Pháp luật bảo trợ xã hội Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG XUÂN HÒA

PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI - TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102.

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: PHÂN VIỆN HÀNH CHÍNH TÂY
NGUYÊN - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA.

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HUỲNH VĂN THỚI

Phản biện 1:……………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………

Phản biện 2:……………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………

kém trong hoạt động như: các đối tượng chưa được chăm lo kịp thời,
chính sách tác động chưa cao đến đời sống cộng đồng của các đối
tượng, chưa thể hiện được tính ưu việc của chính sách. Chính vì lý
1


do đó, vấn đề “Pháp luật về bảo trợ xã hội - Từ thực tiễn tỉnh Đắk
Lắk” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Công trình hy
vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phát triển, hòa nhập đời sống cộng
đồng xã hội và đảm bảo thực hiện các quyền của đối tượng bảo trợ
xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Pháp luật là một trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể nói chung và
pháp luật về BTXH đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học pháp lý. Một
số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này có thể kể đến là:
- Đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở
Việt nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia.
- Đề tài: Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách xã hội khác, Luận văn thạc sĩ luật học của
Hoàng Thị Liên, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động bảo trợ xã hội trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Tiến Ngọc, Luận văn Thạc sĩ Quản lý
công năm 2015.
- Đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo trợ xã hội trên
địa bàn huyện Bình Chánh - TP. Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn
Thị Mỹ Thanh, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công năm 2013.
- Đề tài “Đẩy mạnh hoạt động bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh

đánh giá thực trạng pháp luật về BTXH và thực tiễn thực hiện pháp
3


luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk, những kết quả đạt được và hạn chế, thiếu
sót, nguyên nhân từ đó rút ra những kinh nghiệm đúc kết pháp luật
về BTXH tỉnh Đắk Lắk; Ba là, đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk. Những giải pháp cần được
xây dựng mang tính chất tổng thể phù hợp với hoạt động QLNN
cũng như hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về BTXH và thực
tiễn thực hiện pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ tập trung các vấn đề thực tiễn
thực hiện pháp luật về BTXH ở tỉnh Đắk Lắk.
- Về mặt thời gian: từ năm 2011 đến năm 2015.
- Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Đắk Lắk.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và pháp luật Nhà nước ta về bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo tính
khoa học và tính thực tiễn của đề tài.
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập số liệu để phân
tích, so sánh việc thực hiện chế độ chính sách cho đối tượng bảo trợ
xã hội qua các năm. Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn để tìm hiểu, đối chiếu tình hình thực
tế. Khi thực hiện đề tài này, tác giả có tham khảo các công trình
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu luật, hành chính, kinh tế học…và



Chương 1
LÝ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT VỀ
BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1. Tổng quan về bảo trợ xã hội và pháp luật về bảo trợ xã hội
1.1.1. Bảo trợ xã hội
1.1.1.1. Quan niệm về bảo trợ xã hội
Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về BTXH như sau:
BTXH là hệ thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu
của Nhà nước và cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau
nhằm giúp các đối tượng yếu thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị
tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập với cộng đồng, có điều kiện tiếp
cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng và góp phần thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển.
1.1.1.2. Đặc điểm bảo trợ xã hội
Từ những quan niệm về BTXH có thể rút ra một số đặc điểm sau:
Về đối tượng; về nội dung; về mục đích.
1.1.1.3. Vai trò bảo trợ xã hội
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được
sự tiến bộ xã hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa
bảo đảm phát triển xã hội. Thước đo của sự phát triển xã hội là việc
giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh
tế. Trong đó, có chăm sóc cho dân cư khó khăn, giải quyết các vấn
đề bất bình đẳng trong xã hội.
1.1.2. Pháp luật về bảo trợ xã hội
1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo trợ xã hội

