BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ NGỌC PHƯỢNG
HƯỚNG DẪN SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC THỰC HÀNH TỔ CHỨC
KHÁM PHÁ KHOA HỌC VỀ MƠI TRƯỜNG XUNG QUANH
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Cô giáo
TS. Hoàng Thị Oanh, người Thầy đã luôn là điểm tựa cho tôi với sự hướng dẫn
tận tâm, góp ý sâu sắc và động viên chân thành trong suốt thời gian tôi nghiên
cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng Sau Đại học, quý Thầy
Cô khoa Giáo dục Mầm non đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình học tập tại trường.
Xin tri ân Ban Giám Hiệu, phòng Tổ chức chính trị, phòng Kế hoạch tài
chính và quý Thầy Cô khoa Sư phạm trường Đại học An Giang, trường Mẫu
giáo Hướng Dương, các sinh viên khóa 34 Cao đẳng Sư phạm Giáo dục Mầm
non trường Đại học An Giang đã tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong quá trình thực nghiệm và hoàn thiện đề tài.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã
khuyến khích, động viên tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không
Đại học
– GD
:
Giáo dục
– GDMN
:
Giáo dục mầm non
– GV
:
Giảng viên
– GVMN
:
Giáo viên mầm non
– KN
:
Môi trường xung quanh
– PP
:
Phương pháp
– SL
:
Số lượng
– SP
:
Sư phạm
– SPMN
:
Sư phạm mầm non
– SV
:
Bảng 1.11: Thời gian SV được thực hành tổ chức cho trẻ KPKH ...................... 40
Bảng 1.12: Số lần SV trực tiếp thực hành tổ chức cho trẻ KPKH ...................... 41
Bảng 1.13: Mức độ hài lòng của SV về nội dung thực hành .............................. 42
Bảng 1.14: Khó khăn các SV gặp phải khi thực hành ........................................ 43
Bảng 1.15: Những biện pháp GV sử dụng khi hướng dẫn SV thực hành ........... 43
Bảng 1.16: Thống kê thời gian GV sử dụng BĐTD (từ phiếu trưng cầu ý kiến SV) 44
Bảng 1.17: Hiểu biết của SV về BĐTD .............................................................. 45
Bảng 1.18: Ý kiến của SV về những ứng dụng của BĐTD ................................ 46
Bảng 1.19: Ý kiến của SV về ý nghĩa việc sử dụng BĐTD trong việc thực
hành tổ chức cho trẻ KPKH .............................................................. 47
Bảng 2.1. Mối liên hệ giữa các nội dung hướng dẫn SV sử dụng BĐTD khi
thực hành tổ chức KPKH cho trẻ MG 5 – 6 tuổi ................................ 82
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (tính theo %) ............................. 88
Bảng 3.2: Đặc trưng mẫu TN và ĐC trước TN ................................................... 90
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra trước TN (tính theo tiêu chí) ................................... 91
Bảng 3.4: Kiểm định mức độ nhận thức của lớp TN và ĐC trước TN ............... 93
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra trong thực nghiệm (tính theo %) ............................. 94
Bảng 3.6: Đặc trưng mẫu TN và ĐC trong TN ................................................... 96
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra trong TN (tính theo tiêu chí) ................................... 97
Bảng 3.8: Kết quả bài kiểm tra sau TN (tính theo %) ....................................... 100
Bảng 3.9: Đặc trưng mẫu TN và ĐC sau TN .................................................... 102
Bảng 3.10: Kết quả kiểm tra sau TN (tính theo tiêu chí) .................................. 103
Bảng 3.11: Kiểm định mức độ nhận thức của lớp TN và ĐC sau TN .............. 104
Bảng 3.12: Kết quả hoạt động thực hành của lớp TN, ĐC (theo %) ................ 105
Bảng 3.13: Kết quả hoạt động thực hành (tính theo tiêu chí) ........................... 105
Bảng 3.14: Mức độ hình thành KN lập kế hoạch của SV lớp TN, ĐC ............. 106
Bảng 3.15: Mức độ hình thành KN tổ chức hoạt động của lớp TN, ĐC .......... 108
Bảng 3.16: Kết quả của trẻ trong hoạt động ..................................................... 111
cộng tác làm việc, khả năng sáng tạo, linh hoạt, khả năng giải quyết các vấn đề
phức hợp trong các tình huống thay đổi.
