Khóa luận tốt nghiệp đại học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
****************
LÊ THỊ HƯƠNG
VẤN ĐỀ DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN
THỨC CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ BÀI GIẢNG
DẠY
MÔN CÔNG NGHỆ 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm kỹ thuật
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐINH VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2010
SVTH: Lê Thị Hương
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt
tình của các thầy giáo, cô giáo trong tổ Vật lí kĩ thuật khoa Vật Lí và tổ
phương pháp giảng dạy khoa Sinh – KTNN tổ phương pháp giảng dạy, cùng
với sự giúp đỡ đóng góp ý kiến xây dựng của các bạn sinh viên trong suốt quá
SGK..................................................................Sách giáo khoa
GV....................................................................Giáo viên
HS.....................................................................Học sinh
THCS................................................................Trung học cơ sở
THPT................................................................Trung học phổ thông
PPDH................................................................Phương pháp dạy học
NXB..................................................................Nhà xuất bản
TTC...................................................................Tính tích cực
MỤC LỤC
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài..................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 3
4. Nhiệm vụ..................................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài........................................................... 3
6. Cấu trúc của khóa luận................................................................................3
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao tính tích cực
trong hoạt động nhận thức của học sinh
1.1. Cơ sở lý luận (lý thuyết).........................................................................5
1.1.1. Tính tích cực của học sinh................................................................... 5
1.1.2. Tính chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học.........................7
1.1.3. Hoạt động nhận thức của học sinh.......................................................8
1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 9
1.2.1. Thực trạng của việc dạy ở phổ thông.................................................. 10
1.2.2. Thực trạng của việc học ở phổ thông..................................................10
Kết luận chương 1......................................................................................... 10
Chương 2 - Vấn đề dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... 54
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ 21 là thế kỉ của khoa học và công nghệ. Khối lượng tri thức ngày
càng tăng lên như vũ bão. Một quốc gia muốn phát triển rất cần một nguồn
nhân lực có tay nghề, năng động, sáng tạo. Nhận thức được xu thế phát triển
của thời đại, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đầu tư vào giáo dục đào tạo
nhằm phát triển đất nước.
Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm
truyền đạt những kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở
thành lực lượng tiếp nối sự phát triển của xã hội, kế thừa và phát triển văn hóa
của loài người, của dân tộc. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, giáo dục (giáo dục phổ
thông) là quá trình tác động tới kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi của thanh
thiếu niên, hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình con người mà xã
hội đương thời mong muốn.
Đào tạo là dạng hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt và tập luyện
những kinh nghiệm hoạt động trong một lĩnh vực xác định. Giáo dục có nghĩa
rộng hơn là đào tạo. Giáo dục (giáo dục phổ thông) hướng vào mục tiêu dân
trí. Đào tạo phục vụ nhu cầu nhân lực. Việc giáo dục và dào tạo trong nhà
trường được thực hiện thông qua hoạt động cơ bản là dạy học.
Tuy nhiên những năm trước đây dạy học chủ yếu là lấy giáo viên làm
trung tâm thầy đọc, trò ghi, người học trở nên thụ động, ỷ lại vào thầy. Học
sinh nhận thức kiến thức một cách thụ động. Sự nghiệp CNH – HĐH đất
nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên chặng đường đua tranh trí tuệ
đang đòi hỏi sự đổi mới của giáo dục. Chính vì lẽ đó việc chuyển từ dạy học
thụ động sang dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, nhằm phát huy
- Xét tính khả thi và tính phổ biến của vấn đề dạy học nhằm nâng cao
tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh ở phổ thông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Những vấn đề cơ bản liên quan đến vấn đề dạy học nhằm
nâng cao tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh.
- Phạm vi: + Dạy học ở trường phổ thông nói chung và dạy học môn
công nhệ lớp 11 nói riêng. Giáo trình phương pháp dạy học môn công nghệ,
SGK môn công nghệ lớp 11
+ Một số công trình tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
4. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài theo quan điểm hoạt
động và cơ sở khoa học của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh trong dạy học công nghệ của học sinh.
- Nghiên cứu đánh giá để đưa ra nhận xét về thực trạng của việc áp dụng
phương pháp dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt động nhận thức
của học sinh ở phổ thông.
- Đưa ra một số mẫu bài (đoạn) giảng dạy có sử dụng phương pháp dạy
học nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh trong chương tình
môn công nghệ lớp 11.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn
- Các phương pháp phân tích, đánh giá ...
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận chung, phần nội dung gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao tính tích cực
trong hoạt động nhận thức của học sinh
Chương 2: Vấn đề dạy học nhằm nâng cao tính tích cực trong hoạt
động nhận thức của học sinh
tham gia tìm kiếm kiến thức. Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin
sang vai trò tổ chức, hướng dẫn, giup đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến
thức mới.
