BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
DANH NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 43 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:TS. NGUYỄN THỊ HƢỜNG
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu được nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn tài liệu tham khảo rõ
ràng, khách quan. Luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo, thông tin được
đăng tải trên các ấn phẩm, tạp chí, các trang Website theo danh mục tài liệu
tham khảo.
Tác giả luận văn
Danh Ngọc Bình
4.1 Đối tượng nghiên cứu
06
4.2 Phạm vi nghiên cứu
06
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
06
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
07
7. Kết cấu của luận văn
07
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
08
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số vấn đề chung về đào tạo nghề cho người dân tộc
08
1.1.4. Ý nghĩa và vai trò của đào tạo nghề cho người dân tộc
13
thiểu số
1.1.4.1. Ý nghĩa của đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
13
1.1.4.2. Vai trò đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
15
1.2. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu
17
số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề
17
1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người
18
dân tộc thiểu số
1.2.3. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
19
1.3.1. Về khách quan
32
1.3.2. Về chủ quan
35
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người
36
dân tộc thiểu số ở một số địa phương và bài học cho tỉnh Kiên
Giang
1.4.1. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại một số tỉnh ở Việt Nam
36
1.4.1.1. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại tỉnh Ninh Bình
36
1.4.1.2. Mô hình quản lý đào tạo nghề tại tỉnh Nam Định
39
1.4.1.3 Kinh nghiệm đào tạo nghề của tỉnh Quảng Trị
1.4.1.4 Kinh nghiệm đào tạo nghề của tỉnh Thanh Hóa
1.4.2. Bài học rút ra đối với quản lý nhà nước về đào tạo nghề
2.2. Khái quát về hoạt động đào tạo nghề cho người dân tộc
thiểu số ở tỉnh Kiên Giang
2.2.1. Lực lượng lao động người dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang
2.2.2. Mạng lưới cơ sở đào tạo ở tỉnh Kiên Giang
52
52
60
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tào nghề
66
2.2.3.1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo
66
2.2.3.2. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
67
2.2.3.3. Nhận thức của người học và xã hội về đào tạo
68
2.2.3.4. Ảnh hưởng của văn hóa đến công tác đào tạo
nghề cho người dân tộc thiểu số
2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.4.3.1. Nguyên nhân chủ quan
76
79
2.4.3.2. Nguyên nhân khách quan
80
Chƣơng 3 MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
82
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƢỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
3.1. Một số quan điểm chủ đạo
82
3.1.1. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
82
pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề
3.1.2. Công tác đào tạo nghề phải có tính kế thừa
82
86
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.3.3. Đánh giá, dự báo, lập quy hoạch, kế hoạch và nghiên
87
cứu về đào tạo nghề gắn với thực tiễn ở tỉnh Kiên Giang
3.3.4. Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ công chức làm
89
công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang
3.3.5. Đổi mới và phát triển chương trình dạy nghề tại các cơ
sở dạy nghề trong tỉnh
89
3.3.6. Đa dạng và tăng cường các nguồn lực đầu tư, đổi mới cơ
91
chế chính sách, tài chính đối với công tác đào tạo nghề cho người
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.3.7. Đẩy mạnh xã hội hóa về đào tạo nghề tại tỉnh Kiên
91
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế
khen ngợi, nền giáo dục đào tạo nước ta cũng còn tồn tại nhiều yếu kém và
bất cập, đặc biệt là sự mất cân đối lớn giữa đào tạo với nhu cầu nhân lực thực
tế cần cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Sự bất cập này
thể hiện rõ nhất hiện nay ở tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, thiếu lao động kỹ
thuật có tay nghề. Việt Nam là một quốc gia có đông dân số, so với các nước
Việt Nam có dân số đứng thứ 13 trên thế giới. Đặc biệt chúng ta đang ở trong
thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” với trên 50% dân số trong độ tuổi lao động, đây
là điều kiện rất thuận lợi cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Song
mặc dù nguồn lao động dồi dào, nhưng chất lượng lao động còn hạn chế do
thiếu nguồn nhân lực có tay nghề nên đã gây khó khăn không nhỏ trong tiến
trình phát triển đất nước. Ở nhiều ngành kinh tế trọng điểm chúng ta đang
thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo, đặc biệt khả năng cạnh tranh lao
động của Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới vẫn còn rất
thấp, phần lớn lao động xuất khẩu đi các nước đều là lao động phổ thông chưa
qua đào tạo nghề. Trước những khó khăn bất cập chung của cả nước, Kiên
1
Giang cũng là tỉnh đang gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý đào tạo
nghề và giải quyết việc làm, nhất là công tác quản lý đào tạo nghề cho người
DTTS lại càng khó khăn hơn. Khi khoa học công nghệ phát triển và được áp
dụng rộng rãi vào sản xuất thì lại chính là khó khăn lớn của tỉnh. Một bộ phận
lớn lao động người DTTS có xu hướng dôi dư nhưng lại rất khó để có thể bố
trí việc làm cho họ. Vấn đề cơ cấu lại lực lượng lao động nông thôn, nhất là
lao động người DTTS cũng gặp nhiều khó khăn do số lao động này chưa được
đào tạo nghề khi tham gia vào lao động sản xuất phi nông nghiệp; số ít đã
được đào tạo nghề thì trình độ nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu
ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của sản xuất và xã hội.
