BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết
Phản biện 1: TS Trịnh Thanh Hà
..............................................................................................
..............................................................................................
Phản biện 2: TS Nguyễn Duy Thụy
..............................................................................................
..............................................................................................
quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh
Đắk Lắk là điều hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tế đó và đam mê tìm hiểu về văn hóa cồng
chiêng, học viên đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là cấp thiết và
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Qua đó, góp phần vào việc
nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản và đặc biệt đề
xuất những giải pháp quản lý nhà nước để bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý nhà nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói
riêng ở nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay vẫn đang là vấn
đề thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa
học. Chính vì vậy trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu đã được văn bản hóa bằng chữ viết, in thành sách giới thiệu rộng
rãi đối với công chúng trong và ngoài nước dưới dạng xuất bản
phẩm, băng đĩa, phim khoa học để giới thiệu các giá trị của văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên. Tuy nhiên, về góc độ quản lý nhà nước về
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế, bất
-1-
cập, chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu cho lĩnh vực quản lý
nhà nước một các cụ thể, toàn diện, nhất là trong giai đoạn phát triển
hiện nay, vì vậy học viên cập nhật những kiến thức lý luận và thực
tiễn hiện nay, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó để làm
hướng nghiên cứu và giải quyết những yêu cầu đặt ra cho đề tài luận
văn. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là không
trùng lặp.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác Lênin về phép duy vật biện chứng và phép duy vật
lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể nói chung, di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để giải quyết những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng
kết hợp tương thích các phương pháp nghiên cứu, cụ thể như:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết; Phương pháp nghiên cứu thực
tiễn và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; Phương pháp chuyên gia;
Phương pháp thống kê, phân tích số liệu, xử lý thông tin bằng phần
mềm tin học, tổng hợp và so sánh một cách khoa học và có hệ thống.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận quản lý nhà
nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
6.2. Về thực tiễn
Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di
sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk. Đề xuất những
giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk. Đề tài có thể làm tài liệu
tham khảo cho các nhà quản lý địa phương trong việc hoạch định và
tổ chức thực thi quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk.
7. Kết cấu nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo,
nội dung chính của đề tài được kết cấu gồm 03 chương:
dạng với nhiều mục đích và chức năng khác nhau, gắn bó thường
xuyên, lâu dài với đời sống thường ngày cũng như đời sống tín
ngưỡng của con người.
Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được
UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và
truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25-11-2005. Sau Nhã nhạc Cung
đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ
hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới. Không gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn
hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng,
Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai.
1.1.4. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang
tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng
-4-
quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của
Nhà nước trên cơ sở pháp luật.
Quản lý nhà nước về văn hóa là những công việc của Nhà
nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện,
kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về văn hóa.
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa được hiểu là các hoạt
động chấp hành, điều hành của cơ quan Nhà nước, được tiến hành
trên cơ sở pháp luật và thi hành luật pháp đối với hoạt động bảo tồn
và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc bao gồm di sản văn
hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể là quá trình ban
quan trọng nhất để điều chỉnh các hoạt động nhằm mục tiêu quản lý
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
1.2.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với di
sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Chính sách của nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnh
nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau, trong đó văn hóa xã hội luôn là một
trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Hiện nay, nhà nước đã
chú trọng quan tâm nhiều hơn đến công tác bảo tồn và phát triển hệ
thống di sản văn hóa tại Việt Nam. Để thực hiện điều này, Việt Nam
đã có những chính sách nhằm xây dựng phương hướng, mục tiêu
cũng như những cách thức để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng.
1.2.3. Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cấp trung ương
Theo Nghị định 81/CP ngày 08/11/1993 Bộ Văn hóa –
Thông tin là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước về văn hóa thông tin trong cả nước.
Cấp địa phương
Chính quyền địa phương được giao trách nhiệm đẩy mạnh sự
nghiệp văn hóa, bảo vệ tính đa dạng và tính thống nhất trong sự phát
triển của văn hóa Việt Nam.
1.2.4. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và
chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Củng cố và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn cao, phục vụ quản lý di sản văn hóa phi vật thể với sự
hỗ trợ của các cơ quan, các nhà khoa học trong nước và thế giới.