Trong hệ thống GD quốc dân, GDMN là bậc thang đầu tiên nên có vị trí
rất quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người. Trong quá trình
GD con người thì đội ngũ giáo viên giữ vị trí quan trọng nhất, là lực lượng biến
các mục tiêu GD thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả
GD. Chính vì thế, việc đào tạo thế hệ giáo viên mầm non mới có năng lực
chuyên môn vững vàng, PP làm việc khoa học với tư duy sáng tạo là việc làm vô
cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Sự phát triển không ngừng của khoa học, kĩ thuật và công nghệ trong những
thập niên gần đây làm cho khối lượng tri thức nhân loại thu được ngày càng lớn.
Điều này tạo cho mỗi người có nhiều cơ hội để học tập và tích lũy kiến thức. Nhưng
vấn đề không phải là có bao nhiêu kiến thức mà là sử dụng kiến thức đó như thế
nào. Với hình thức là một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, đường nét và màu sắc,
BĐTD giúp chúng ta tập trung các thông tin và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Từ
đó, giúp ghi nhớ hiệu quả và thúc đẩy tư duy linh hoạt, sáng tạo của mỗi người
trong công việc và cuộc sống. Như vậy, với những ưu điểm của mình, BĐTD là
một trong những công cụ giúp SV ngành GDMN có kĩ năng làm việc khoa học và
phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo.
Hiện nay, chương trình đào tạo GVMN ở nước ta có học phần “PP cho trẻ
KPKH về MTXQ” giúp SV tổ chức cho trẻ KPKH theo xu hướng đổi mới.
1
Trong đó, các hoạt động GD hướng tới việc dạy cho trẻ biết cách học như thế
nào nhằm phát huy tối đa tính chủ động tích cực của trẻ. Học phần này cũng là
cơ hội cho SV sử dụng BĐTD để giúp trẻ xây dựng những hình ảnh và màu sắc
thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức. Từ đó, trẻ sẽ hứng thú hơn, lĩnh hội được
nhiều hơn, ghi nhớ tốt hơn đồng thời phát triển khả năng tưởng tượng và sáng
tạo. Như vậy, việc tổ chức cho trẻ khám phá MTXQ sẽ đạt hiệu quả hơn góp
BĐTD trong việc thực hành tổ chức KPKH về MTXQ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
5.2. Nội dung hướng dẫn SV sử dụng BĐTD trong việc thực hành tổ chức
KPKH về MTXQ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
5.3. Tiến hành thực nghiệm sư phạm hướng dẫn SV sử dụng BĐTD trong
việc thực hành tổ chức KPKH về MTXQ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nội dung nghiên cứu: Nội dung hướng dẫn SV ngành GDMN sử dụng
BĐTD trong việc thực hành tổ chức KPKH về MTXQ cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
116 SV năm thứ 2 ngành CĐSP GDMN (khoa SP – ĐH An Giang).
150 trẻ MG 5 – 6 tuổi trường MG Hướng Dương (Tp Long Xuyên)
- Địa bàn nghiên cứu: Bộ môn GDMN – khoa Sư phạm – trường Đại
học An Giang, trường MG Hướng Dương (Tp Long Xuyên – tỉnh An Giang).
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các PP: phân tích – tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa – khái
quát hóa, cụ thể hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến (ankét) với GV dạy học phần “PP cho
trẻ KPKH về MTXQ” và SV khoa GDMN với mục đích tìm hiểu nhận thức của
GV và SV về việc sử dụng BĐTD để tổ chức cho trẻ khám phá MTXQ. Sau đó,
tiến hành xử lí phiếu điều tra và phân tích kết quả thu được nhằm thu thập những
thông tin cần thiết về thực trạng sử dụng BĐTD trong việc dạy và học bộ môn
“PP cho trẻ KPKH về MTXQ” làm cơ sở cho việc triển khai đề tài.
