ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DPSIR ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC MẶT Ở XÃ CỰ KHÊ, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
Phạm Thị Thu Hà, Vũ Thị Thu Thảo
Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN
Tóm tắt: Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo, nước mặt tồn tại dưới
dạng nước trong sông, hồ, nước ngọt trong vùng đất ngập nước, băng, tuyết....Vai trò của nước
mặt cũng như nước nói chung không thể thiếu trong toàn bộ sự sống và các quá trình xảy ra trên
Trái Đất. Xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội là một xã ven đô nằm ở phía Nam của
thành phố Hà Nội và từ năm 2011 trở về đây xã đang phát triển theo hướng đô thị hóa, điều này gây
sức ép không nhỏ tới môi trường nước mặt của xã. Đề tài đã áp dụng mô hình DPSIR để đánh giá hiện
trạng môi trường nước mặt ở xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014.
Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực chính là sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa và hoạt động
phát triển kinh tế - xã hội của người dân. Áp lực chính là rác thải, nước thải ngày càng gia tăng, và
phát sinh chủ yếu từ quá trình sản xuất của các hộ dân trong và ngoài ranh giới của xã. Chất lượng môi
trường nước mặt của xã Cự Khê đã bị ô nhiễm cục bộ tại một số điểm như sông Nhuệ (đoạn chảy qua
thôn Cự Đà, thôn Khúc Thủy) và kênh Khê Tang, với một số thông số không đạt TCCP theo QCVN
08:2008/BTNMT là BOD5, COD, DO, NO3-, NH4+. Điều này đã gây ra các ảnh hưởng tới sức khỏe,
hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân trong xã. Các đáp ứng mà xã Cự Khê đã thực hiện nhằm
cải thiện môi trường nước mặt như nạo vét kênh mương, thành lập tổ thu gom rác tại các thôn trong
xã. Tuy nhiên, các đáp ứng là vẫn chưa đủ và hiệu quả, do đó đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị bổ
sung trong quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước mặt trên địa bàn của xã.
Từ khóa: Mô hình DPSIR, môi trường nước mặt, xã Cự Khê.
Summary: Surface water is water on the mainland or islands, surface water exists in the
forms of water in rivers, lakes and freshwater in wetlands, ice, snow ... The role of surface
water as well as general water are very important in all the life and the processes occurring on
the earth. Cu Khe Commune, Thanh Oai District, Hanoi is located in the south of Hanoi and
from 2011 until now, the commune was growing towards urbanization that has created
pressures on the quality of surface water. The research has applied DPSIR model to assess the
environmental status of surface water in Cu Khe Commune, Thanh Oai District, Hanoi in the
period of 2010 - 2014. The results show that the main drivers are the increase of population,
đều bị ô nhiễm, đặc biệt là các con sông chạy trong lòng thành phố là nơi chứa đựng rác thải,
nước thải từ các hoạt động sống của con người, nước ở các thủy vực thường có màu đen, mùi
nồng nặc khó chịu [5]. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt là từ các nguồn nước
thải sinh hoạt, nước thải y tế, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp,…hầu hết nước thải
này đều không được xử ly bằng các công trình và hệ thống xử lý mà được thải trực tiếp ra
nguồn tiếp nhận hoặc nếu có thì không đạt tiêu chuẩn quy định.Ô nhiễm môi trường nước mặt
đã gây ra rất nhiều những tác động bất lợi đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng dân cư.
Những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe con người như gây ra nhiều loại bệnh
về da, mắt, gan, đường ruột,…thậm chí nhiều loại bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con
người. Ảnh hưởng của ô nhiễm nước mặt tới các hệ sinh thái như làm suy giảm tính đa dạng
sinh học, thành phần loài sinh vật trong các thủy vực.
Xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội là một xã ven đô nằm ở phía Nam của
thành phố Hà Nội, đang diễn ra quá trình đô thị hóa làm cho diện tích môi trường nước mặt
trong xã ngày càng bị thu hẹp, những khu vực nước mặt còn lại đang có dấu hiệu đi xuống về
mặt chất lượng. Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt của xã là rất cần thiết
nhằm đưa ra những giải pháp quản lý tài nguyên nước hợp lý, định hướng cho phát triển kinh tế
- xã hội của xã được bền vững hơn trong những năm tới. Đề tài đã ứng dụng mô hình DPSIR để
đánh giá các khía cạnh động lực, áp lực tác động đến chất lượng nguồn nước mặt và hiện trạng
chất lượng nước mặt của xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội trong giai đoạn 2010-2014. Bên
cạnh đó, mô hình DPSIR cũng được sử dụng để đánh giá những tác động bất lợi của ô nhiễm
nguồn nước mặt đến sức khỏe, hoạt động phát triển kinh tế của xã Cự Khê và những giải pháp
đáp ứng mà xã đã và đang thực hiện. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp
2
để nâng cao chất lượng môi trường nước mặt của xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà
Nội.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
và vẽ biểu đồ liên quan phục vụ cho việc thảo luận các phát hiện của nghiên cứu.
Ngoài ra, nhóm tác giả cũng tham vấn ý kiến các lãnh đạo trong xã, ý kiến của chủ tịch xã, các
cán bộ chuyên môn về địa chính, văn hóa truyền thống,…của xã cùng sáu trưởng thôn của sáu
thôn (thôn Cự Đà, thôn Khúc Thủy, thôn Thượng, thôn Mỹ, thôn Cầu, thôn Hạ) về các nguyên
nhân gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt trong địa bàn xã, các vấn đề về thu gom xử lý rác thải,
nước thải, thống kê số liệu về các hộ làm nghề và chăn nuôi trong mỗi thôn. Tham vấn ý kiến của
các lãnh đạo về khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ môi trường nói chung, nguồn nước mặt nói
riêng.
3
Phương pháp quan sát thực tế
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã quan sát thực tế tại 6 thôn để tìm hiểu nguồn phát sinh
ô nhiễm nước mặt của xã, tìm hiểu đặc điểm xử lý rác thải và nước thải của hộ dân, đồng thời
đánh giá nhanh môi trường ở các con sông, kênh, mương chính trong xã để đánh giá mức độ ô
nhiễm, kiểm tra và hiệu chỉnh những thông tin đã thu được qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ
cấp.
2.2.2. Phương pháp phân tích mô hình DPSIR
D P S I R là chữ đầu của năm từ Động lực – Driving Forces (D), Áp lực – Pressure (P),
Hiện trạng – State (S), Tác động – Impact (I), Đáp ứng – Response (R). Mô hình DPSIR mô
tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của
các biến đổi môi trường), Áp lực (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi
trường), Hiện trạng (hiện trạng chất lượng môi trường), Tác động (tác động của ô nhiễm môi
trường đối với sức khỏe cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh
thái), Đáp ứng (các đáp ứng của nhà nước và xã hội để bảo vệ môi trường) [9]. Ứng dụng mô
hình phân tích tổng hợp DPSIR (Driving Forces – Pressure – State – Impact – Response) để
theo mô hình DPSIR như sau:
Động lực
- Sự gia tăng dân
số
- Hoạt động phát
triển kinh tế
- Đô thị hóa, xây
dựng.
Áp lực
Hiện trạng
- Rác thải từ sinh
hoạt, hoạt động sản
xuất kinh tế, xây
dựng
- Nước thải từ sinh
hoạt, hoạt động sản
xuất kinh tế
- Dư lượng phân bón
hóa chất bảo vệ thực
vật
- Chất lượng nước
mặt: nhiệt độ, pH,
DO, COD, BOD5,
SS, Coliform, NO2-,
NO3-, NH4+…
Tác động
phố Hà Nội theo mô hình DPSIR
3.1.1. Động lực (Driving Forces)
a) Sự gia tăng dân số
5
Kết quả điều tra thực địa tại khu vực nghiên cứu cho thấy, Cự Khê là xã có phong tục tập
quán nhân dân sống thành từng xóm. Các điểm dân cư sống khá tập trung và phân bố chủ yếu
dọc theo các tuyến giao thông, thôn Cự Đà là nơi tập trung đông dân cư nhất.
Diện tích đất ở bình quân trên đầu người của xã tính đến năm 2014 là 46,06m2/người, phù
hợp với quy định về chỉ tiêu sử dụng đất ở trong khu dân cư nông thôn của các xã (≥ 25
m²/người) [8]. Theo số liệu thống kê được từ năm 2010 đến tháng 12 năm 2014, dân số xã Cự
Khê được thể hiện ở Bảng 1.