tại một số tập tục lạc hậu chi phối đời sống, tập quán sản xuất mang nặng tính
tự nhiên; thiếu vốn để làm ăn hoặc có vốn nhưng sử dụng không hiệu quả. Để
hoạt động đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tốt nhất, công tác quản lý
nhà nước về đào tạo nghề đóng vai trò rất quan trọng, nhất là quản lý nhà
nước về đào tạo nghề cho người DTTS.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn: “Quản lý nhà nƣớc
về đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số trên địa bàn tinh Kiên
Giang”. làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình. Từ đó giúp tác
giả thấy được tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề cho người DTTS, tạo
được nguồn nhân lực có chất lượng đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh Kiên Giang.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực, công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề nói chung và quản lý nhà
nước về đào tạo nghề cho người DTTS nói riêng được công bố, như:
- Trần Văn Cảnh (2012), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh
Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính
3
công, Học viện hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Luận văn đi sâu
nghiên cứu cơ sở quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh Quảng Ngãi trong
giai đoạn hiện nay.
- Phan Thị Thu Hà (2012), Đào tạo lao động người dân tộc thiểu số trên
địa bàn Thành Phố Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển. Luận văn
nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của công tác đào tạo lao động người dân
tộc thiểu số, tạo được nguồn nhân lực có chất lượng đóng góp cho sự phát
triển của địa phương.
- Phan Chính Thức (2003), Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp
phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho người DTTS ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới. Những câu hỏi
nghiên cứu mà đề tài đặt ra là: Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà nước
về đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số (DTTS) ở tỉnh Kiên Giang trong
giai đoạn 2000 - 2015, công tác quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho người
DTTS diễn ra như thế nào? Có tồn tại nào không? Nguyên nhân và cách khắc
phục những tồn tại đó?
Đề tài luận văn “ Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho ngƣời dân
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ” chính là sự kế thừa và phát triển
công tác quản lý đào tạo nghề theo hướng phù hợp với địa bàn tỉnh Kiên
Giang, không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước
đó trong lĩnh vực này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho
người DTTS ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước
5
về đào tạo nghề cho người DTTS của tỉnh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề cho người dân
tộc thiểu số.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số
của tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho người
dân tộc thiểu số của tỉnh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
người dân tộc thiểu số của tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
đó nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ
cấu lao động đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang.
-Ý nghĩa về mặt thực tiển: Vận dụng trong thực tế để đánh giá thực
trạng công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người DTTS và chỉ ra
những bất cập trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động người DTTS;
đề xuất các mục tiêu và giải pháp cơ bản quản lý nhà nước về đào tạo nghề
cho người DTTS trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bảng, phụ lục và tài liệu
tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản nhà nước về đào tạo nghề cho người dân
tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người dân
tộc thiểu số ở tỉnh Kiên Giang.
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào
nghề cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số vấn đề chung về đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu
số
1.1.1 Khái lƣợc về dân tộc thiểu số
1.1.1.1. Khái niệm về ngƣời dân tộc thiểu số
Dân tộc là khái niệm đa nghĩa, giống như khái niệm văn hóa và ở
những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thì người ta có những định
nghĩa, quan niệm khác nhau về dân tộc, cụ thể:
dân tộc thiểu số sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm,
ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra
một số đặc điểm ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất
và thu nhập của lao động nông nghiệp.
- Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên
tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của lao
động người DTTS.
- Lao động người DTTS ở nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm
lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng
động.
- Lao động người DTTS có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có
trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi
nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ
tuổi lao động.
- Thu nhập của người DTTS còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn
cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
9
- Trình độ lao động của người DTTS thấp, khả năng tổ chức sản xuất
kém, đa số người DTTS sống bằng nghề nông nghiệp, làm thuê, làm mướn,
thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với
lao động trong các ngành kinh tế khác.
- Đa số người DTTS về ý thức học tập còn kém; lười biếng học tập,
không có ý thức vươn lên; khả năng tiếp thu chậm; chưa hình thành thái độ,
tư tưởng học tập đúng đắn; trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật còn thấp,
ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương và tinh thần hợp tác trong sản xuất chưa tốt,
khả năng tư duy chủ động, sáng tạo trong công việc chưa cao.
