BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ HUỲNH LAI
BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU,
TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ HUỲNH LAI
BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
chính Quốc gia, Phân viện Hành chính khu vực Tây Nguyên, quý thầy, cô
giáo giảng viên thuộc các ban, khoa, các tổ bộ môn của Học viện và Phân
viện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học
tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy
TS. Nguyễn Thái Bình (Trường Chính trị tỉnh Gia Lai) đã dành nhiều thời
gian, công sức và sự tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường,
lãnh đạo và đồng nghiệp tại Khoa nhà nước và pháp luật trường Chính trị tỉnh
Gia Lai, Sở Nội vụ Gia Lai, Phòng Nội vụ thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai đã
cung cấp các tài liệu, số liệu cần thiết liên quan đến đề tài luận văn.
Và cuối cùng, tôi cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn bên
cạnh, tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất, thời gian để tôi hoàn
thành khóa học này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên
vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được những đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Huỳnh Lai
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC
CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP
HUYỆN ...........................................................................................................11
1.1. Một số khái niệm cơ bản ...................................................................... 11
1.2. Vị trí, chức năng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai .............................. 85
3.3. Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả bồi dưỡng công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố
Pleiku, tỉnh Gia Lai ..................................................................................... 87
3.4. Kiến nghị .............................................................................................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101
Phụ lục:......................................................................................................... 115
DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
UBND
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
QLNN
Quản lý nhà nước
ĐT
Đào tạo
BD
52
Bảng 2.5:
Số liệu thống kê về trình độ lý luận chính trị
53
Bảng 2.6:
Số liệu thống kê về trình độ tin học
54
Bảng 2.7:
Số liệu thống kê về trình độ ngoại ngữ
55
Bảng 2.8:
Số liệu thống kê trình độ quản lý nhà nước
56
Bảng 2.9:
Thống kê kết quả bồi dưỡng công chức
Bảng 2.17: Hình thức bồi dưỡng công chức
73
Sơ đồ 1:
Những thành tố cơ bản của quá trình ĐT,BD CBCC
33
Sơ đồ 2:
Số lượng cơ cấu giới
50
Sơ đồ 3:
Phương pháp giảng dạy
60
Sơ đồ 4:
Nội dung khóa bồi dưỡng
62
Sơ đồ 5:
9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) và Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo tinh thần của Nghị quyết
30c/NQ-CP, ngày 08 tháng 11 năm 2011 là những điểm mốc quan trọng của
công cuộc đổi mới, một trong những điều kiện để thực hiện thành công công
cuộc đổi mới đất nước. Trong các Chương trình tổng thể này, chúng ta đã xác
định mục tiêu của Cải cách hành chính là “xây dựng một nền hành chính dân
chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu
lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất và
1
năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”[19]…
Để thực hiện mục tiêu chung đó, Chính phủ đã xác định các nội dung cơ bản
của Cải cách hành chính. Trong đó, nhận thức được tầm quan trọng của nhân
tố con người trong mọi hoạt động, việc nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức được đánh giá là một trong những nội dung cơ bản của quá trình cải
cách.
Hoạt động bồi dưỡng công chức trong những năm qua không chỉ là mối
quan tâm chung của tất cả các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn vị; mà còn là
mối quan tâm thiết thực của bản thân mỗi công chức. Hoạt động bồi dưỡng
nhằm nâng cao năng lực làm việc cho đội ngũ công chức, đặc biệt là công
chức các cơ quan chuyên môn; là con đường giúp họ không ngừng hoàn thiện
về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành
chính Nhà nước. Có thể nói, với tầm quan trọng của mình, hoạt động bồi
dưỡng công chức thuộc các cơ quan chuyên môn luôn là vấn đề cấp thiết
được Đảng và Nhà nước quan tâm ưu tiên hàng đầu.
Nhưng thực tế hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn
vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Đó là, việc bồi dưỡng xưa nay chưa có lớp
mà còn đạt hiệu quả và có tính thuyết phục cao. Để làm được điều đó, công
tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn lại càng trở nên cần thiết,
nó không chỉ giúp người công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của
mình, mà còn góp phần to lớn trong việc tập hợp nhân dân, giữ vững ổn định
an ninh chính trị của khu vực và cả quốc gia.
Với các lý do nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Bồi dưỡng công chức
các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh
Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn là nội dung quan trọng
của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, nhất là đối với công cuộc cải
cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại với
đội ngũ công chức có chất lượng cao về mặt lý luận, đây là vấn đề ngày càng
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu được thực hiện và đăng tải kết quả dưới dạng đề tài khoa học, các bài
báo, sách chuyên khảo, luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp, cụ thể như
sau:
Thứ nhất, về đề tài khoa học, giáo trình và sách chuyên khảo:
- GS.TS Nguyễn Phú Trọng, GS.TS Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Tác giả đã tổng kết thực tiễn, đưa ra các quan điểm lý luận tác giả đã
phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ.
- Tác giả Ngô Thành Can (2014), “Đào tạo, bồi dưỡng phát triển
nguồn nhân lực khu vực công”, Nxb Lao động, Hà Nội. Tác giả phân tích,
http://www.tapchicongsan.org.vn/. Trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh để
xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức
tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục
vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnh khác nhau của công tác tổ chức cán bộ
còn cần phải có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả.