Bảng 1. Dân số xã Cự Khê từ năm 2010 – 2014
Năm
Số dân (người)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên(%)
2010
2011
5600
2009-2010: 1,49%
5684
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn tăng dần đều, nhưng nguyên nhân tăng dân số không chỉ do
số trẻ được sinh ra tăng so với năm trước mà nguyên nhân là do xã Cự Khê là một xã ven
đô và đang diễn ra quá trình đô thị hóa, đời sống nhân dân được cải thiện, chất lượng cuộc
sống được nâng cao hơn; các cán bộ y tế được bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo thường
xuyên, các trang thiết bị đang từng bước được tăng cường. Do đó, chất lượng khám chữa
bệnh cho nhân dân được nâng lên, hơn nữa còn có nhiều chương trình y tế trọng điểm của
huyện như chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiêm chủng mở rộng, chương trình
phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống các bệnh lao, chăm sóc sức khỏe sinh
sản…được triển khai có hiệu quả. Công tác tuyên truyền kiến thức phòng chống HIV,
phòng chống dịch bệnh được làm thường xuyên, do vậy kiến thức vệ sinh giữ gìn sức
khỏe nhân dân được cải thiện, chất lượng cuộc sống được nâng cao và theo đó tuổi thọ của
người dân được kéo dài hơn so với những năm trước.
Mặc dù dân số tăng dần qua các năm trong giai đoạn năm 2010-2014 nhưng những năm qua
dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền xã, phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình
6
được tuyên truyền sâu rộng tới từng hộ gia đình, được kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền với
các biện pháp hành chính và làm cho công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình cũng thu được
thành quả đáng phát huy. Từ năm 2015, xã đề ra kế hoạch trong giai đoạn năm 2015-2020
trung bình tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên địa bàn xã là 1,12% và tính đến năm 2020 dân
số trên địa bàn là 6.548 nhân khẩu. Sự gia tăng dân số đã và đang tạo ra những áp lực lên môi
trường nước mặt của xã.
b) Hoạt động phát triển kinh tế
Theo số liệu thu thập được từ Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội năm 2014 xã Cự Khê [8] và báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ 4 (năm 2011-2015) của xã Cự Khê [3], nhìn
chung tốc độ phát triển kinh tế của xã năm sau cao hơn năm trước. Năm 2014 tốc độ tăng
trưởng kinh tế đạt 53,86%, tăng 41,06% so với năm 2010 là 12,8%. Tổng giá trị sản xuất ước
Dịch vụ
27%
25%
Nguồn: Công ty tư vấn & DV khoa học Nông nghiệp I – Trường đại học Nông nghiệp
Hà Nội, 2014 [3]
Trong giai đoạn tiếp theo 2015-2020, xã Cự Khê có định hướng đầu tư phát triển ngành
thương mại – dịch vụ theo hướng đa dạng và nâng dần quy mô, số lao động chuyển dịch từ
nông nghiệp sang dịch vụ thương mại, phát triển tập trung tại khu vực chợ và trung tâm xã, chủ
yếu là buôn bán nhỏ lẻ và các ngành nghề truyền thống.
c) Đô thị hóa, xây dựng
Nhìn chung đất đai của xã có xu thế chuyển từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, và đây
là điều tất yếu xảy ra khi dân số ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu về đất ở và các công trình hạ tầng
cũng tăng theo.
Năm 2010 Nhà nước thu hồi 153,48 ha đất chuyên trồng lúa nước để xây dựng tuyến đường trục
phát triển phía Nam và 2 khu đô thị Thanh Hà A, B và Cienco 5. Theo định hướng của Quốc gia,
tuyến Vành đai 4 Hà Nội sẽ được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 - 2020 với quy mô từ 6-8
7
làn xe và rộng 120m, đoạn qua xã Cự Khê dài khoảng 2,0 km với diện tích đất thu hồi khoảng 20,2
ha. Giai đoạn năm 2010 – 2020 xã chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng trong đó giao thông, cơ sở văn
hóa, giáo dục, y tế được ưu tiên phát triển. Việc xây dựng khu dân cư mới, chỉnh trang khu dân cư
hiện có và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường sẽ được thực hiện theo các quy
hoạch tương ứng được lập và phê duyệt phù hợp với quá trình phát triển đô thị của Nhà nước trên
địa bàn xã.