6


khả kháng khác nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc
phục hậu quả rủi ro để ổn định cuộc sống.
1.2. Khái quát về thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
Như vậy, thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội là hoạt động có
mục đích của các chủ thể mà các chủ thể đó có thể là cá nhân, cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cá nhân được nhà nước trao
quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về BTXH trở thành
những hành vi trong thực tế bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
Thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội mang đầy đủ đặc điểm của
quá trình thực hiện pháp luật nói chung. Với bản chất là hoạt động xã
hội của con người, thực hiện pháp luật về BTXH hàm chứa những
đặc điểm chung của các hoạt động xã hội khác đồng thời với bản
chất pháp lý của mình, thực hiện pháp luật về BTXH đã tạo nên
những đặc điểm nổi trội và đặc thù.
1.2.3. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
Các quy phạm pháp luật liên quan đến BTXH được quy định
trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Việc thực hiện đầy đủ
các văn bản pháp luật này đòi hỏi có sự thống nhất và phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước.
Căn cứ vào tính chất và đặc điểm hoạt động thực hiện pháp luật về
BTXH có thể chia nguyên tắc thực hiện pháp luật về BTXH bao
gồm: Tuân thủ hệ thống chính trị; Đảm bảo tính khoa học; Đảm bảo
tính hiệu lực; Bảo đảm tính hiệu quả; Đảm bảo tính công bằng; Đảm
8


bảo tính công khai, minh bạch; Bảo đảm sự ổn định bền vững; Bảo

hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi cư trú trong cùng địa bàn
quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện theo quy định;
Thủ tục quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi
nơi cư trú giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực
hiện theo quy định; Hồ sơ tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã
hội; Hồ sơ đề nghị tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội đối với đối
tượng cần bảo vệ khẩn cấp; Hồ sơ tiếp nhận đối tượng tự nguyện
sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; Thủ tục tiếp nhận vào cơ
sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; Thủ tục quyết định tiếp nhận đối tượng
tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội đối với thực hiện
theo quy định.
1.3.3. Thực hiện quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và
giải thể cơ sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm: cơ sở BTXH công lập và cơ sở
BTXH ngoài công lập.
1. Cơ sở bảo trợ xã hội công lập do cơ quan nhà nước quản lý,
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ
chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội.
2. Cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh
phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội.
1.3.4. Thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản
lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động bảo trợ xã hội

10


- Uỷ ban nhân dân cấp xã; Phòng Lao động - Thương binh và Xã
hội; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Sở Tài chính; Tổ chức
dịch vụ chi trả.

2.1. Đặc điểm địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk
tác động đến thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội
2.1.1. Đặc điểm địa lý - tự nhiên
Tỉnh Đắk Lắk tổng diện tích tự nhiên: 1.312.345 ha, trong đó: Đất
nông nghiệp: 1.160.092 ha; Đất phi nông nghiệp: 88.351 ha; Đất
chưa sử dụng: 63.902 ha [16, tr.10].
Dân số: 1.853.698 người, với khoảng 47 dân tộc anh em sinh
sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ trên 30%; mật
độ dân số 141,23 người/km2, diện tích 13.125,37 km2 [16, tr 23].
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Buôn Ma
Thuột, Thị xã Buôn Hồ và 13 huyện: Ea H’Leo, Ea Súp, Krông
Năng, Krông Búk, Buôn Đôn, Cư M’Gar, Ea Kar, M’Rắk, Krông
Pắk, Krông Bông, Krông Ana, Lắk, Cư Kuin.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tỉnh Đắk Lắk xác định tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, tăng tính
bền vững trong phát triển; đổi mới mạnh mẽ khoa học và công nghệ,
nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực và y tế, văn hoá, thể dục thể thao…
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk
2.2.1. Các phương diện đánh giá
2.2.1.1. Về thực hiện quy định về đối tượng và điều kiện bảo trợ xã hội
12


Bảng 2.1: Tổng số đối tượng bảo trợ xã hội hưởng thường xuyên từ
năm 2011-2015.
Đối tượng

Tỷ lệ

Nhóm NĐT

1.651

Nhóm HIV
Tổng số

Tỷ lệ
(%)

3,09

Năm
2013
(người)
622

Tỷ lệ
(%)

1,86

Năm
2014
(người)
497

Tỷ lệ
(%)



11.963

33,57

12.000

34,31

6,47

2.171

7,80

2.160

6,47

1.936

5,43

1.739

4,97

1

0,01


100

34.972

100

Nguồn số liệu Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk.
- Nhóm người cao tuổi:
Bảng 2.2: Tổng hợp đối tượng NCT hưởng BTXH ở tỉnh Đắk Lắk.
Năm

2011

2012

2013

2014

2015

Tổng số NCT (người) 18.926 19.036 19.774 21.228 20.829
Số lượng tăng (người)
110
738
1.454
(399)
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
0,58

1.144

37

Tỷ lệ tăng (%)

-

0,41

0,88

0,11

0,003

Nguồn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk.

