Pháp luật về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HÙNG HUẾ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HÙNG HUẾ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số:

Học viện Hành chính Quốc gia, các nhà khoa học đã trực tiếp hoặc gián tiếp
giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành bổ ích cho bản
thân em trong thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện. Bên cạnh đó, phải kể
đến và xin cảm ơn những đóng góp quý báu và nhiệt tình của bạn bè, đồng
nghiệp; của Lãnh đạo Cục Kiểm soát thủ tục hành chính đã tạo điều kiện, giúp
đỡ trong triển khai nghiên cứu, hoàn thành luận văn; đặc biệt là sự quan tâm
động viên, khuyến khích và cảm thông sâu sắc của gia đình.
Một lần nữa tác giả xin trân trọng cảm ơn về tất cả những sự giúp đỡ quý
báu đó./.
Hà Nội, ngày

tháng 7 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Hùng Huế

3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1 .......................................................................................... 11
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHẤT
LƯỢNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ......................................................... 11
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM ................................................................ 11
1.1.1. Thủ tục hành chính ............................................................... 11
1.1.2. Kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính.............................. 12
1.1.3. Văn bản quy phạm pháp luật ................................................ 12
1.2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG THỦ

XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ................................... 58
3.1. XÂY DỰNG BỔ SUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG
PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG GIAI
ĐOẠN ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH ................................................................ 58
3.1.1. Bổ sung phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về sự cần
thiết của thủ tục hành chính ..................................................................... 58
3.1.2. Bổ sung phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về tính hợp
lý của thủ tục hành chính ......................................................................... 59
3.1.3. Bổ sung phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về tính hợp
pháp của thủ tục hành chính .................................................................... 61
3.1.4. Bổ sung phương pháp, cách thức để đánh giá tính hiệu quả
của thủ tục hành chính ............................................................................. 61
3.2. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHƯƠNG PHÁP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN DỰ THẢO VĂN BẢN ...... 63
3.2.1. Hoàn thiện phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về sự
cần thiết của thủ tục hành chính............................................................... 63
3.2.2. Hoàn thiện phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về tính
hợp lý của thủ tục hành chính .................................................................. 63
3.2.3. Hoàn thiện phương pháp, cách thức đánh giá tiêu chí về tính
hợp pháp của thủ tục hành chính ............................................................. 64
3.2.4. Hoàn thiện phương pháp, cách thức tính toán chi phí tuân thủ
của thủ tục hành chính ............................................................................. 64
3.2.5. Quy định rõ việc sử dụng phương pháp đánh giá tác động
trong một số trường hợp đặc thù .............................................................. 65
3.3. XÂY DỰNG BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ........................................................................... 65
3.3.1. Quy định rõ ràng quy trình kiểm soát chất lượng đánh giá tác
động thủ tục hành chính ........................................................................... 65
3.3.2. Xây dựng bổ sung quy định pháp luật về nội dung kiểm soát


Kiểm soát thủ tục hành chính

TTHC:

Thủ tục hành chính

VBQPPL:

Văn bản quy phạm pháp luật

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

4


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang
1. Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Kết quả đánh giá tác động TTHC

34

Biểu đồ 2.2: Kết quả tham gia ý kiến, thẩm định TTHC

36


Bảng số 3.3: Quy trình kiểm soát chất lượng đánh giá tác động trong dự
thảo văn bản

71

Bảng số 3.4: Kiểm soát tính đầy đủ hoạt động đánh giá tác động TTHC

73

3. Sơ đồ
Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá sự cần thiết của TTHC

56

5


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong đời sống xã hội, thủ tục hành chính là phương tiện quan trọng bảo
đảm thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; là công cụ
hữu hiệu góp phần chuyển tải chính sách của Nhà nước vào cuộc sống. Quy
định thủ tục hành chính hay còn gọi là quy phạm thủ tục có mối quan hệ biện
chứng với quy định nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật, nói cách khác,
thủ tục hành chính là một cấu thành của nội dung văn bản quy phạm pháp luật.
Chất lượng của quy định nội dung và quy định thủ tục hành chính trong văn bản
quy phạm pháp luật có ảnh hưởng lớn đến người dân, doanh nghiệp và xã hội
cũng như ảnh hưởng lớn đến mục tiêu, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản
lý nhà nước; quy định về thủ tục hành chính cũng như quá trình thực hiện chính

