BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
............./.............
...../......
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƢ
BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC UBND TỈNH BÌNH DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
-----------------
------
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƢ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thái Quỳnh Nhƣ
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
Hình 2.1. Cán bộ, công chức, viên chức, tỉnh
Bảng 2.1. Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh về giới tính,
đảng viên, dân tộc, tôn giáo, ngạch
Bảng 2.2. Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh về trình độ
chuyên môn, chính trị, tin học, ngoại ngữ
iii
Trang
45
47-48
49-51
Chương 2: THỰC TRẠNG BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN
MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG ................................... 41
1
2.1. Tổng quan về tỉnh Bình Dƣơng ........................................................................... 41
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số, đơn vị hành chính: ......................... 41
2.1.2. Tình hình hình tế - xã hội .............................................................................. 42
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
tỉnh .............................................................................................................................. 43
2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
tỉnh Bình Dƣơng: ..................................................................................................... 43
2.2.2. Số lƣợng, độ tuổi, trình độ, ngạch của công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng................................................................ 44
2.2.3. Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân
dân tỉnh .................................................................................................................... 52
2.3. Công tác bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn 2011-2015. ...................................................................... 56
2.3.1. Các quy định và định hƣớng quan điểm, nguyên tắc của Trung ƣơng, của
tỉnh Bình Dƣơng về đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức .................................... 56
2.3.2. Thực trạng bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh ........................................................................................................... 58
2.3.3. Kết quả bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh giai đoạn 2011-2015 .................................................................................. 65
2.3.4. Đánh giá kết quả công tác bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn 2011-2015 ............................. 69
Tiểu kết chƣơng 2: ...................................................................................................... 76
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BỒI
DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN
công tác, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, gắn bó chặt chẽ
với quần chúng, có uy tín cao trong Đảng và nhân dân. Tuy nhiên, bƣớc sang giai đoạn
thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế, chất lƣợng của đội ngũ cán bộ, công chức còn có những hạn chế, chƣa theo
kịp sự tiến triển của tình hình mới. Đảng ta đã chỉ ra rằng, sự trì trệ, bảo thủ trên nhiều
mặt của công tác cán bộ trong nhiều năm qua là một trong những nguyên nhân chủ yếu
của sự trì trệ trong tổ chức thực hiện và nhiều mặt khác. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ V, Đảng ta đã nêu rõ “Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
Tổ quốc càng phức tạp, vai trò lãnh đạo của Đảng càng tăng thì vị trí quyết định của
công tác cán bộ, đặc biệt là của việc bồi dƣỡng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ chủ chốt
càng lớn” [16, tr.110].
Hiện nay, nƣớc ta đang ở chặng đƣờng quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đang
trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Quy mô, tầm cỡ, tính chất phức tạp của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cuộc
chiến đấu không khoan nhƣợng về ý thức chính trị giữa nhân dân ta với các thế lực thù
địch và ngay trong nội bộ đất nƣớc đang đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Muốn thế, Đảng phải tiếp tục đổi mới về nhiều
mặt: đổi mới tƣ duy trƣớc hết là tƣ duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới công tác cán
bộ và đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo. Trong đó đổi mới về công tác cán
bộ là khâu trọng yếu có quan hệ khăng khít và tác động qua lại với đổi mới tƣ duy, đổi
mới tổ chức, đổi mới phong cách. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại việc tổ
chức thực hiện mọi đƣờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc, là
nhân tố quyết định việc thực hiện thành công quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
về kinh tế - xã hội cũng nhƣ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội
4
nhập quốc tế. Do đó, phải xây dựng đƣợc đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững
vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.
đô thị, về kinh tế thị trƣờng, ngoại ngữ… dẫn đến việc chất lƣợng chƣa đủ mạnh; chƣa
thật sự đảm bảo tính kế thừa, liên tục, làm cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng
cán bộ luôn bị động, chắp vá ít nhiều gây trở ngại cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy.
Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là
một đòi hỏi cần phải đƣợc thực hiện có hiệu quả nhất là khi Bình Dƣơng đang chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng ƣu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá
trình đô thị hóa, đầu tƣ phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao.