13

1,09


- Nhóm đối tượng trẻ em:
Bảng 2.4: Tổng số trẻ em được trợ cấp hàng tháng qua các năm
2011-2015.
Năm

2011 2012


0,92

27,7

20,1

23,5

Nguồn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk.
- Nhóm đối tượng đơn thân:
Bảng 2.5: Số người đơn thân được trợ cấp qua các năm 2011-2015.
Năm

2011

2012

2013

2014

2015

Tổng số đơn thân (người) 1.651 2.171 2.160 1.936 1.739
Số lượng giảm (người)

-

520


14


- Việc tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt hồ sơ đưa đối tượng vào
cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội.
2.2.1.3. Về thực hiện quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và
giải thể cơ sở bảo trợ xã hội
Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu cơ sở BTXH trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Năm

2011

2012

2013

2014

2015

1. Tổng số cơ sở BTXH (cơ sở)

02

02

02

02


06

06

06

Trong đó ngoài công lập

02

02

02

02

02

Tổng số đối tượng (đối tượng)

498

591

502

502

621



429

570

634

608

465

Trẻ em mồ côi

300

222

275

196

294

Người cao tuổi

73

47

45


15


2.2.1.4. Về thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan
quản lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động bảo trợ xã hội
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội là
một trong những công cụ, cơ sở quan trọng nhất cho việc nâng cao
hiệu lực pháp luật về bảo trợ xã hội.
- Thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội (Đề án 32):
Sở LĐTBXH tỉnh Đắk Lắk chủ trì, phối hợp với các sở, ngành
liên quan tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số
1262/KH-UBND ngày 21/03/2011 về thực hiện Đề án phát triển
nghề công tác xã hội tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2020.
- Thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho
người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng (Đề án
1215): Sở LĐTBXH chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan
tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3275/KH-UBND
ngày 18/6/2012 về thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức
năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng
tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2012 - 2015.
2.2.1.5. Về thực hiện quy định về các nguồn lực bảo đảm thực
hiện chế độ bảo trợ xã hội
- Về tổ chức bộ máy quản lý thực hiện pháp luật về bảo trợ xã
hội: Một là, đối với cấp tỉnh: Sở LĐTBXH tỉnh Đắk Lắk; Phòng Bảo
trợ xã hội; Thanh tra Sở LĐTBXH.
Hai là, đối với cấp huyện; Ba là, đối với cấp xã.
- Đội ngũ nhân lực thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội.
- Về số lượng; về chất lượng; về công tác đào tạo, bồi dưỡng; về
trợ giúp về vật chất.

2011 2012 2013 2014 2015

9
50
34
52
25
Tổng số người chết, mất tích (người)
Tổng số nhà sập, đỗ, hư hỏng nặng được
21
20
55
77
64
hỗ trợ do thiên tai.
148 337 560 705 497
Kinh phí (triệu đồng)
Nguồn số liệu từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk
Bảng 2.10: Tổng hợp cứu đói qua các năm từ năm 2011-2015.
Năm

2011

2012

2013

2014

2015

- Trợ giúp bằng y tế, phục hồi chức năng
- Trợ giúp bằng học nghề, giới thiệu việc làm
2.2.1.6. Về thực hiện quy định về công tác thanh tra, kiểm tra, xử
lý vi phạm
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về BTXH là
một khâu quan trọng trong chu trình thực hiện pháp luật nói chung,
cũng như việc đảm bảo thực hiện tốt an sinh xã hội nói riêng.
2.2.2. Đánh giá chung
17


2.2.2.1. Kết quả đạt được
Thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk trong thời
gian qua đã đạt được những thành quả:
Một là, tổ chức bộ máy QLNN về bảo trợ xã hội được kiện toàn
một cách tương đối, hiện nay đã có đội ngũ cán bộ phụ trách công
tác BTXH của 184/184 xã, phường, thị trấn; Hai là, việc triển khai
và tổ chức thực hiện hệ thống các văn bản về BTXH được thực hiện
khá tốt, phổ biến rộng rãi, hướng đến sự hiểu biết của mọi đối tượng,
hình thức phổ biển phối hợp từ tỉnh đến cấp cơ sở; Ba là, chính
quyền tích cực khuyến khích việc thu hút nguồn lực từ các mạnh
thường quân, những nhà hảo tâm đóng góp vì mục đích từ thiện cùng
Nhà nước chăm lo và đem lại hiệu quả cao trong việc đảm bảo mức
sống cho các đối tượng yếu thế; Bốn là, chính quyền địa phương
cũng đã tích cực lồng ghép các chính sách chăm lo, hỗ trợ đối tượng
BTXH với các chương trình của địa phương như Chương trình vì trẻ
em, chương trình giảm hộ nghèo bền vững, chương trình nước sạch
và vệ sinh môi trường...; Năm là, tập trung cho công tác đảm bảo
giảm nghèo hiệu quả, phòng chống thiên tai, lốc xoáy, hỏa hoạn và
dịch bệnh....để hạn chế những rủi ro gây ảnh hưởng đến đời sống