trình phục vụ cho các đối tượng trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ này như: Sổ
tay nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính do Nhà xuất bản tư pháp phát hành;
Giáo trình về kiểm soát thủ tục hành chính (dành cho hệ trung cấp luật),... Nội
dung của các công trình trên bao gồm toàn bộ các hoạt động của kiểm soát thủ
tục hành chính từ kiểm soát quy định đến việc tổ chức thực hiện quy định thủ
tục hành chính. Tuy nội dung của các công trình trên có nội dung về kiểm soát
chất lượng thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
nhưng phần lớn hướng phục vụ vào đối tượng mà công trình đấy phục vụ như:
hướng dẫn kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện (Sổ tay nghiệp vụ) hay chỉ đề cập
một phần rất nhỏ (Giáo trình trung cấp luật),... Do đó, hiện nay, chưa có nghiên
cứu sâu, hệ thống, đầy đủ, cụ thể liên quan đến vấn đề kiểm soát chất lượng thủ
tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, hiện nay, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến cải
cách thủ tục hành chính trong từng lĩnh vực, địa bàn cụ thể như: Đề tài “Cải
cách thủ tục hành chính – thông qua thực tiễn tỉnh Nam Định”, Luận văn Thạc
sỹ luật học của Nguyễn Phúc Sơn năm 2014; Đề tài “Cải cách thủ tục hành
chính ở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương, Thanh Hóa”,
Luận văn Thạc sỹ luật học của Đặng Ngọc Thanh năm 2014; Đề tài “Cải cách
7


thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên”,
Luận văn Thạc sỹ quản lý công của Vũ Thị Thanh Hương năm 2016; Đề tài
“Cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên môi trường tại Ủy ban nhân
dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ quản lý công của
Chu Văn Khánh năm 2016,... Các đề tài này chủ yếu đánh giá công tác thực
hiện cải cách thủ tục hành chính là một trong sáu nhiệm vụ của cải cách hành
chính mà chưa đề cập đến nội dung kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính
trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một nhiệm vụ quản lý
nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính, nhất là nghiên cứu về pháp luật liên

hành liên quan đến kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật
về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật.
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm
soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về kiểm
soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành, còn hiệu lực và thực
tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính trong giai
đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam. Luận văn không
nghiên cứu về việc kiểm soát chất lượng đối với từng thủ tục hành chính cụ thể,
ở từng lĩnh vực cụ thể; cũng như không nghiên cứu về kiểm soát việc thực hiện
thủ tục hành chính.
Về phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian, luận văn nghiên cứu từ khi
Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010
về kiểm soát thủ tục hành chính đến nay.
9


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lê Nin và sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân
tích và tổng hợp; phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; phương
pháp lịch sử; phương pháp quan sát khoa học; phương pháp điều tra.

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Thủ tục hành chính
Dưới góc độ quản lý nhà nước nói chung, thủ tục hành chính là công cụ,
phương tiện quan trọng để các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối
với từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Còn dưới góc độ xã hội, TTHC là cầu nối để
chuyển tải nhiều quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước trong các văn bản
pháp luật đi vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực
hiện chính sách, trong đó cơ bản và chủ yếu là các quyền, lợi ích chính đáng,
hợp pháp của công dân, tổ chức.
Với nghĩa chung nhất, thủ tục (procédure) là cách thức, các bước giải
quyết công việc theo một trình tự, nguyên tắc nhất định, gồm một loạt công
đoạn liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được một mục đích nào đó [11].
Thủ tục hành chính, trước hết cũng có nghĩa là thủ tục nhưng khác với
các thủ tục khác ở chỗ đây là những thủ tục được đặt ra để giải quyết những việc
phát sinh từ hoạt động quản lý hành chính, chủ yếu do các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện.
Hiện nay, có tương đối nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thủ tục
hành chính nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng thủ tục hành chính là những
quy định, quy phạm mang tính hình thức (quy trình, cách thức,..) để phục vụ
cho các quy phạm mang tính nội dung (quy định về nội dung chính sách, các
quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước…) [13, tr11 - 20].
Trong đề tài này, khái niệm thủ tục hành chính được tiếp cận theo các quy
định hiện nay của pháp luật thực định, cụ thể là Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày
08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (Nghị định
11