Nhận xét chung:
Như vậy, sự gia tăng dân số, hoạt động phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa trong
những năm qua ở xã Cự Khê đã, đang và sẽ gây ra những áp lực đến môi trường bởi sự gia
8
%
100
75,34
80
Số hộ dân
60
40
17,33
20
7,33
0
1-5
5 kg
6-10 kg
11-15 Kg
Đổ tự do
16,14%
Đổ xuống sông, hồ, ao
2,48%
4,96%
Hình 4. Hình thức
th xử lý rác thải tại mỗi hộ gia đình của xã Cự
ự Khê
Theo kết quả phiếu điều
u tra
tra, phỏng vấn (Hình 4) cho thấy ngườii dân có nhi
nhiều hình thức
để xử lý rác thải sinh hoạt củaa gia đình
đ
mình như là đổ đúng nơi quy định
nh (có xe thu gom rác
thường xuyên), tự chôn lấp, ủ làm phân, đổ tự do, đổ xuống sông, hồ,, ao. Trong đó, ph
phần lớn
người dân xử lý rác thảii sinh ho
hoạt bằng hình thức đổ đúng nơi quy định (chiếm
ếm 44,13%) (di
(diễn
ra ở 4 thôn đã hình thành đượ
ợc tổ thu gom rác là thôn Mỹ, Thượng, Cầu
u và H
Hạ) và đổ xuống
sông, hồ, ao (chiếm
được quan tâm. Nước thải sinh hoạt và sản xuất của các hộ gia đình chưa qua xử lý chảy vào
hệ thống cống chung, hoặc chảy tràn trên bề mặt xuống các ao hồ, sông, suối, kênh mương đã
phần nào gây ô nhiễm môi trường sống và đặc biệt gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn
nước mặt. Trong xã vẫn còn nhiều hộ gia đình làm nghề miến và tương nên nước thải sản xuất
và sinh hoạt trong xã chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có các
thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Theo kết quả phiếu điều tra
và quan sát thực thế cho thấy 80% hộ dân trong xã không có hệ thống xử lý nước thải, 20%
hộ dân là có hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ là xử lý sơ bộ qua bể lắng tự hoại đối với
nước thải từ khu vực nhà vệ sinh, còn chủ yếu nước thải vẫn chưa qua xử lý đổ thải ra cống
chung hoặc chảy vào các nguồn nước mặt. Hình 6 thể hiện nguồn tiếp nhận nước thải từ các hộ
dân.
% 100
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0
82,67
Số hộ dân
15,33
Cống dẫn nước
thải chung
người dân chưa am hiểu về vấn đề sử dụng đúng liều lượng, chủng loại, đúng bệnh, đúng thời
điểm các loại phân hóa học, thuốc BVTV nên đã gây tác động đến môi trường đất và nước.
Qua quan sát nhận ghi nhận đa số các vỏ chai, bao bì sau khi sử dụng thường không được
quản lý chặt chẽ, chưa được thu gom tiêu hủy hay tái chế triệt để, người dân sau khi sử dụng
xong chủ yếu vứt ngay tại chỗ và vô tình chúng được cuốn vào dòng nước gây ô nhiễm môi
trường nước mặt trong xã.
Nhận xét chung:
Sự gia tăng lượng rác thải, nước thải từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất và việc sử dụng
hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn
nước mặt của xã. Qua điều tra và phỏng vấn người dân cho thấy nguồn gây ra ô nhiễm môi
trường nước mặt của xã Cự Khê bao gồm các nguồn cả trong và ngoài ranh giới của xã gây
ra.