trong từng thời kỳ; Thứ hai, đẩy mạnh công tác trợ giúp người
khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm,
văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công
nghệ thông tin; Thứ ba, nghiên cứu xây dựng và nâng cấp phòng
BTXH thành Chi cục BTXH để thống nhất trong việc chỉ đạo, phối
hợp thực hiện công tác; Thứ tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa đối
với hoạt động BTXH và cải cách hành chính, đơn giản hóa cải cách
hành chính và thực hiện linh hoạt; Thứ năm, tăng cường công tác
phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các chính sách BTXH, nhất
là trong công tác dạy nghề, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, cũng
như trong việc cấp phép, đưa đối tượng vào các cơ sở BTXH.
19


Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
3.1. Phương hướng pháp luật về bảo trợ xã hội
Trên cơ sở các nguyên tắc và chính sách pháp luật về bảo trợ xã
hội trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, từ những vấn đề về lý luận
và thực tiễn về bảo trợ xã hội, pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk
Lắk cần quán triệt và thực hiện có phương hướng rõ nét trong định
hướng phát triển kinh tế xã hội như sau:
Thứ nhất, cần nghiên cứu mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp
BTXH phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ;
Thứ hai, cần có sự thống nhất trong việc quy định chế độ áp dụng
cho các nhóm đối tượng trong trợ cấp BTXH thường xuyên; Thứ ba,
vẫn tiếp tục duy trì kinh phí thực hiện trợ cấp BTXH từ hai nguồn
như hiện nay: ngân sách nhà nước và sự đóng góp từ thiện của cộng
đồng xã hội; Thứ tư, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động

chất lượng
Một là, từng bước mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội nhằm bao
phủ ngày càng rộng diện dân cư khó khăn; Hai là, nâng cao mức
chuẩn và hệ số trợ cấp xã hội phù hợp; Ba là, đa dạng hóa các hình
thức chăm sóc; Bốn là, bổ sung hình thức cung cấp dịch vụ bằng
cách cung cấp tiền để đối tượng lựa chọn dịch vụ; Năm là, định kỳ 2
- 3 năm thực hiện tổng điều tra đối tượng bảo trợ xã hội để có cái
nhìn chính xác đối với đối tượng; Sáu là, tăng cường hợp tác với các

21


tổ chức quốc tế; Bảy là, tăng cường công tác bồi dưỡng và các hoạt
động ảnh hưởng tích cực đối với các đối tượng nhận trợ cấp BTXH.
3.2.3.3. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hoạt động thực hiện
pháp luật về bảo trợ xã hội
Trong bất cứ hoạt động nào cũng cần phải thanh tra, kiểm tra và
xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện, mục đích của việc này
không chỉ đơn thuần xem các hoạt động đó đã đúng chưa mà còn để
điều chỉnh, bổ sung và đổi mới cách thức thực hiện sao cho hiệu quả.
3.2.4. Phối hợp các ngành trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật về
bảo trợ xã hội
Thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội không chỉ là nhiệm vụ của
ngành LĐTBXH mà là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị,
chính vì thế cần phải đẩy mạnh, tăng cường mối quan hệ phối hợp
giữa các cấp, các ngành trong cả quá trình nghiên cứu, ban hành
chính sách, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách.
3.2.5. Xác định vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa
phương, của các tổ chức bảo trợ xã hội và đẩy mạnh xã hội hóa
chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội để thực hiện pháp luật về bảo

khó khăn và không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế về tổ chức bộ
máy, nguồn lực thực hiện hoạt động, công tác quản lý đối
tượng…Qua những phân tích đánh giá về thực trạng thực hiện pháp
luật về bảo trợ xã hội của tỉnh cũng đã chỉ ra những bất cập trong các
văn bản pháp qui, những qui định chính sách bảo trợ xã hội. Từ đó
đặt ra yêu cầu cần bổ sung một khung pháp lý và hệ thống pháp luật
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status