63/2010/NĐ-CP). Theo đó, “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực


thống xã hội chủ nghĩa trước đây như: Azebaizan, Lào, Kyrgikistan, Gruzia,
Bulgaria. Về cơ bản, khái niệm văn bản pháp luật của các nước có định nghĩa
gần giống với khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, với một số
điểm chung như: Là văn bản có chứa đựng quy tắc chung; do cơ quan nhà nước
ban hành hoặc thông qua; có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần.
Ngoài ra, một số nước có thêm quy định về xác lập, thay đổi hoặc hủy bỏ các
quy phạm pháp luật,… Đối với những nước không xác định khái niệm văn bản
quy phạm pháp luật, họ chỉ liệt kê hình thức văn bản; quy định thẩm quyền ban
hành (cho chính quyền địa phương, thậm chí trao quyền cho đơn vị hành chính,
kinh tế đặc biệt như Trung Quốc),…
Ở nước ta, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định lần
đầu trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996. Sau đó, nó tiếp
tục được quy định với một số điểm thay đổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002; hai văn bản
Luật năm 2008 và Luật năm 2004 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Mặc dù
đã có một số sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ, nhưng về cơ bản, khái niệm văn
bản quy phạm pháp luật được xác định trong hai luật vừa nêu với các đặc trưng
như sau: (i) Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban
hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền; (ii) Văn bản quy phạm pháp luật
chứa đựng các quy tắc xử sự có hiệu lực bắt buộc chung để điều chỉnh các quan
hệ xã hội; (iii) Hình thức của văn bản và trình tự, thủ tục ban hành theo quy định
của luật; (iv) Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Hiện nay, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của
khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, nhằm khắc phục hạn chế trong việc
phân biệt khái niệm văn bản quy phạm pháp luật với văn bản hành chính thông
thường và những văn bản khác của cơ quan nhà nước được ban hành trong thời
gian qua, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã bổ sung khái
niệm quy phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện hơn khái niệm văn bản quy
phạm pháp luật. Cụ thể như sau:

tổ chức rất chặt chẽ, được tiến hành theo những trình tự và thủ tục pháp luật quy
định. Trên cơ sở những nhận thức chung kể trên, đã có nhà khoa học của Việt
14


Nam đưa ra định nghĩa về việc xây dựng pháp luật như sau: “Xây dựng pháp
luật ở Việt Nam là một quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp, bao
gồm rất nhiều các hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ
chức và cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến
hành, nhằm chuyển hóa ý chí của Nhà nước, của nhân dân Việt Nam thành
những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện
dưới những hình thức pháp lý nhất định mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp
luật” [7, tr.13].
Hiện nay, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã đổi
mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo
hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản
quy phạm pháp luật, trong đó tập trung quy định về quy trình xây dựng chính
sách theo hướng chính sách được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn
thảo văn bản.
Theo đó, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 bổ sung
quy trình xây dựng, phân tích chính sách đối với luật, pháp lệnh và một số loại
nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Trong đó,
Luật năm 2015 đã chú trọng hơn đến quy trình phân tích, hoạch định chính sách
bằng việc bổ sung những quy định cụ thể, rành mạch về trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân đề xuất chính sách (bao gồm cả thủ tục hành chính là một
biện pháp để thực hiện chính sách) và đề cao sự tham gia rộng rãi của các tầng
lớp nhân dân trong giai đoạn này. Giai đoạn này bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm nội
dung đánh giá tác động chính sách, trong đó có đánh giá tác động thủ tục hành
chính).

thể phù hợp với từng bước, từng đối tượng thực hiện trong quá trình này. Nội
dung quy định cụ thể của pháp luật hiện nay về kiểm soát chất lượng quy định
thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sẽ
được trình bày cụ thể tại mục 1.2 của chương này.

