế
giới động vật, thế giới thực vật, thế giới vô sinh) và môi trường xã hội (bản thân trẻ,
gia đình, nhà trường, cộng đồng...).
không ngừng biến đổi. Để khám phá được nó đói hỏi ở trẻ phải có sự nỗ lực tư duy và
sự phối hợp hành động của người. Cũng chính vì thế, hoạt động này đã thu hút được
sự tập trung chú ý cao độ của trẻ.
- Nhạy cảm với MTXQ là bản chất của trẻ nhỏ. Trẻ đến với thế giới xung quanh
một cách đầy cảm xúc của tâm hồn. Do đó, hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở
trường MN đã có tác động mạnh mẽ đến xúc cảm, tình cảm cũng như nhận thức của
trẻ, mang đến cho trẻ những giây phút thăng hoa và đã thoả mãn nhu cầu tìm hiểu,
khám MTXQ của trẻ.
Như vậy, trẻ em ngày từ khi còn nhỏ đã có nhu cầu hợp nỗ lực tìm tòi, khám
phá và khám phá MTXQ là hoạt động tạo nhiều cơ hội giúp trẻ thoả mãn nhu cầu đó.
Từ đặc điểm hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở trường mầm non chúng tôi
xác định hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động trong chế độ sinh
hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non, nhằm giúp trẻ phát triển TTCST.
1.1.3.2. Những cơ hội để hình thành TTCST cho trẻ qua hoạt động khám phá
MTXQ
Hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động đặc thù của trẻ được tổ
chức ở trường MN. Hiện nay, hầu hết các trường MN đang thực hiện chương trình đổi
mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục. Chương trình này được chia thành 8 chủ điểm,
mỗi chủ điểm thể hiện một vấn đề của cuộc sống. Thông qua các chủ đề khác nhau, trẻ
không chỉ dễ dàng lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội mà còn có cơ hội để hình thành
các kỹ năng, năng lực cần thiết. Trẻ được dạy cách biết làm thế nào để sử dụng các kỹ
năng, biết khi nào thì cần sử dụng nó. Mặt khác, trẻ còn học được cách nhận ra các tình
huống có thể sử dụng các kỹ năng một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Chủ đề của hoạt động khám phá MTXQ rất phong phú đa dạng và độ phức tạp
ngày tăng thêm. Vì vậy, đòi hỏi trẻ phải tích cực nhiều hơn, nỗ lực tư duy, tìm tòi khám
phá, trải nghiệm, lĩnh hội những tri thức, tích lũy những kinh nghiệm cho bản thân. Tất cả
20