1.1.2. Khái niệm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số
không có sự khác biệt nhiều về nội dung.
Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội, trước hết là
phương hướng phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người đều được
học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao
hơn.
1.1.2.2. Khái niệm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số
Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề
nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống
những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu
cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu
cầu bản thân người học nghề.
Đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số (DTTS) là tạo ra lực lượng lao
động có trình độ, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật sản xuất, đáp
11
ứng nhu cầu của thị trường lao động, nhằm giải quyết tốt nhu cầu việc làm, tự
tạo việc làm cho người DTTS, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người DTTS.
1.1.3. Đặc điểm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số
Từ đặc điểm của lao động người dân tộc thiểu số kết hợp với những đặc
điểm của hoạt động đào tạo nghề nói chung chúng tôi xin đưa ra đặc điểm của
hoạt động đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số như sau:
* Mục tiêu đào tạo:
Đào tạo lao động người DTTS tạo ra lực lượng lao động có trình độ,
thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị
* Về hình thức: đào tạo nghề cho người DTTS được thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như dạy tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề; dạy
nghề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, công ty, tập đoàn; dạy nghề lưu
động tại các xã, thôn, bản; dạy nghề tại các doanh nghiệp và các cơ sở sản
xuất kinh doanh, dịch vụ; dạy nghề gắn với các vùng chuyên canh, làng nghề.
* Về phương pháp: cần đa dạng hóa và phù hợp với từng nhóm đối
tượng, từng vùng miền như đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy
nghề đối với người nông dân dân tộc chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề
lưu động cho người DTTS làm nông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy
nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường nơi người DTTS làm việc.
1.1.4. Ý nghĩa và vai trò của đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu
số
1.1.4.1. Ý nghĩa của đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số
a) Ý nghĩa về phát triển kinh tế
Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta còn khoảng 30% lao động
làm nông nghiệp, còn lại phải chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp,
không còn con đường nào khác là chúng ta phải đào tạo nghề cho người dân
13
tộc thiểu số (DTTS), vì đại bộ phận người DTTS sống ở vùng nông thôn, sản
xuất chủ yếu bằng nghề nông nghiệp.
Đào tạo nghề cho người DTTS là việc làm thiết thực góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho số lao động người DTTS nhàn rỗi do không có
nghề; một số do không thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc
do thi trượt, hoàn cảnh không thể có khả năng thi tiếp; một số khác là bộ đội
xuất ngũ trở về địa phương, nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công
nghiệp. Đối với những lao động người DTTS, người có trình độ văn hóa thấp
thì học nghề là biện pháp duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng,
tay nghề cho người lao động vì họ không thể đáp ứng được các yêu cầu của
lực lượng lao động, làm giảm các tội phạm về tệ nạn xã hội, đảm bảo được an
ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
1.1.4.2. Vai trò đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số
Đào tạo nghề cho người DTTS có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối
với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc
làm, tăng thu nhập cho lao động người DTTS, giảm nghèo, thực hiện công
bằng, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở
khu vực nông thôn và vùng có đông đồng bào dân tộc.
Garry Becker, người Mỹ được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992
khẳng định: “Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào
nhân lực”.
Chúng ta tiến hành CNH, HĐH đất nước với thế mạnh lớn nhất hiện có
là nguồn lực lao động dồi dào. Nhưng chỉ với nguồn lực lao động hiện có thì
chưa thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trong thời kỳ cách mạng
khoa học, công nghệ hiện đại; thời kỳ trí tuệ hóa lao động, mở rộng quan hệ
kinh tế, thương mại quốc tế, hội nhập quốc tế. Hiện nay khi lượng lao động
15
của nước ta chưa được đào tạo còn khá lớn chính vì vậy chúng ta không còn
sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo nguồn nhân lực quý giá để phát triển
đất nước hoặc là phải chịu tụt hậu so với các nước khác.
a) Vai trò cơ bản nhất của đào tạo nghề là đào tạo lực lƣợng lao
động có trí tuệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng trí thức luôn có vai trò to lớn đối
với cuộc sống con người và sự phát triển xã hội. Trong sự phát triển của lịch
sử xã hội, sức mạnh của tri thức được thể hiện ở sự phát triển khoa học kỹ
thuật và công nghệ được vật chất hóa qua sự phát triển không ngừng và mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất càng tiên tiến, hiện đại bao
nhiêu thì càng nói lên sức mạnh của trí tuệ con người bấy nhiêu. Nghĩa là, trí
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài
người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu
khách quan. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn
tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức,
từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa
nhận và chịu sự quản lý nào đó. Một cách chung nhất, quản lý có thể được
hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.
Quản lý vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa
học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế,
tâm lý học, xã hội học,... vừa là một “nghệ thuật". Do vậy các nhà quản lý
trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ chức, điều
17