16


1.2. Quy định pháp luật về kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính
trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1. Nguyên tắc, yêu cầu và tiêu chí đánh giá chất lượng thủ tục
hành chính
Thủ tục hành chính khi được ban hành phải tuân thủ các nguyên tắc, yêu
cầu chặt chẽ và được kiểm soát chất lượng theo các tiêu chí cụ thể với phương
pháp, công cụ kiểm soát riêng. Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số
63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục
hành chính, thủ tục hành chính được quy định phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện.
Thứ hai, phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước.
Thứ ba, bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục
hành chính.
Thứ tư, tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan
hành chính nhà nước.
Thứ năm, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu
quả của các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính phải được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định trên cơ sở bảo đảm tính liên thông giữa
các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh
bạch, hợp lý; dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục
hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào, cơ quan đó phải có trách nhiệm
hoàn chỉnh.

Về tiêu chí đánh giá thủ tục hành chính, khoản 1 Điều 10 Nghị định số
63/2010/NĐ-CP quy định thủ tục hành chính phải được xem xét, đánh giá theo
các tiêu chí sau:
Một là, sự cần thiết của thủ tục hành chính.
Hai là, tính hợp lý của thủ tục hành chính.
Ba là, tính hợp pháp của thủ tục hành chính.
Bốn là, các chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.
Các quy định về thủ tục hành chính được đánh giá là tốt khi:

18


Cần thiết: cơ quan chủ trì soạn thảo phải chứng minh được việc ban hành
thủ tục hành chính là cần thiết nhằm giải quyết một hoặc một số những vấn đề
cụ thể, sau khi đã cân nhắc các giải pháp thay thế khác.
Hợp lý: cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình được vai trò, mục đích
của từng bộ phận, thành phần nhỏ nhất của dự thảo thủ tục hành chính; bảo đảm
sự rõ ràng, cụ thể, không chồng chéo, trùng lặp của các quy định về thủ tục hành
chính; phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ quản lý.
Hợp pháp: đúng thẩm quyền, đúng hình thức và thống nhất, đồng bộ với
các quy định của pháp luật hiện hành cũng như các cam kết quốc tế mà Việt
Nam đã tham gia.
Hiệu quả: quy định về thủ tục hành chính cần đạt được mục tiêu đề ra
với mức chi phí thấp nhất cho cá nhân, tổ chức.
1.2.2. Nội dung, đối tượng, phạm vi kiểm soát chất lượng thủ tục
hành chính trong giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện từ giai đoạn xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật đến tổ chức thực hiện. Trong giai đoạn xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật, việc kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính được
thực hiện thông qua quy trình chặt chẽ gồm các hoạt động: Đánh giá tác động,

của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành
chính; tác động về giới (nếu có). Theo quy định, tác động của thủ tục hành
chính được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp,
tính hợp lý và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách.
Bên cạnh đó, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định phải tổ
chức lấy ý kiến bằng cách đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động
của chính sách trong đề nghị xây dựng pháp luật trên Cổng thông tin điện tử và
lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực
tiếp của chính sách và giải pháp thực hiện chính sách. Trên cơ sở ý kiến góp ý,
sẽ tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo
giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử. Đồng thời, Luật cũng quy định
nội dung thẩm định quy định về thủ tục hành chính bao gồm sự cần thiết, tính

20


hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách trong đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính.
Trong giai đoạn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, việc kiểm soát quy
định trong dự án, dự thảo văn bản QPPL được thực hiện thông qua các “bộ lọc”
sau: Đánh giá tác động quy định TTHC trong dự án, dự thảo văn bản QPPL; lấy
ý kiến đối với quy định về TTHC trong dự án, dự thảo văn bản QPPL; thẩm
định quy định về TTHC trong dự án, dự thảo văn bản QPPL. Các hoạt động
kiểm soát quy định về TTHC trong dự án, dự thảo văn bản QPPL trên nhằm
tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo, đảm bảo sự
tham gia của các đối tượng chịu tác động trong quá trình xây dựng, ban hành, từ
đó góp phần nâng cao chất lượng của quy định về TTHC với mục tiêu chỉ ban
hành TTHC thật sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả, cụ thể:
Thứ nhất, đánh giá tác động của thủ tục hành chính là việc nghiên cứu,
xem xét về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp của thủ tục hành chính cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status