3
7.2.2. Phương pháp quan sát
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƢỚNG DẪN
SINH VIÊN SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG VIỆC THỰC HÀNH
TỔ CHỨC KHÁM PHÁ KHOA HỌC VỀ MÔI TRƢỜNG XUNG QUANH
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Rất lâu trước khi hệ thống chữ viết ra đời, con người đã biết diễn tả thông tin
bằng hình ảnh để truyền đạt tri thức. Ngày nay, phương tiện phổ biến để truyền đạt tri
thức là văn bản và hình ảnh thường được xem là hình thức phụ, chỉ có ích trong việc
minh họa và bổ sung cho văn bản. Léonard de Vinci, Albert Einstein và những sáng
tạo đa tài khác đã sử dụng phương thức diễn tả thông tin bằng hình ảnh, mật mã và
những kết nối trên các bản ghi chép không những để ghi lại kiến thức của mình mà
còn khám phá những tri thức mới [53, tr295 – 304, 307]. Vào những năm 70 của thế kỉ
XX, Tony Buzan (1942) đã đưa ra mô hình và phổ biến rộng rãi PP sơ đồ tư duy (Mind
Mapping). Cho đến nay, BĐTD đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống và GD.
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về BĐTD
Trong tác phẩm “Sử dụng trí tuệ của bạn” và bộ sách về Tư duy, Tony Buzan
đưa ra mô hình BĐTD và hướng dẫn cách lập BĐTD. Ý tưởng BĐTD của ông xuất
phát từ lúc nhận ra việc não bộ phải căng ra để suy nghĩ, sáng tạo, ghi nhớ, giải quyết
vấn đề, phân tích, viết tiểu luận,… đồng thời phải tiếp nhận khối lượng kiến thức
khổng lồ đang gia tăng từng ngày và dẫn đến nghịch lí bất thường là càng ghi chép
nhiều thì việc học tập và trí nhớ càng kém đi. [10, tr13]
Ông và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu lối ghi chú chủ động/ thụ động của
nhiều học viên các bậc học phổ thông, đại học thuộc nhiều chuyên ngành ở các quốc gia
khác nhau. Nghiên cứu chỉ ra rằng có 95% người ghi chú theo 3 kiểu: dùng câu tường
thuật ghi lại nội dung, liệt kê các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện, dùng dàn ý có đánh thứ
5
người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt
6
các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ
diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người thể hiện nó dưới dạng
BĐTD theo cách riêng do đó việc lập BĐTD không chỉ giúp ghi nhớ tốt hơn mà quan
trọng hơn là phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sử dụng BĐTD
Trước tiên, phải kể đến Tony Buzan và Barry Buzan, trong cuốn The Mind map
book, hai ông đã đưa ra các kĩ năng lập BĐTD với các ứng dụng cá nhân (tự phân tích,
giải quyết vấn đề, ghi nhật kí) [53, tr195 – 220], tiếp theo là cách học tập và kể chuyện
trong gia đình [53, tr220 – 233], ứng dụng trong kinh doanh và các lĩnh vực chuyên môn
(hội họp, thuyết trình, quản lí) [53, tr270 – 302]. Tác giả đã đưa ra những ví dụ minh họa
đồng thời trình bày những lợi ích của việc sử dụng BĐTD trong ứng dụng đó.