1.2.5. Hỗ trợ và huy động các nguồn lực để phát triển văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên
chiêng Tây Nguyên
Việc điều chỉnh nhằm hướng các hoạt động của di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên đi vào chiều sâu, tránh được tình trạng
phân tán không hiệu quả. Trong thời gian qua hoạt động di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung và ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng
chưa được quy hoạch phát triển theo định hướng cụ thể.
1.3.3. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên phát huy giá trị
Việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa cồng chiêng
phát huy được giá trị trên hết là hệ thống quản lý, chính sách và điều
hành. Từ việc xây dựng và ban hành các chính sách về di sản văn
hóa cồng chiêng nói riêng từ trung ương đến địa phương để nghiên
cứu thành lập các hội đồng chuyên môn đảm bảo trình độ chuyên
môn cao, am hiểu về chính sách qua đó thẩm định các đề án, dự án
đạt hiệu quả cao.
-7-
1.3.4. Phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên
Cồng chiêng có một vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí
cổ truyền của nước ta, vì vậy một đòi hỏi cấp thiết là cần có sự quản
lý của nhà nước để di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phát huy
được giá trị của mình. Vị thế ấy không bắt nguồn từ chất liệu chế tạo
ra nó hoặc từ giá trị vật chất của loại nhạc khí này cũng không đơn
thuần bắt nguồn từ việc sử dụng rộng rãi cồng chiêng trong cộng
đồng cư dân ở việt Nam mà bắt nguồn từ sự tổng hòa các giá trị văn
hóa đa dạng bao chứa trong nó. Trên thực tế hiếm có nhạc khí nào
bao hàm nhiều giá trị như cồng chiêng.
Tiểu kết chương 1
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, Phía
Đông giáp Phú Yên và Khánh Hòa, phía Nam giáp Lâm Đồng
và Đắk Nông, phía Tây giáp Campuchia đường biên giới dài
70 km, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai. Tỉnh Đắk Lắk có địa hình
hướng thấp dần từ Đông nam sang Tây bắc. Khí hậu toàn tỉnh
được chia thành hai tiểu vùng, vùng phía Tây Bắc khí hậu nắng
nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam có khí
hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa
mưa và mùa khô. Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện,
gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có 184 đơn vị hành
chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn.
Điều kiện kinh tế
Kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất
và xuất khẩu nông sản, lâm sản; là tỉnh có tiềm năng về du lịch
sinh thái. Năm 2016, tăng trưởng kinh tế của Tỉnh đạt 101,3%, thu
nhập bình quân đầu người đạt hơn 28 triệu đồng/người/năm.
Điều kiện xã hội
Tính đến năm 2015, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk đạt gần
1.853.698 người, mật độ dân số đạt 141 người/km².
Toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng chung sống, tỷ lệ
đồng bào dân tộc chiếm 30% tổng dân số, trong đó dân tộc Êđê
gần 300.000 người, Mnông trên 40.000 người.
Đắk Lắk là tỉnh có bản sắc văn hóa đa dạng, được xem là
một trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng
chiêng Tây Nguyên, được UNESSCO công nhận là Kiệt tác
truyền khẩu và phi vật thể nhân loại. Du lịch Đắk Lắk đang có lợi
thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp
cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của
-9-
xác định các nghệ nhân làng nghề là đối tượng điều chỉnh, còn các
nghệ nhân nắm giữ tri thức dân gian và nghệ thuật trình diễn chưa
được đề cập đến. Quy định tại điều 65 của Luật thi đua khen thưởng
quy định danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú” chỉ
phong tặng cho các“cá nhân có nhiều năm trong nghề, kế tục, gìn
giữ, sáng tạo và phát triển nghành nghề thủ công mỹ nghệ truyền
thống” không điều chỉnh tới các cá nhân có công đối với việc bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở các lĩnh vực khác.
-10-
2.2.2. Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính
sách về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Chưa có một chính sách chung mang tính chiến lược, nhằm
mục đích phát huy vai trò của di sản văn hóa phi vật thể trong xã hội,
đưa nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
cồng chiêng Tây Nguyên vào các chương trình qui hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh và qui hoạch phát triển các ngành có liên
quan.