Duy nhất nguồn thải từ xã
Nguồn thải từ nơi khác
mang đến
Cả hai nguồn trên
27,34%
57,33%
15.33%
Hình 6. Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường nước mặt xã Cự Khê
Dựa vào hình 6 cho thấy trên 57% ý kiến người dân cho rằng nguồn gốc ô nhiễm bắt
nguồn từ cả khu vực trong xã và ranh giới ngoài xã, trên 27% ý kiến cho rằng nguồn gây ra ô
nhiễm chỉ bắt nguồn từ xã. Trên địa bàn xã có 3 nguồn cung cấp nước mặt chính là Sông
Nhuệ, kênh Khê Tang, sông Đồng Náng; đây là các nguồn liên Xã, liên Huyện thậm chí cả
liên Tỉnh. Sông Nhuệ bắt nguồn từ sông Tô Lịch chảy qua quận Hà Đông, đặc thù nước của
dòng sông này chủ yếu là nước thải sinh hoạt, nước thải từ các khu công nghiệp, bệnh viện
(bệnh viện Hà Đông, viện 103), trường học,…Kênh Khê Tang (sông Hòa Bình) chảy qua địa
- Vị trí 6 (M6): Nước mặt sông Đồng Náng, đoạn chảy qua thôn Thượng, xã Cự Khê.
Chất lượng môi trường nước mặt của xã Cự Khê được so sánh với quy chuẩn
08:2008/BTNMT (cột B1 - Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng
khác như giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp) - Quy
chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về chất lượng nước mặt [6]. Trong đó, quan trắc 16 thông số bao
gồm Nhiệt độ, pH, DO, BOD5, COD, SS, Tổng N, Tổng P, Tổng dầu mỡ, Dầu mỡ ĐTV,
Coliform, As, Pb, NO2-, NO3-, NH4+.
Bản đồ vị trí các điểm quan trắc nước mặt tại xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà
Nội được thể hiện ở Hình 7.
12
Hình 7.
Bản đồ vị trí
các
điểm
quan
trắc
nước mặt tại
xã Cự Khê,
huyện Thanh
Oai,
thành
phố Hà Nội
Kết quả phân tích chất lượ
ợng nước mặt vào tháng 10 hàng năm trên địaa bàn xã C
Cự Khê
giai đoạn năm 2010 – 2014 cho thấy
2010
2011
2012
2013
2014
Năm
Hình 8: Diễn biến
n hàm lư
lượng DO tại 6 vị trí quan trắc nước mặt củaa xã C
Cự Khê
giai đoạn 2010-2014
Qua biểu đồ Hình 8 cho th
thấy so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT (Cộtt B1) quy định mức
tối thiểu đối với hàm lượng
ng DO là 4 mg/l thì kết quả DO tại các vị trí M1, M3, M5, M6 đđều
đạt TCCP, chỉ riêng tại vị trí M2 và M4 có DO nhiều năm là nằm dưới ngưỡ
ỡng tối thiểu cho
phép. Giai đoạn năm 2010 – 2014, hàm lượng DO trong nước mặt tại vị trí M2 dao động
trong khoảng từ 3,37 mg/l – 4,1 mg/l, có giá trị
tr trung bình là 3,69 mg/l thấpp hơn 1,0
1,08 lần so
với QCVN 08:2008(cộtt B1), tại điểm M4 giá trị DO trong nước dao động
ng trong kho
khoảng từ
2012
2013
2014
Năm
Hình 9: Diễn biến hàm lượng BOD5 tại 6 vị trí quan trắc nước mặt xã Cự Khê
giai đoạn 2010 - 2014
Theo QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) quy định hàm lượng BOD5 ở mức giới hạn cho phép là 15
mg/l. Từ năm 2010 – 2014, giá trị DO tại vị trí M3, M5 và M6 hầu hết đều nằm trong TCCP, riêng tại vị
trí M5 (thôn Cầu) giai đoạn từ năm 2010 – 2013 vẫn nằm trong TCCP, nhưng giai đoạn từ năm 2013 –
2014 có hàm lượng tăng và vượt giới hạn cho phép khoảng 1,26 lần. Nguyên nhân là do gần đây tại khu
vực thôn Cầu đang thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách gia tăng số lượng đàn gia súc, gia cầm, với số
lượng (con) gia súc, gia cầm giai đoạn 2013 - 2014 đều tăng từ 0,5 – 1,5 lần so với năm trước [8], dẫn
đến gia tăng lượng nước thải và mức độ ô nhiễm chất hữu cơ trong nước thải và ảnh hưởng tới chất
lượng nguồn nước mặt.