Trong tác phẩm How to mind map, Tony Buzan đưa ra một số BĐTD trong
việc thuyết trình, lập kế hoạch các sự kiện cho gia đình, đàm phán, khởi sự một dự án
kinh doanh, tóm tắt cuốn sách trong một trang giấy,… và trình bày ngắn gọn lợi ích,
cách tiến hành để lập một BĐTD. [10, tr55 – 90]
J.Wycoff cho rằng BĐTD cho phép tổ chức các ý tưởng trong ít phút, thúc đẩy
sáng tạo, phá vỡ trở ngại mà người viết gặp phải và cung cấp một cơ chế động não hiệu
quả [25, tr15]. Bà đã nghiên cứu, đưa ra những ứng dụng của BĐTD trong việc phát
triển kĩ năng viết [25, tr85 – 108], khả năng thuyết trình [25, tr161 – 178], xây dựng và
quản lí các kế hoạch [25, tr109 – 128],… Trong mỗi ứng dụng, J.Wycoff trình bày các
bước tiến hành và những điểm cần lưu ý để xây dựng và sử dụng hiệu quả BĐTD.
Trong tác phẩm Ứng dụng BĐTD trong cuộc sống và công việc, Thomas Ben
trình bày kĩ thuật vẽ BĐTD và những ứng dụng BĐTD như lập kế hoạch cá nhân,
hoạt động thảo luận nhóm, chuẩn bị cho một bài thuyết trình [2].
Nhóm tác giả J.L.Deladrière, F.L.Bihan, P.Morgin, D.Rebaud trong tác phẩm
(ghi chú, hệ thống hóa, ghi nhớ, liên kết các mạch kiến thức toán). [11]
Cũng sử dụng vào giảng dạy môn Toán học, tác giả Chu Cẩm Thơ sử dụng
BĐTD không chỉ giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức mà còn giúp biết phát hiện và
giải quyết vấn đề. [40]
PGS.TS Lê Công Triêm và Lương Thị Lệ Hằng sử dụng BĐTD giúp học sinh
hệ thống hóa bài học vật lí để có thể chỉ ra được sự liên hệ giữa các nội dung kiến
thức nhằm ghi nhớ và tái hiện bài học tốt hơn. [42]
8
Tác giả Trần Văn Thành sử dụng BĐTD trong tổ chức dạy học dự án các nội dung
kiến thức từ trường (vật lí 9). Tác giả nhận định học sinh cần sử dụng BĐTD trên giấy
hoặc phần mềm hỗ trợ để lập kế hoạch, tạo ra sản phẩm và trình bày sản phẩm. [39]
Dùng công cụ là BĐTD để bồi dưỡng năng lực tự học vật lí cho học sinh trung
học phổ thông thông qua việc sử dụng sách giáo khoa có tác giả Nguyễn Văn Quang
[37], dùng BĐTD để tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh có tác giả Lê Thị Hà
[18], Lê Thị Kiều Oanh [33].
Tác giả Hoàng Đức Huy là người dạy văn bằng BĐTD. BĐTD được triển
khai sau khi kết thúc một bài học. Mỗi bài văn học sinh sẽ trình bày các ý theo công
thức 5W1H. Như tác phẩm Truyện Kiều sẽ có các ý: tác giả, tác phẩm, nghệ thuật,
nội dung, lời bình về tác phẩm... Thông qua “cây” tư duy, các kiến thức văn học trở
nên dễ hiểu, dễ nhớ và tạo hứng thú với các em. [23]
Vận dụng BĐTD để tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh trường
THPT Việt Trì, tác giả Tạ Thị Thu Huế giúp học sinh được tự do, tự tin trình bày ý
tưởng đồng thời hiểu nội dung và có cảm xúc tích cực với bài học. [22]
1.1.1.4. Các công trình nghiên cứu về sử dụng BĐTD trong GDMN
Tháng 9 năm 2010, một số giáo viên ở các trường MN tại Thành phố Hồ Chí
Minh được tập huấn sử dụng phần mềm Mind Manager do TS Nguyễn Thị Hồng
Phượng giảng dạy để thiết kế mạng nội dung và mạng hoạt động. Các mạng này
dạng sơ đồ hình nhánh, nhằm tổ chức và làm nổi bật thông tin”. [15, tr19]
Các tác giả Trần Đình Châu, Chu Cẩm Thơ, Trần Văn Thành đều cho rằng:
“BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các
ý tưởng”. [40], [11], [39]
Như vậy, có những quan niệm khác nhau nhưng các tác giả đều đưa ra hình
thức và công dụng của BĐTD. Theo chúng tôi, về hình thức, các BĐTD đều giống
nhau ở một số điểm. Chúng đều sử dụng màu sắc, có một cấu trúc cơ bản được phát
triển rộng ra từ trung tâm, dùng các đường thẳng hoặc cong, các biểu tượng, từ ngữ
và hình ảnh để diễn đạt sinh động và đầy đủ các thông tin dài. Về công dụng, BĐTD
giúp mỗi người suy nghĩ sáng tạo, linh hoạt đồng thời nhìn thấy bức tranh toàn thể
của vấn đề từ đó tiếp nhận nhiều thông tin và ghi nhớ dễ dàng hơn.