Chưa có một chính sách cụ thể về đãi ngộ đối với các nghệ
nhân dân gian. Điều phải quan tâm trong vấn đề chế độ đãi ngộ này
là hiện có không ít nghệ nhân đang ở cái tuổi thấp thập cổ lai hy vẫn
đang chờ được tôn vinh. Như vậy, sự quan tâm kịp thời của các cấp
chính quyền trong thời điểm hiện tại đóng vai trò quyết định. Bảo tồn
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trước hết phải bảo tồn
những người đang lưu giữ nó, đó là các nghệ nhân.
2.2.3. Thực trạng xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy
quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Qua việc triển khai thực hiện Nghị quyết 63/2012/NQHĐND ngày 06/7/2012 về “Bảo tồn, phát huy di sản không gian văn
hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2012 - 2015” đã đem lại
Nguyên đã bị khuếch trương rất nhiều trong các hoạt động biểu
diễn, trong đó có không ít các hoạt động biểu diễn không đáp ứng
được tiêu chí mang cái hay, các đẹp của văn hóa dân tộc để phục vụ
khán giả.
2.2.7. Thực trạng tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý
nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung, UBND
tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện hàng năm công tác tổng kết đánh giá, thi
đua và khen thưởng, trong đó đã quan tâm đề cập hoạt động bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng. Từ đó
hàng năm đã đề ra phương hướng kế hoạch, xác định vài trò chủ đạo
trong hoạch định chính sách, chủ trương, đường lối, xây dựng kế
hoạch triển khai thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu giữ gìn các
giá trị của di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
2.3.1. Kết quả
Tỉnh đã triển khai nhiều văn bản, chương trình, kế hoạch
trong đó, Tỉnh đã xây dựng đề án: “Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa
cồng chiêng Đắk Lắk (giai đoạn 2007 – 2010)” và đề án “Bảo tồn,
phát huy di sản không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai
đoạn 2012 - 2015”.
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia: Tổ chức kiểm kê
văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Búk, đã thống kê được 7 loại hình
văn hóa phi vật thể đề nghị sưu tầm bảo tồn, phát huy (Ngữ văn dân
gian, tập quán xã hội, nghi lễ, y dược cổ truyền, nghệ thuật trình diễn
dân gian, đan lát và dệt thổ cẩm).
-12-
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, của văn
hóa và lối sống hiện đại, nên văn hóa lễ hội truyền thống, không
gian văn hóa cồng chiêng đang bị mất dần trong đời sống cộng
đồng các dân tộc Đắk Lắk.
-13-
Kinh phí bố trí thực hiện các nội và Chương trình mục tiêu
về văn hóa nói chung và di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói
riêng còn hạn chế.
Sự phát triển của các loại hình văn hóa hiện đại, như:
truyền hình, điện ảnh, video, sân khấu, âm nhạc… nhất là băng
nhạc, phim ảnh nước ngoài được đưa vào nước ta một cách thiếu
chọn lọc, đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống
của dân tộc, trong đó có nền văn hóa cồng chiêng của đồng bào
các dân tộc Đắk Lắk.
Công tác kiểm tra, quản lý các hoạt động văn hóa cồng
chiêng từ trung ương đến địa phương từ trước đến nay vẫn chưa
được đặt ra một cách cụ thể.
Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách về công tác này chưa
được đào tạo bài bản.
Việc dựa vào nhân dân (nhất là các già làng) để tuyên
truyền cho nhân dân hiểu được giá trị văn hóa cồng chiêng của
dân tộc mình để cùng nhau gìn giữ, bảo vệ, phát huy nó trong các
sinh hoạt văn hóa cộng đồng chưa thực sự được quan tâm đúng
mức.
Tiểu kết chương 2
Thực trạng trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn
bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cồng chiêng Tây
Nguyên sẽ đạt nhiều thành tựu mới trong thời gian tới.