Xuất phát từ thực tiễn trên và từ sự cần thiết phải nâng cao chất chất lƣợng đội
ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng để
đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn đề tài “Bồi
dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng”
nhằm mục đích nâng cao nhận thức cá nhân và góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề phát sinh trong thực tế cần đƣợc giải quyết để xây dựng đội ngũ này ngày càng phù
hợp và ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Sau ngày thống nhất đất nƣớc, đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh đƣợc hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm cán bộ, công chức là ngƣời địa phƣơng đã
kinh qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và số mới tuyển dụng; cán bộ, công chức
do Trung ƣơng tăng cƣờng và các địa phƣơng khác đƣợc điều động đến; cán bộ, công
chức của các đơn vị đƣợc sáp nhập, cán bộ, công chức ngành khác chuyển sang…
Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh có trình độ từ trung cấp chuyên môn trở
xuống, trong số này có số ít ngƣời tốt nghiệp đại học, đƣợc đào tạo về quản lý Nhà
nƣớc, quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp theo mô hình của các nƣớc xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu nên khi vận dụng trong thực tế và công tác chuyên môn có nhiều
điểm bất cập hoặc không phù hợp; số cán bộ, công chức sử dụng đƣợc ngoại ngữ và
tin học trong công tác chuyên môn hầu nhƣ không có; số cán bộ, viên chức khoa học
kỹ thuật, nghiệp vụ lƣu dụng của chế độ cũ phải mất một thời gian nhất định mới thích
nghi đƣợc với phƣơng pháp vận hành tổ chức, bộ máy, với sự điều hành, lãnh đạo của
Dƣơng đã cơ bản tạo đƣợc nguồn cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cao, có kiến thức vận dụng sáng tạo vào thực
7
tiễn…Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức này nhìn chung vẫn chƣa đáp ứng đƣợc
yêu cầu của tình hình mới, trình độ và năng lực quản lý kinh tế thị trƣờng, hội nhập
quốc tế, ngoại ngữ còn yếu, chất lƣợng phục vụ một số dịch vụ hành chính công chƣa
đạt yêu cầu, thiếu nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ cho quá trình phát triển và
hội nhập kinh tế của tỉnh…Vấn đề này đặt ra cho Bình Dƣơng phải tiếp tục có những
giải pháp tốt hơn để hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh ngang tầm với giai
đoạn phát triển hiện nay của Bình Dƣơng.
Và làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức là
câu hỏi đƣợc nhiều ngành chức năng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Dƣơng
nói riêng quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp phù hợp để xây dựng đội ngũ
này ngày một vững mạnh hơn. Và bản thân, với tƣ cách là một công chức của tỉnh
Bình Dƣơng cũng quan tâm tới vấn đề này. Một trong những giải pháp đƣợc xem là
quan trọng hàng đầu và có hiệu quả đó chính là đào tạo, đào tạo lại, bồi dƣỡng cán bộ,
công chức. Về nội dung này, có rất nhiều đề tài nghiên cứu nhƣng chƣa có đề tài nào
phân tích, nghiên cứu có hệ thống về một đối tƣợng chuyên biệt đó là “bồi dƣỡng công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”. Tại Bình Dƣơng, tính
đến thời điểm hiện nay, ngoài các văn bản của Tỉnh có liên quan đến việc đào tạo, bồi
dƣỡng cán bộ, công chức thì trƣớc tôi chƣa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện về nội dung này. Thông qua những nội dung đƣợc đề cập trong luận
văn của mình, tôi mong muốn góp một phần rất nhỏ để tìm ra hƣớng giải quyết phù
hợp, hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức của tỉnh nói chung và
bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh nói riêng
trong thời gian tới, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ này ngày càng phù hợp và
ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay.
- Phƣơng pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phƣơng pháp thu thập và xử lý
thông tin để phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu, nghiên cứu các bài viết trên tạp chí,
website, các sách chuyên khảo có liên quan, sử dụng phƣơng pháp điều tra bằng bảng
hỏi và tiến hành khảo sát 126 đối tƣợng là công chức đang công tác tại các cơ quan
chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, phỏng vấn 23 chuyên gia là lãnh đạo các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo Ban Văn hóa-Xã hội Hội đồng
nhân dân tỉnh, một số cán bộ hƣu trí của ngành tổ chức để đánh giá thực trạng đội ngũ
công chức và tình hình bồi dƣỡng công chức từ đó đề xuất giải pháp sát thực nhằm
9
nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: luận văn cung cấp cấp hệ thống lý luận cơ bản về bồi dƣỡng công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm cơ sở so sánh,
đánh giá thực tiễn.
