Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong
công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
Nguyễn Thanh Lý
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 01 07
Người hướng dẫn: PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Pháp luật Việt Nam; Giao dịch có khả năng tư lợi; Công ty cổ phần
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, mô
hình kinh tế nhiều thành phần hình thành, phát triển đã mang đến cho nền kinh tế Việt Nam những
nét đặc thù rõ rệt so với các nền kinh tế ở các quốc gia khác trên thế giới. Hệ thống công ty hiện nay
của chúng ta là hệ quả tất yếu từ quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế trong hơn 20 năm qua.
Với cấu tạo đa dạng và phức tạp, hoạt động của công ty nhà nước, công ty tư nhân, công ty có vốn
đầu tư nước ngoài đều có những đặc điểm và mang lại những giá trị riêng, không thể phủ nhận sức
ảnh hưởng mạnh mẽ của công ty đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ngược lại, nhiệm vụ của Nhà
nước là tạo ra những cơ chế điều tiết hiệu quả đối với các công ty này trên cơ sở đảm bảo công
bằng, bình đẳng cho các đối tượng tham gia vào công ty và vì lợi ích chung của nền kinh tế - xã hội.
Về bản chất công ty chính là một hợp đồng, khi góp vốn vào công ty các thành viên đã tự
nguyện cam kết vào một khế ước chung mà nền tảng là nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do kết ước
và tự do lập hội. Một công ty hiệu quả, đạt được mục đích chung mà các thành viên hướng tới đòi
hỏi các thành viên trong công ty phải thiện chí, thực hiện công việc của công ty như thực hiện công
việc của chính bản thân mình [13] [8]. Xét về mục tiêu thì pháp luật điều chỉnh chung, điều lệ công
ty và các văn bản nội bộ của công ty luôn hướng tới việc làm sao để đạt được những hiệu quả trên.
Tuy nhiên, trong quá trình vận hành của công ty, không phải lúc nào các thành viên trong công ty
cũng thực hiện đúng thỏa thuận chung và nghĩa vụ của mình.
Thực tế, vấn đề lợi dụng công ty để tư lợi cho bản thân đã và đang diễn ra ngày càng phức
tạp, đáng báo động ở Việt Nam. Luận giải cho thực tế này cũng rất dễ hiểu bởi kinh doanh vốn là
hoạt động đa dạng và phức tạp trong khi nghĩa vụ trên của các thành viên xuất phát từ nền tảng đạo
đức, những đòi hỏi về tính thiện chí, trung thực, cẩn trọng đều rất mơ hồ và khác nhau trong những
tượng bị kiểm soát và các biện pháp nhằm kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các giao dịch có khả năng tư lợi trong mô
hình công ty cổ phần. Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định liên quan đến kiểm soát giao dịch
có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần trong luật Doanh nghiệp, đồng thời có sự liên hệ với các
quy định trong một số luật liên quan như: Luật Phá sản, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Chứng
khoán…
3. Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đã được đề cập khá nhiều, đặc biệt là từ sau khi
Việt Nam gia nhập WTO. Vấn đề này đã được các chuyên gia, các nhà nghiên cứu kinh tế, luật học
rất quan tâm, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ “Một số vấn đề
pháp lý về giao dịch trục lợi” của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm; Luận văn thạc sỹ “Kiểm soát các
giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005” của tác giả
Ngô Thị Bích Phương; bài viết trên Tạp chí Luật học số 1/2004 “Kiểm soát các giao dịch tư lợi
trong công ty theo Luật Doanh nghiệp” của Ths. Lê Đình Vinh; bài viết “Kiểm soát các giao dịch
có nguy cơ phát sinh tư lợi theo Luật Doanh nghiệp 2005” của Ths. Trần Thị Bảo Ánh... Ngoài ra,
vấn đề kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi cũng đã được đề cập trong một số giáo trình và sách
tham khảo của các trường đại học như: Giáo trình Luật Thương mại – Phần chung và thương nhân
của PGS.TS Ngô Huy Cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Bên cạnh đó, kiểm soát giao
dịch tư lợi cũng là chủ đề của một số diễn đàn chia sẻ nghiên cứu khoa học gần đây.