Với cách nhìn nhận như trên, chúng tôi xây dựng khái niệm BĐTD như sau:
10
BĐTD là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người, bắt đầu
từ hình ảnh trung tâm là vấn đề chính tỏa ra các nhánh, kết hợp nét vẽ, màu sắc, từ
khóa để suy nghĩ sáng tạo, linh hoạt đồng thời tiếp thu và ghi nhớ nhiều thông tin.
1.1.2.2. Tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ
Về khái niệm MTXQ có một số quan niệm của các tác giả khác nhau:
– Tác giả Lê Thị Ninh cho rằng: MTXQ là toàn bộ sự vật và hiện tượng của giới
hữu sinh và vô sinh được thu hút vào quá trình của đời sống xã hội ở một giai đoạn lịch sử
nhất định và tạo thành điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. [30, tr16]
– Tác giả Hoàng Thị Phương định nghĩa: MTXQ là tất cả những gì bao
quanh chúng ta như tự nhiên, con người, các đồ vật… Khái niệm này có thể nhìn
nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, MTXQ là tất cả các sự vật, hiện
tượng, con người có trong hành tinh mà chúng ta đang sống. Theo nghĩa hẹp, MTXQ
là những hoàn cảnh cụ thể (các sự vật, hiện tượng, con người…) bao quanh một đối
tượng có liên quan mật thiết với nó. [36, tr7]
Sử dụng theo Từ điển tiếng Việt là đem dùng vào mục đích nào đó [35, tr862]. Tác
giả Nguyễn Như Ý cũng cho rằng: Sử dụng là đem dùng vào một công việc [49, tr1471].
Như vậy, hướng dẫn SV sử dụng BĐTD trong việc thực hành tổ chức KPKH
về MTXQ chính là cách thức tiến hành hoạt động sư phạm của GV nhằm cung cấp
cho SV kiến thức và hình thành kĩ năng thiết kế, sử dụng BĐTD từ đó ứng dụng vào
việc tổ chức cho trẻ KPKH giúp trẻ hứng thú hơn, lĩnh hội nhiều hơn, ghi nhớ tốt hơn
đồng thời phát triển tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo.
Từ cách hiểu như trên, chúng tôi xác định khái niệm “hướng dẫn SV sử dụng
BĐTD cho trẻ MG 5 – 6 tuổi KPKH về MTXQ” như sau:
Hướng dẫn SV sử dụng BĐTD cho trẻ MG 5 – 6 tuổi KPKH về MTXQ là
cách thức tiến hành hoạt động sư phạm của GV nhằm giúp SV biết vận dụng
BĐTD vào tổ chức hoạt động cho trẻ MG 5 – 6 tuổi KPKH đạt hiệu quả.
1.1.3. Một số vấn đề về BĐTD
1.1.3.1. Cấu trúc của BĐTD
BĐTD được vẽ như một tế bào thần kinh [9, tr158]. Cấu trúc của BĐTD gồm
một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm (giống như thân bào) và nối với nó là các
nhánh (giống như các rễ thần kinh). Cụ thể như sau:
12
– Ở giữa BĐTD là chủ đề hay hình ảnh trung tâm.