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
TÂY NGUYÊN Ở TỈNH ĐẮK LẮK
3.1. Quan điểm và định hướng về di sản văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên
3.1.1. Quan điểm về văn hóa và di sản văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trên thế giới kí
Công ước năm 2003 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của
UNESSCO. Công ước này đã được Đại hội đồng UNESSCO nhất trí
thông qua vào ngày 17/10/2003 và có hiệu lực từ tháng 4/2006. Cùng
với việc tham gia Công ước là sự đảm bảo các quy định của Công
ước nói trên phải được nội luật hóa vào pháp luật của quốc gia. Trên
cơ sở tiếp thu quan điểm của UNESSCO, tại lần sửa đổi bổ sung vào
năm 2009, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể đã xác định lại
theo hướng xúc tích và trọng tâm “di sản văn hóa phi vật thể là sản
phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không
gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện
-15-
bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Cách định nghĩa này đảm
bảo các tiêu chí xác định di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam
phù hợp với quốc tế. Qua đó, Việt Nam đã có điều kiện thuận lợi hơn
trong việc lập hồ sơ đề nghị UNESSCO công nhận di sản văn hóa
phi vật thể cần bảo vệ ở tầm quốc tế.
di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai
-16-
một hoặc thất truyền”; hoặc Điều 26: “Nhà nước tôn vinh và có
chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công
phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc
biệt”. Để thực hiện những điều luật này, có nhiều việc phải làm,
nhưng phải xuất phát từ thực tiễn của những công việc liên quan đến
di sản văn hóa phi vật thể.
Một trong những công cụ để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, đó là hệ thống pháp
luật. Đảng ta cũng khẳng định chủ trương: Nhà nước cùng nhân dân giữ
gìn và bảo tồn những di sản văn hóa, hoàn thành nhiệm vụ sưu tầm vốn
văn hóa văn nghệ các dân tộc. Cũng trong Nghị quyết TW 5 khóa VIII,
trang 63 đã khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những
giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa
cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
Di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên nói riêng là cầu nối giao lưu văn hóa với các quốc gia khác
và là nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy,
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần được sưu tầm, nghiên
cứu, khôi phục, gìn giữ và phát huy trong hiện tại và tương lai. Để
làm được việc đó, cần có một khung pháp lý cụ thể, hoàn thiện với
những quy định cụ thể phù hợp với loại hình di sản này.
Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XVI (2015-2020)
đã quán triệt sâu sắc tinh thần trên và các cấp chính quyền trong tỉnh
đã nghiêm túc thực hiện.
văn hóa cồng chiêng.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Di sản văn hóa của Nhà
nước, Chỉ thị 08/CT-UB của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc bảo tồn
văn hóa cồng chiêng trong toàn tỉnh.
Hoàn thành nội dung kiểm kê di sản văn hóa cồng chiêng của
các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh nhằm xác định giá trị, số
lượng (bài chiêng cổ, nghệ nhân truyền dạy) phục vụ quá trình bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng trong những giai đoạn tiếp
theo.
Đến năm 2020, phấn đấu trên 70% buôn có đồng bào các
dân tộc bản địa trên địa bàn toàn tỉnh có cồng chiêng.
Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội truyền
thống để tạo môi trường diễn xướng cho cồng chiêng và sinh hoạt
văn hóa cồng chiêng. Khuyến khích trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng và tổ chức các lễ hội truyền thống dân gian có sử dụng cồng
chiêng.
Hỗ trợ cho 15 huyện, thị xã, thành phố tổ chức các lớp truyền dạy
về cách đánh cồng chiêng và chỉnh chiêng cho thanh niên người dân tộc
tại địa phương.
-18-
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn
hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
3.2.1. Ban hành văn bản áp dụng và tổ chức thực hiện hiệu
quả thể chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên trên địa bàn tỉnh.
Hoàn thiện hệ thống thể chế bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa phi vật thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Cụ thể hóa các
Thành lập Trung tâm nghiên cứu di sản văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên hoặc có bộ phận nghiên cứu này trong phòng Quản lý di
sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch của tỉnh.
Thành lập ban bảo vệ văn hóa cồng chiêng từ tỉnh đến cơ sở
trong đó cần có các già làng và cán bộ người dân tộc có năng khiếu
vào ban này đồng thời có kinh phí và phương tiện cần thiết cho ban
này hoạt động.
3.2.4. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng
nghiệp vụ cho viên chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh.