Về thực tiễn: luận văn tổng kết thực tiễn và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh Bình Dƣơng. Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những cá nhân
quan tâm đến đề tài này
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Cơ sở lý luận về bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Chương 2. Thực trạng bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng công chức
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Ở cấp xã, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.
11
Nhƣ vậy, theo quy định trên, căn cứ để xác định một ngƣời là công chức, thì
ngƣời đó phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Là công dân Việt Nam;
- Đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;
- Trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc hoặc đƣợc đảm bảo từ
quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
- Làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính
trị - xã hội, trong Ủy ban nhân dân cấp xã.
Ngoài ra, những trƣờng hợp đã đủ căn cứ xác định là công chức theo các tiêu
chí trên mà kiêm nhiệm một số chức danh, chức vụ đƣợc bầu cử (không chuyên trách)
theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hội thì đƣợc xác định là công chức và những ngƣời đang làm viêc chuyên trách công
tác Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên tại các cơ quan nhà nƣớc, ở trong biên chế công
chức, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch thì cũng
đƣợc xác định là công chức [10].
Những ngƣời đang làm việc ở các vị trí đƣợc pháp luật quy định là công chức
trong đơn vị sự nghiệp công lập mà chƣa đƣợc tuyển dụng (đang thực hiện chế độ hợp
đồng lao động) và những ngƣời là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong
Có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế
mở, Khu kinh tế cửa khẩu đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập;
Có khu du lịch quốc gia hoặc di sản văn hóa đƣợc UNESCO công nhận.
Những tỉnh không đủ tiêu chí thành lập Sở Ngoại vụ thì đƣợc thành lập Phòng
Ngoại vụ thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Phòng Ngoại vụ chịu sự chỉ đạo
trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm
cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Ngoại vụ
+ Ban dân tộc đƣợc thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng khi
đảm bảo có 2 trong 3 tiêu chí sau:
13
Có trên 20.000 (hai mƣơi nghìn) ngƣời dân tộc thiểu số sống tập trung
thành cộng đồng làng, bản;
Có trên 5.000 (năm nghìn) ngƣời dân tộc thiểu số đang cần Nhà nƣớc
tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;
Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh,
quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cƣ; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu
số nƣớc ta và nƣớc láng giềng thƣờng xuyên qua lại.
Ðối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhƣng chƣa đáp ứng
các tiêu chí nhƣ trên thì thành lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí công chức) làm công tác
dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Phòng Dân tộc (hoặc công chức)
làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Văn
phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho
hoạt động của Phòng Dân tộc.
+ Sở Quy hoạch - Kiến trúc: đƣợc thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh
+ Cơ quan chuyên môn đặc thù khác: chỉ đƣợc tổ chức khi thật cần thiết, phù
hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà
1.1.2.3. Vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh
Khoản 1 và 2, Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy
định: “cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đƣợc tổ chức ở cấp tỉnh là cơ quan
tham mƣu giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về ngành, lĩnh
vực ở địa phƣơng và thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền
của cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng
thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nƣớc về ngành,
lĩnh vực cấp trên”.
Nhƣ vậy, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan tham
mƣu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng,
đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nƣớc cấp trên ủy quyền,
phân cấp. Do đó, vai trò của các cơ quan này rất quan trọng, điều đó cũng có nghĩa là
15
công chức của các cơ quan này cũng có vai trò rất quan trọng, năng lực công chức tốt
góp phần giúp cho việc tham mƣu và thực hiện các chủ trƣơng, quyết định đƣợc tốt
hơn.
1.1.3. Công chức và vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Căn cứ khoản 2, Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy
định cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Nghị định số 06/2010/NĐCP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là công chức, Thông tƣ số
08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bội Nội vụ hƣớng dẫn thêm một số điều của
Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, thì công chức các cơ quan
chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh bao gồm:
Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh; ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong các
là công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, đủ sức khỏe công tác, có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ. Bên cạnh các tiêu chuẩn chung còn có tiêu chuẩn
cụ thể, tiêu chuẩn này gắn với vị trí việc làm cụ thể mà công chức đảm nhận, chẳng
hạn công chức chuyên môn sở xây dựng phải có đại học chuyên ngành xây dựng hoặc
kiến trúc, công chức chuyên môn tƣ pháp phải có đại học chuyên ngành luật…Trên
thực tế việc ban hành tiêu chuẩn cụ thể chƣa làm đƣợc nhiều, chỉ một số bộ, ngành ban
hành tiêu chuẩn nhƣ Bộ Giao thông Vận tải ban hành tiêu chuẩn của Giám đốc Sở
Giao thông Vận tải tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng hay Bộ Nội vụ ban hành tiêu
chuẩn công chức ngạch hành chính…vẫn còn nhiều chức vụ hay công chức khác chƣa
có tiêu chuẩn cụ thể.