Tuy nhiên, những công trình khoa học và những bài viết đã nghiên cứu đều tiếp cận vấn đề
kiểm soát giao dịch tư lợi ở góc độ chung nhất hoặc chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp là Luật
Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 chưa sửa đổi, bổ sung. Có thể khẳng định rằng, cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về các giao dịch có khả năng tư lợi trong phạm vi mô
hình công ty cổ phần. Các công trình nghiên cứu trên chưa có sự nghiên cứu sâu và kết nối giữa
Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác như: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Chứng
khoán,… và một số quy định của quốc tế. Từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung
năm 2009 ra đời đến nay đã 8 năm và Luật Doanh nghiệp 2005 lại tiếp tục nằm trong đề án đưa ra
sửa đổi, bổ sung lần thứ 2, cộng với quá trình hội nhập khu vực, hội phập quốc tế phát triển mạnh
mẽ (đánh dấu bằng việc trở thành thành viên chính thức của ASEAN, ASEM, APEC và WTO),
thống kê, phương pháp lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ các
vấn đề liên quan đến kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi giữa pháp luật Việt Nam và pháp
luật quốc tế, qua đó thấy được sự tương đồng, khác biệt của Việt Nam và quốc tế làm luận cứ xác
thực cho việc đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập của pháp luật hiện nay về kiểm soát
giao dịch tư lợi.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch có
khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi. Về mặt lý luận, luận văn đưa ra cái nhìn
tổng quan về giao dịch có khả năng tư lợi qua khái niệm và đặc điểm của giao dịch tư lợi, tác động
của giao dịch có khả năng tư lợi, đồng thời xác định cấu trúc của pháp luật về kiểm soát giao dịch
có khả năng tư lợi. Về mặt thực trạng, trên cơ sở phân tích, tổng hợp quy định pháp luật điều chỉnh
và thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi, luận văn đưa ra những nhận
định, đánh giá. Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát giao
dịch có khả năng tư lợi và cơ chế nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát
các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty
cổ phần theo pháp luật Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch có khả
năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam.
References
I. Tiếng Việt
1.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) (2003), Báo cáo bốn năm thi hành Luật Doanh nghiệp, Hà Nội;
2.
chí khoa học pháp lý số 4;
14. Ngô Thị Bích Phương (2007), “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy
định của Luật doanh nghiệp năm 2005”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội;
15. PGS.TS Nguyễn Như Phát (2005), “Góp ý dự thảo Luật doanh nghiệp (thống nhất)”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số7, Hà Nội;
16. PGS.TS Nguyễn Như Phát, Quyền tự chủ về vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước;
17. PGS.TS Nguyễn Như Phát (2002), Giáo trình Luật Kinh tế, NXB Chính trị Quốc gia, trang
32;
18. PGS.TS Nguyễn Như Phát (2008), Giáo trình Luật Kinh tế, NXB Công an Nhân Dân;
19. Đỗ Đăng Khoa, Cấu trúc quản trị công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp.
20. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên Khảo Luật kinh tế, NXB Đại học Quốc Gia Hà
Nội, Hà Nội;
21. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2002), “Quyền tài sản trong cải cách kinh tế: Quan niệm, một số
bài học nước ngoài và kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11, Hà Nội;
22. Nguyễn Minh Mẫn (1996), Đổi mới và hoàn thiện khung pháp luật kinh tế trong điều kiện
kinh tế thị trườngViệt Nam, Luận án Phó tiến sĩ, Hà Nội;
23. Quốc hội (2005), Luật Phá sản số;
24. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11;
25. Quốc hội (1999), Luật Doanh nghiệp năm 1999;
Quốc hội (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH11;
Quốc hội (2005), Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11;
Quốc hội (2006), Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11;
Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Raymond Mallon & CIEM (2004), Cải cách các quy định về kinh doanh: Cẩm nang dành cho
các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, dự án nâng cao nâng lực cạnh tranh - VNCI, Hà
Nội;
31. Ronald Gilson (2004), Tầm quan trọng của quản trị công quản trị công ty niêm yết, Hội nghị
bàn tròn Châu Á về quản trị doanh nghiệp, Lý do tại sao quản trị doanh nghiệp được quan
28.
29.
30.