Cần xác định cán bộ dân tộc thiểu số chính là người cần phát
huy khả năng làm việc, ngôn ngữ, vốn văn hóa truyền thống để giúp
đồng bào ý thức bảo vệ, phát huy về các giá trị di sản văn hóa truyền
thống.
Cần củng cố, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn cao phục vụ công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể
với sự hỗ trợ của các cơ quan, các nhà khoa học trong nước và thế
giới (kể cả đi tham quan học tập ở nước ngoài).
3.2.5. Tăng hỗ trợ từ ngân sách, huy động nguồn lực tài
chính và vật chất để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh
Hằng năm cần có kế hoạch huy động các nguồn kinh phí tài
trợ, đầu tư cho những công trình, tác phẩm văn hóa như sản xuất
băng đĩa về văn hóa cồng chiêng, về lễ hội dân gian, xây dựng buôn
làng văn hóa cổ truyền, bảo tàng văn hóa dân tộc, trùng tu, tôn tạo và
phát huy tác dụng của các di tích lịch sử- văn hóa và di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên ở địa phương.
Tăng cường xã hội hóa huy động nguồn lực bảo tồn và phát
cơ quan, các ban ngành liên quan.
Công tác tổng kết, đánh giá hàng năm về các hoạt động quản
lý nhà nước bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cần được thực hiện với những nội
dung cụ thể.
Ngoài việc đánh giá những kết quả đã đạt được trong quản lý
nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên theo nhiệm vụ
được phân công và trên địa bàn được phân công, cần phải so sánh
với mục tiêu phương hướng đã đề ra hoặc đã được giao trước đó.
Việc đánh giá cần bám sát nội dung đề án “Bảo tồn, phát huy
văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2016 – 2020” đã phân
công, nêu cụ thể những việc làm được, chưa làm được, lý do chủ
quan, lý do khách quan, những khó khăn thách thức. Cần thiết nêu rõ
trách nhiệm cụ thể đối với những cấp và ngành cụ thể.
3.3. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp
trung ương và chính quyền địa phương tỉnh Đắk Lắk
3.3.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương
-21-
Các cơ quan quản lý Nhà nước cấp Bộ và tương đương cần
tham mưu cho Chính phủ để gắn nội dung bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào trong các chương trình,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Nguyên, của quốc gia,
hoặc của các nhà đầu tư các tổ chức quốc tế triển khai tại các tỉnh
Tây Nguyên và tỉnh Đăk Lăk.
3.3.2. Đối với chính quyền địa phương tỉnh Đắk Lắk
Các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
trong tỉnh cần quan tâm giáo dục nâng cao nhận thức việc thực hiện
các giải pháp về bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
tồn di sản phi vật thể đại diện nhân loại văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên, để làm cho di sản trở thành một thành tố của quá trình “Di
truyền xã hội” sẽ không là trách nhiệm của riêng một ai, mà đó là
trách nhiệm chung của toàn xã hội, của các cấp, các ngành và cả
cộng đồng.
KẾT LUẬN
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên là toàn bộ sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước
đến các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cồng
chiêng, là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính
nghệ thuật, qua đó hướng đến mục tiêu bảo tồn không gian văn hóa
cồng chiêng trong tổng thể văn hóa bản địa truyền thống của 47 dân
tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt tiếng
cồng chiêng còn đem đến đời sống của người Tây Nguyên sự lạc
quan, là nguồn gốc của những sử thi, thơ ca đi vào đời sống tinh thần
của nhân dân.
Kết quả nghiên cứu đề tài được thể hiện qua các chương
như sau:
Chương 1, luận văn đã hệ thống được cơ sở lý luận quản lý
nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Công tác quản
lý di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là quá trình tác động, điều
chỉnh thông qua quản lý nhà nước bằng các quy định của pháp luật
trên tất cả các hoạt động trong đời sống xã hội nhằm bảo tồn và phát
triển di sản, đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân vùng Tây
Nguyên và của tỉnh Đắk Lắk. Kết quả nghiên cứu về phương diện lý
luận ở chương 1 là cơ sở để luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng
quản lý di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của tỉnh Đắk Lắk
trong thời gian qua, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng
cao chất lượng của công tác quản lý di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên của tỉnh ở các chương sau.