1.2. Bồi dƣỡng công chức
1.2.1. Khái niệm bồi dƣỡng công chức
Có nhiều khái niệm khác nhau nhƣ:
Theo quy định của Chính phủ thì bồi dƣỡng là hoạt động trang bị, cập nhật,
nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [13].
Theo Trần Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Hải thì bồi dƣỡng là quá trình cập nhật
kiến thức và trang bị các kỹ năng cần thiết cho ngƣời lao động trong quá trình thực thi
công vụ [37, tr.188].
17
Theo Hoàng Mạnh Đoàn thì bồi dƣỡng là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến
thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã đƣợc đào tạo cơ bản, cung cấp
thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng...[22];
Từ những khái niệm trên cho ta thấy các tác giả tiếp cận theo cách khác nhau
nên có các khái niệm khác nhau về bồi dƣỡng nhƣng đều có nhận định chung là bồi
dƣỡng nhằm để bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng làm việc. Do đó, trong luận văn
này tác giả thống nhất đƣa ra khái niệm bồi dƣỡng nhƣ sau:
Bồi dưỡng công chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ
tr.473]. Theo Lênin, muốn lật đổ chế độ Nga hoàng và giành chính quyền phải có đội
ngũ “cán bộ chuyên nghiệp”.
Lênin cho rằng, một trong ba kẻ thù chính đang đối diện với mỗi ngƣời, bất kể
ngƣời đó làm việc gì, ở cƣơng vị nào đó là nạn mù chữ mà suy rộng ra đó là sự tụt hậu
về trí tuệ “Một ngƣời không biết chữ là ngƣời đứng ngoài chính trị” [28, tr.218]. Vì
thế ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Lênin đã rất coi trọng công tác cán bộ.
Ngƣời cho mở các trƣờng, lớp đào tạo cán bộ và chính Ngƣời giảng bài ở các trƣờng,
lớp đó. Cách mạng Tháng mƣời Nga không thể thành công nếu không có đội ngũ cán
bộ đƣợc huấn luyện và đào tạo nhƣ thế. Khi có chính quyền lãnh đạo công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin yêu cầu bộ máy của Đảng và Nhà nƣớc phải thông thạo
công việc và có uy tín chuyên môn. Ngƣời đã chỉ ra rằng “Muốn quản lý đƣợc thì cần
phải am hiểu công việc” [28, tr.257], không thể quản lý đƣợc “Nếu không có đƣợc uy
tín chuyên môn, không có kiến thức đầy đủ, không tinh thông khoa học quản lý” [28,
tr.257]. Phân tích tình hình nƣớc Nga năm 1922 – 1923, Lênin nói:
Sức mạnh của chúng ta ở đâu và chúng ta thiếu cái gì? Chính quyền chúng ta có
đầy đủ, lực lƣợng kinh tế cơ bản chúng ta nắm trong tay. Tất cả những xí nghiệp lớn
có tính chất quyết định, những đƣờng sắt… đều nằm trong tay chúng ta. Nhƣ vậy thì
thiếu cái gì? Rõ ràng cái còn thiếu chính là trình độ văn hóa của những ngƣời cộng
sản. Do đó, việc xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, chỉ có thể đƣợc thực hiện trên cơ
sở một nền học vấn hiện đại, nếu không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn
chỉ là một nguyện vọng mà thôi [30, tr.365].
Từ sự phân tích trên, Lênin tiến hành đánh giá, sắp xếp lại cán bộ; đào tạo, bồi
dƣỡng cán bộ theo yêu cầu và đòi hỏi của nhiệm vụ mới. Ngƣời đặt ra nhiệm vụ cho
cho những ngƣời cộng sản là phải làm phong phú đầu óc của mình bằng tất cả kiến
thức của nhân loại. Ngƣời kêu gọi: “Học, học nữa và học mãi”. Qua thực tiễn, Ngƣời
khẳng định: “Nghiên cứu con ngƣời, tìm ra cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then
19
20