- Ths. Lê Công Quyền (2009), Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh
Thanh Hóa: “Nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu công
tác”, Tạp chí cộng sản; Tác giả nêu: Mặc dù đã được đào tạo, bồi dưỡng, một
số cán bộ, công chức vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện nhiệm vụ, năng
5
lực lãnh đạo, quản lý, điều hành, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra còn
hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Vì vậy,
muốn nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên đổi mới
theo hướng đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác của người học
Thứ ba, các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp đại học, chẳng
hạn như:
- Nguyễn Ngọc Hùng, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính
quyền cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” (Luận văn thạc sỹ quản lý hành
chính công – Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2012). Trong đề tài này, tác
giả đã đưa ra hai nhóm giải pháp chính. Đó là nhóm giải pháp về cơ quan
quản lý công chức và nhóm giải pháp đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức.
- Trần Văn Tuấn, “Năng lực thực thi công vụ của công chức các phòng
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông” (Luận
văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Học viện Hành chính Quốc gia, năm
2016). Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra bảy nhóm giải pháp chính như đổi
mới công tác tuyển dụng công chức; đổi mới công tác bố trí; sử dụng công
chức; đổi mới đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện công tác quy hoạch; đổi mới
nghiên cứu cụ thể sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức và bồi dưỡng công chức
cấp nhà nước;
- Khảo sát, thu thập các dữ liệu về công tác bồi dưỡng công chức, phân
tích, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện nay; đánh giá kết quả
đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công
tác bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
thành phố Pleiku.
7
- Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng
cao hiệu quả, chất lượng về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015
- Không gian: Các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành
phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Nội dung: Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình
nghiên cứu có cùng đề tài liên quan sau này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục
kèm theo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
9
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả
hoạt động bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
10
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN
CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Cấp huyện và công chức cấp huyện
1.1.1.1. Cấp huyện
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, căn cứ vào Hiến pháp Việt
Nam 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII ngày
19/06/2015 quy định tại “Chương I: Các đơn vị hành chính của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
chức năng rất quan trọng, đó là chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi
lãnh thổ. Và trong mỗi cấp hành chính, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định
cụ thể trong pháp luật. Có thể nhận thấy sự khác biệt tương đối rõ nét ở ba cấp
chính quyền trong tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương nước ta. Cụ thể
là:
Chính quyền cấp tỉnh: thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ yếu
thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng quy hoạch tổng thể, chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các hoạt
động diễn ra trong từng lĩnh vực. Điều này được ghi trong luật Tổ chức Chính
quyền địa phương:
Đối với chính quyền cấp huyện: việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn
thông qua cả hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách. Đây là cấp
trung gian trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước địa phương, là cầu
nối giữa cấp tỉnh và cấp xã. Do vậy, có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức
cấp huyện vừa là những người trực tiếp triển khai, hướng dẫn thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội trên địa
12
bàn huyện, vừa là những người xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hàng năm cho địa phương mình.
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn: là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ chức
hành chính Nhà nước địa phương ở nước ta. Đây là cấp gần dân nhất, trực tiếp
triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, nội dung văn bản
pháp luật tới người dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và
thực hiện theo những chương trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng
nên.
Như vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tùy vào nhiệm vụ và
quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức - những người có nghĩa vụ, trách
nhiệm thực hiện những nhiệm vụ ấy cần phải đáp ứng được những yêu cầu
chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” [58; tr. 1]. Quy định này khẳng định
quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn
hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân
biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11
năm 2008. Khoản 2, điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong
cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt
Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,
14
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương
của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [41; tr. 4].
Theo quy định, những người là công chức thì công chức các cơ quan
hành chính cấp huyện bao gồm: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và
người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chủ
tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó
Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận,
huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Người giữ chức vụ cấp
trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân.
* Công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
Mục đích chủ yếu của bồi dưỡng là bổ sung kiến thức và kỹ năng. Bồi
dưỡng phải chuyên sâu, phải cập nhật những nội dung liên quan đến công tác
và năng lực quản lý hay chuyên môn của người công chức.
Bồi dưỡng có thể hiểu là một quá trình liên tục nâng cao trình độ
chuyên môn, nâng cao kiến thức, nâng cao năng lực, phẩm chất và nghiệp vụ
trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng
lực hoặc phẩm chất” [61].
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau:
Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để
nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực
hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất
định qua một hình thức đào tạo nào đó. Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao ý
thức, kỹ năng nghề nghiệp cho cá nhân hay tổ chức. Quá trình này chỉ diễn ra
khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên
môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của công chức [27].
16
Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010
của Chính phủ thì cụm từ “bồi dưỡng” được hiểu: “đó là hoạt động trang bị,
cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [16; tr.8]
Một số cách hiểu khác thì bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc
phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi
hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với công chức đang giữ một chức
danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định.
Bồi dưỡng cũng có ý nghĩa là nâng cao trình độ nghiệp vụ, quá trình
này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ
năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao
động nghề nghiệp.