Tại vị trí M1, M2, M4 có hàm lượng BOD5 đều vượt quá giới hạn cho phép theo quy chuẩn
08:2008/BTNMT (cột B1), trong đó M2 và M4 có hàm lượng BOD5 cao hơn hẳn so với các vị trí khác
và đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Nguyên nhân là do việc quy hoạch quản lý nước thải, chất
thải tại khu vực của thôn (Cự Đà, Khúc Thủy và Thượng) chưa tốt nên vẫn còn tình trạng xả nước thải,
rác thải vào nguồn nước mặt, mặt khác dân số ngày càng tăng kéo theo các dịch vụ, nhu cầu của con
người cũng nhiều hơn do đó nguồn thải đổ vào các dòng sông bắt nguồn từ trong thành phố làm các
dòng sông càng ô nhiễm nặng hơn.
Diễn biến hàm lượng COD trong nước mặt của xã Cự Khê giai đoạn năm 2010 –
2014 được thể hiện ở Hình 10.
M1
M2
M3
Theo QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1) quy định giới hạn cho phép đối với COD là 30
mg/l. Qua biểu đồ Hình 10 cho thấy sự chênh lệch về giá trị của COD tại các vị trí lấy mẫu
quan trắc là khá lớn. Hàm lượng COD tại vị trí M1, M2 và M4 có giá trị cao hơn hẳn so với vị trí
M3, M5, M6 và đều có xu hướng gia tăng. Nguyên nhân do cả 3 vị trí này nằm ở các thôn (Cự
Đà, Khúc Thủy và Thượng) chưa được quy hoạch cũng như chưa xây dựng đủ đường cống dẫn
nước thải chung cho các hộ dân nên tình trạng xả trực tiếp nước thải từ hộ gia đình ra dòng nước
mặt vẫn diễn ra thường xuyên. Đặc biệt ở vị trí M2 và M4 có dòng sông Nhuệ, hàng ngày chứa
rất nhiều nước thải từ các khu dân cư trong nội đô đưa đến và hơn nữa hai vị trí này thuộc địa
phận nổi tiếng với các làng nghề như miến, tương, nhưng tới nay vẫn chưa thành lập được tổ thu
gom rác, do vậy người dân có thói quen đổ các loại rác thải và nước thải chứa nhiều chất hữu cơ
trực tiếp xuống dòng sông Nhuệ, làm cho nguồn nước ngày càng ô nhiễm nặng hơn.
Ngoài ra, hàm lượng SS, NO3 - và NH4+ tại một số vị trí quan trắc nước mặt của xã Cự
Khê giai đoạn năm 2010 – 2014 cũng vượt quá TCCP, đặc biệt tại các điểm M2 và M4.
Nhận xét chung:
Nhìn chung, môi trường nước mặt của xã Cự Khê chỉ xảy ra tình trạng ô nhiễm cục bộ tại
một số thôn điển hình có dòng sông Nhuệ, kênh Khê Tang chảy qua và mương đoạn chảy qua
thôn Cầu. Trong đó, các thông số như nhiệt độ, pH, tổng N, tổng P, tổng dầu mỡ, dầu mỡ ĐTV,
tổng Coliform, As, Pb, NO2- nằm trong gới hạn quy chuẩn cho phép, các thông số như DO,
BOD5, COD, SS, NO3-và NH4+ là vượt TCCP theo QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1). Ngoài ra,
xét một cách tổng thể, chất lượng nước mặt trong các thủy vực của xã Cự Khê cũng đang có xu
hướng ngày càng xấu đi do cả 2 nguồn ô nhiễm gây ra, thứ nhất là từ hoạt động sinh hoạt, sản
xuất kinh doanh của các hộ dân sống trong xã, công tác quản lý môi trường và xử lý rác thải,
nước thải thuộc địa phận của xã chưa được thực hiện tốt và thứ hai là do nguồn tài nguyên
nước mặt của xã chủ yếu thuộc dạng liên xã hoặc liên huyện, liên tỉnh trong quá trình vận
chuyển dòng chảy đã mang những chất ô nhiễm từ nơi khác đến xã Cự Khê. Chất lượng môi
trường nước mặt bị ô nhiễm sẽ gây ra những ảnh hưởng bất lợi tới tới sức khỏe cộng đồng,
hoạt động sản xuất kinh tế và các hệ sinh thái, cảnh quan trong khu vực xã Cự Khê.
3.1.4. Tác động (Impact)
Theo kết quả phiếu điều tra về ý kiến đánh giá của người dân đối với chất lượng môi
mắc phải
là bệnh về gan, thận, mắt, đườ
ờng tiêu hóa, da và bệnh về hô hấp. Tỷ lệ phầnn trăm ccủa các loại
bệnh mà người dân thường mắắc phải ở xã Cự Khê được thể hiện ở Hình 11.