– Chủ đề này sẽ được phát triển bằng các nhánh lớn thể hiện ý tưởng chính
và đều được nối với trung tâm. Trên mỗi nhánh lớn là từ khóa hay hình ảnh thể hiện
nội dung của nhánh đó.
– Các nhánh lớn lại được phân thành các nhánh nhỏ nhằm thể hiện chủ đề ở
mức độ sâu hơn. Trên mỗi nhánh nhỏ cũng là những từ khóa hay hình ảnh thể hiện
nội dung của nhánh.
– Các nhánh nhỏ lại được phân thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện chủ
đề ở mức độ sâu hơn. Trên mỗi nhánh nhỏ hơn này cũng là những từ khóa hay hình
đường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn, thu hút được sự chú ý của mắt hơn nhiều.
6. Sử dụng một từ khóa trong mỗi dòng. Bởi các từ khóa mang lại cho BĐTD
nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao. Khi sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi
từ không bị ràng buộc, do vậy nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ
mới. Một BĐTD với nhiều từ khóa bên trong như một bàn tay với nhiều ngón tay
cùng làm việc. Ngược lại, BĐTD có nhiều cụm từ hay nhiều câu lại như một bàn tay
mà các ngón tay bị giữ trong những thanh nẹp cứng ngắc.
7. Dùng những hình ảnh xuyên suốt. Bởi vì giống như hình ảnh trung tâm,
mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ. Vì vậy, nếu có 10 hình ảnh trong
BĐTD thì đã ngang bằng với 10000 từ của những lời chú thích.
Nhóm tác giả J.L.Deladrière, F.L.Bihan, P.Morgin, D.Rebaud cho rằng các
giai đoạn để lập một BĐTD là:
1. Chuẩn bị: dụng cụ, thời gian và môi trường thuận lợi.
2. Nêu vấn đề: Dùng trí tưởng tượng của bản thân để tìm hình ảnh trung tâm của BĐTD.
3. Phân nhánh: Đặt ra những hỏi về chủ đề và trả lời để tìm ra các nhánh chính
nối trực tiếp với hình ảnh trung tâm. Nên để ý tưởng tuôn trào càng nhiều càng tốt và
phát huy khả năng sáng tạo. Chú ý dùng hình ảnh thay chữ nếu có thể.
14
4. Xem xét: Ở giai đoạn này, cần xem xét BĐTD một cách tổng quát và cụ
thể. Xác định chính xác các chủ đề chính (nằm trên các nhánh chính), loại bỏ hay
thay thế những từ khóa thừa và lặp. Với những chi tiết quan trọng, dùng màu để tô
hoặc đánh số thứ tự theo mức độ quan trọng.
5. Sắp xếp lại: Vẽ lại BĐTD trên một tờ giấy khác. Sắp xếp để sơ đồ có kết
cấu thoáng và hài hòa. Sử dụng một màu đặc trưng cho mỗi nhánh chính và dùng
màu đó để viền cho tất cả nhánh con hoặc vẽ đám mây bao quanh phân nhánh đó.
6. Xem lại: Nhìn BĐTD cách tổng quát, cụ thể để hoàn thiện BĐTD.[15, tr39–43]
Theo tác giả Nguyễn Văn Quang [37], Lê Thị Hà [18] và Lê Thị Kiều Oanh
hình ảnh. Đây chính là các nhánh lớn của BĐTD, giống như cành lớn của cây, có tác
dụng triển khai ý tưởng chủ đề.
– Sử dụng một từ khóa (từ then chốt) trên mỗi đường liên kết để thấy rõ bản
chất vấn đề đang xem xét, đồng thời giúp liên tưởng được in sâu trong não.
– Đối với mỗi từ khóa, vẽ một hình bên cạnh để diễn tả và nhấn mạnh nó.
Bước 4: Tiếp tục phân các nhánh nhỏ
– Từ phía cuối các nhánh lớn, tiếp tục vẽ các đường liên kết dạng cong. Nên
sử dụng một màu đặc trưng cho mỗi nhánh. Đây chính là các nhánh nhỏ của mỗi
nhánh lớn có tác dụng triển khai ý tưởng của nhánh đó.
–
Trên mỗi nhánh nhỏ sử dụng từ khóa, hình ảnh diễn tả nội dung của ý con.
Bước 5: Hoàn thiện BĐTD
– Xem lại tổng quát BĐTD, giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các
liên kết cần thiết.
1.1.3.3. Nguyên tắc vẽ BĐTD
Để sử dụng công cụ BĐTD một cách có hiệu quả, trong quá trình thiết kết
BĐTD cần lưu ý một số nguyên tắc: nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc
a. Nguyên tắc “nhấn mạnh”
Nhấn mạnh rất quan trọng vì nó làm tăng trí nhớ và thúc đẩy sự sáng tạo
[53, tr107]. Trong BĐTD, muốn đạt hiệu quả cao, cần lưu ý:
Luôn luôn sử dụng hình ảnh ở trung tâm
Hình ảnh thu hút sự tập trung của mắt và não, kích hoạt vô số liên kết đồng
thời giúp ghi nhớ hiệu quả. Hơn nữa, hình ảnh hấp dẫn sẽ gây thích thú và chú ý. Nếu
16
phải dùng từ thay cho ảnh làm trung tâm thì tìm cách biến nó thành hình ảnh (kiểu
c. Nguyên tắc “mạch lạc”
Ngoài hai nguyên tắc trên thì sự mạch lạc, diễn đạt dễ nhìn của BĐTD cũng
đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hứng thú, giúp ghi nhớ dễ dàng hơn.
Mỗi đường liên kết chỉ dùng một từ khóa
Từ khóa là những từ gợi liên tưởng đến những từ và hình ảnh khác. Có thể
xem các từ khóa được sử dụng trong BĐTD như dấu hiệu cung cấp thông tin.
Sử dụng từ sẽ hiệu quả hơn so với cụm từ. Tác giả Tony Buzan đã đưa ra ví dụ
để chứng minh cụm từ không phát huy tác dụng trong BĐTD. [53, tr114]
Ví dụ 1: Cách ghi chú bằng nhóm từ thông thường, mới thoạt nhìn thì có vẻ
thích hợp nhưng chứa đựng những điểm thiếu chính xác nguy hiểm
Ví dụ 2: Cách ghi chú cô đọng hơn, minh họa cho khả năng tự do mở rộng
liên tưởng ở mỗi từ
Ví dụ 3: Cách ghi chú theo hướng dẫn đầy đủ khi tạo BĐTD, cho phép người
ghi chú có thể phản ánh hình ảnh toàn diện, chân thực và cân bằng hơn về thực tế
Chúng ta thấy ở ví dụ 1, cách ghi chú không hiệu quả vì cả 3 từ cùng nằm trên
một đường liên kết, từ “rất buồn” không có chỗ trống. Ở ví dụ 2, cô đọng hơn nhờ việc
tách cụm từ thành các bộ phận, do đó có thể tự do liên tưởng ở mỗi từ. Tuy nhiên, PP
dùng từ đơn thuần tác động chủ yếu vào bán cầu não trái làm hạn chế khả năng sáng tạo
của não đối với từ. Ví dụ 3 tuân thủ nguyên tắc của BĐTD, diễn tiến của quá trình “buổi
chiều rất buồn” cho thấy nguyên nhân nỗi buồn được tách ra khỏi buổi chiều và làm rõ.
Như vậy, khi vẽ BĐTD, chúng ta nên:
– Chọn các từ khóa có khả năng gợi lại thông tin.
– Viết các từ khóa rõ ràng trên các nhánh.
– Viết một từ khóa trên mỗi nhánh để tránh bị hạn chế trong các câu chữ.
18