10,71%
3,45%
23,58%
Bệnh về gan
Bệnh về thận
19,81%
Bệnh về mắt
Bệnh về đường ruột
28,3%
Bệnh về da
14,15%
Bệnh về hô hấp
Hình 11. Tỷ lệ phần
n trăm của
c các loại bệnh mà người dân hay mắc phảii ở xã Cự Khê
Dựa vào Hình 11 cho thấy
y loại
lo bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là bệnh về da (chi
m ngu
nguồn nước mặt
cũng có thể xem là mộtt lý do chính. T
Thứ nhất, nguồn nước ngầm một phần cũng
ũng bbị ảnh hưởng
từ ô nhiễm nguồn nước mặtt thấm
th
xuống; Thứ hai, người dân sử dụng trựcc ti
tiếp nguồn nước
mặt bị ô nhiễm phục vụ cho sảản xuất nông nghiệp, kéo theo các chất ô nhiễm
m ssẽ tích lũy trong
lương thực, thực phẩm
m sau đó con ngư
người ăn vào sẽ tích lũy trong ngườii gây ra các b
bệnh chủ
yếu về gan và thận.
Ngoài ra, ô nhiễm
m môi trường
trư
nước mặt cũng ảnh hưởng tới hệ thầnn kinh ccủa người dân.
Chúng gây ra những cảm
m giác khó ch
chịu và ức chế cho hệ thần kinh của ngườ
ời dân sống trong
khu vực có nguồn nước bị ô nhi
nhiễm nặng cho đến rất nặng. Theo kết quả tổổng hợp từ phiếu
điều tra môi trường nước mặặt thì có 70% ý kiến người dân cho rằng nguồồn nước mặt bị ô
nhiễm bốc mùi khó chịu, lâu ngày làm người
ngư dân cảm thấy đau đầu (đặcc bi
biệt từ dòng sông
đi thu nhập và cơ hội mở rộng quy mô kinh doanh của các hộ dân trong xã. Tất cả những tác
động trên đều ảnh hưởng tới kinh tế của người dân.
* Tác động của ô nhiễm môi trường nước mặt tới hệ sinh thái và cảnh quan môi trường
Khi môi trường nước mặt bị ô nhiễm sẽ làm thay đổi hệ sinh thái thủy sinh vật có trong
các thủy vực, thay đổi cảnh quan môi trường. Kết quả tổng hợp từ phiếu điều tra ghi nhận có
trên 80% ý kiến người dân cho rằng ô nhiễm môi trường nước mặt ảnh hưởng tới hệ sinh thái,
cảnh quan môi trường và còn lại 15,33% là không có ý kiến gì. Trong 15,33% người dân
không có ý kiến gì, chủ yếu là người dân sống trong các khu vực thôn Hạ và thôn Cầu có môi
trường nước mặt chưa bị ô nhiễm hoặc bị ô nhiễm ở mức rất nhẹ.
Theo quan sát thực tế, nhận thấy đặc điểm thực vật sống chủ yếu xung quanh dòng sông
Nhuệ là một số loại cỏ dây có mầu xanh thẫm, trong dòng nước có thêm thực vật là bèo tây và
một số loại rêu. Qua phỏng vấn một số người dân thì động vật thủy sinh hầu như không có
loài nào sống trong dòng nước, thi thoảng có một vài loại cá dọn bể sống ở khu vực dưới đáy
dòng sông. Từ những năm 80 trở về trước người dân quanh khu vực có thể tắm, bơi trong
dòng sông và cũng có rất nhiều loại động vật thủy sinh sống trong dòng sông Nhuệ, có thể nói
thời gian đó đây là kho dự trữ hải sản như là trai, cua, cá, ốc,… của người dân sống quanh
dòng sông Nhuệ. Tuy nhiên từ những năm 90 trở về đây, người dân không ai dám xuống tắm
hay rửa chân tay ở dòng sông này đồng thời cũng không thấy xuất hiện những động vật thủy
sinh sống trong dòng nước của sông do nước sông bị ô nhiễm quá nặng. Theo như những gì
17
nhóm nghiên cứu quan sát được khi đi thực địa tại xã, môi trường nước mặt ở các khu vực
khác trong xã không bị ô nhiễm hoặc ít bị ô nhiễm có hệ sinh thái đa dạng và phong phú hơn,
đặc biệt là ở thôn Hạ và thôn Cầu.
Nhận xét chung:
Kết quả nghiên cứu cho thấy ô nhiễm môi trường nước mặt trên địa bàn xã Cự Khê đã ảnh
hưởng đến sức khỏe người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh hộ gia đình và hệ sinh thái
thủy sinh vật có trong các thủy vực, làm thay đổi cảnh quan môi trường. Do vậy, xã Cự Khê
bị đang từng bước được tăng cường đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh. Các cán bộ
y tế được bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo thường xuyên.
Các chương trình y tế trọng điểm của huyện như chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu,
tiêm chủng mở rộng, chương trình phòng chống các bệnh lao,…được triển khai hiệu quả. Công tác
tuyên truyền phòng chống dịch bệnh được làm thường xuyên, do đó kiến thức vệ sinh giữ gìn sức
khỏe của nhân dân được cải thiện, chất lượng cuộc sống được nâng cao.
d) Đáp ứng phụ trợ
Các đáp ứng đã và đang thực hiện:
18
Đẩy mạnh, đa dạng hóa công tác tuyên truyền giáo dục về môi trường trong toàn xã nhằm
tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách
nhiệm xã hội của người dân trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước
mặt nói riêng.
3.2. Các giải pháp đáp ứng để nâng cao chất lượng môi trường nước mặt của xã Cự Khê
a) Đáp ứng Động lực
- Lồng ghép giữa quy hoạch đô thị và các công trình phụ trợ với quy hoạch bảo vệ môi
trường nước mặt trong địa bàn xã.
- Thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch làng nghề trên địa bàn xã đã đề ra trong giai
đoạn năm 2015-2020.
b) Đáp ứng áp lực
Nhanh chóng thành lập tổ thu gom rác trên địa bàn 2 thôn Cự Đà và Khúc Thủy, để
giảm tình trạng người dân đổ thải bừa bãi chất thải ra bờ, kè sông Nhuệ.
19
Thiết lập kênh thông tin của xã để phục vụ cho việc công bố và chia sẻ thông tin cập nhật về
chất lượng các nguồn nước, các nguồn thải, tình hình thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường,
các hành động phục hồi môi trường và các hoạt động khác có liên quan.
Đầu tư, bổ sung thêm các trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác bảo vệ môi
trường của xã.
Đặc thù của các nguồn nước mặt chính của xã là các con sông, kênh liên xã, liên huyện, liên
tỉnh, do đó cần sự hợp tác về quản lý nguồn nước mặt giữa các khu vực có chung dòng chảy nước
mặt và sự giám sát nghiêm ngặt hơn nữa đối với những cơ sở có tải lượng nước thải lớn đổ vào
dòng chảy nước mặt như bệnh viện, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất,…
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã ứng dụng mô hình DPSIR để đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt ở xã Cự
Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu,
những kết luận chính được xác định như sau:
- Động lực chính ảnh hưởng đến môi trường nước mặt xã Cự Khê là sự gia tăng dân số, quá
trình đô thị hóa và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của người dân.
- Áp lực chính là rác thải, nước thải ngày càng gia tăng, và phát sinh chủ yếu từ quá trình sản xuất
của các hộ dân trong và ngoài ranh giới của xã.
- Chất lượng môi trường nước mặt của xã Cự Khê đã bị ô nhiễm cục bộ tại một số điểm như sông
Nhuệ (đoạn chảy qua thôn Cự Đà, thôn Khúc Thủy) và kênh Khê Tang, với một số thông số không
đạt TCCP theo QCVN 08:2008/BTNMT là BOD5, COD, DO, NO3-, NH4+.
tế - xã hội năm 2014 của xã Cự Khê.
[9] Christos Mattas, Konstantinos S. Voudouris, Andreas Panagôpulos (2014), Integrated
Groundwater Resources Management Using the DPSIR Approach in a GIS Environment: A
Case Study from the Gallikos River Basin, North Greece, Laboratory of Engineering Geology
& Hydrogeology, Department of Geology, Aristotle University.
21