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần
làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thày và trò ngày càng gắn bó và
hiệu quả hơn. Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học,
SVTH: Lê Thị Hương
11
đồng thời nó góp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao
động mới: Tự chủ, năng động, sáng tạo. Đó là một trong những mục tiêu mà
nhà trường phải hướng tới.
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện
những quan niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp khắc
phục những quan niệm đó.
Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác
với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu: Thể hiện sự nỗ lực của hoạt
động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú,
chú ý, ý chí,...) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao nhất.
Tính tích cực của học sinh thể hiện ở những dấu hiệu sau:
1. Có chú ý học tập hay không?
2. Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không
(thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép,...)?
3. Có hoàn thành những nhiệm vụ được học không?
4. Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?
5. Có hiểu bài học không?
6. Có thể tình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
không phải là một. Có một số trường hợp TTC học tập thể hiện ở hành động
bên ngoài mà không phải là TTC trong tư duy.
Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá TTC nhận thức của học sinh.
1.1.2. Tính chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học
Quan điểm hiện đại về dạy học cho rằng QTDH các tri thức khoa học
được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương tác
và thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học: Giáo viên, học
sinh, tư liệu hoạt động dạy, có thể mô tả tương tác hệ dạy học như sau:
Giáo viên - Chủ thể của hoạt động dạy học
- Giáo viên - Tư liệu hoạt động dạy học:
+ Tổ chức tư liệu, củng cố tư liệu
+ Tạo tình huống cho hoạt động học của học sinh
- Giáo viên - Học sinh: Tác động trực tiếp giáo viên với học sinh
+ Định hướng cho hoạt động của học sinh với tư liệu
+ Định hướng sự tương tác của học sinh với học sinh
+ Định hướng cho sự liên hệ ngược từ học sinh với giáo viên
1.1.3. Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh
Như chúng ta đã biết, kết quả của việc học chỉ thực sự có được khi học
sinh tích cực và chủ động tham gia vào quá trình day - học. Cấu trúc của quá
trình dạy - học cùng với các yếu tố hợp thành cơ bản của nó có thể biểu diễn
theo sơ đồ sau:
Trong quá trình dạy học, khối lượng kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo của
học sinh tăng lên, tầm hiểu biết được mở rộng, quan điểm và niềm tin chính
trị được hình thành.
Khía cạnh đặc biệt quan trọng của sự phát triển là sự biến đổi chung về
chất của bản thân hoạt động nhận thức và tư duy nói chung. Chỉ trong quá
tình học tập tích cực, học sinh mới rèn luyện được kĩ năng kiến thức, sự say
mê học tập và cả sự hoàn thiện những năng lực nhận thức chung và riêng. Tất
được trong một khoảng thời gian ngắn và nó cũng là vấn đề của toàn xã hội
cần được quan tâm giải quyết
1.2.2 Thực trạng việc học ở phổ thông
Đối với việc học, phần lớn học sinh chưa có hứng thú với hầu hết các
môn học nhất là các môn phụ nguyên nhân là do:
- Cách thức quản lý chưa được hợp lý, trong thi cử chỉ chú trọng vào
một số môn cơ bản nên có sự phân chia môn chính môn phụ
- Mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức của một số môn rất nhiều trong khi
thời gian giảng dạy và học tập lại ít từ đó dẫn đến việc học sinh chưa thật sự
tập chung chú ý, nỗ lực học tập và kết quả đạt được trong học tập là không
cao
Từ thực tiễn trên đòi hỏi phải có hiều sự đổi mới trong quá trình giảng
dạy các môn học ở trường phổ thông.
Kết luận chương 1:
Ngoài trang bị kiến thức còn phải chú ý phát triển khả năng sáng tạo của
học sinh, phải bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tìm tòi, chiếm lĩnh chân lí
để học sinh có thể thường xuyên tự học, tự hoàn thiện mình trước yêu cầu của
xã hội.
Để đổi mới phương pháp dạy học thực sự có hiệu quả chúng ta cần phải
nắm vững việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực.
Phương pháp dạy học này đòi hỏi người giáo viên phải biết cách kết hợp
nó với các phương pháp dạy học khác một cách hài hòa. Có như thế mới
mang lại hiệu quả cao.
Yêu cầu đặt ra đối với nhà trường phổ thông nói chung và với giảng dạy
môn công nghệ nói riêng là phải đổi mới phương pháp dạy học.
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH
Thứ ba là nguyên tắc đòi hỏi nhịp độ khẩn trương của công tác học tập.
Như kinh nghiệm đã chứng minh nhấn mạnh đến một thực tế là việc dừng lại
lâu để nghiên cứu cùng một tài liệu sẽ chóng làm mệt trẻ vì tính chất đơn điệu
của nó, nó không cung cấp đủ “thức ăn” cho hoạt động trí tuệ. L.V.Dancốp đã
cho rằng, không nên dừng lại lâu khi làm việc với cùng một tài liệu , khi đã
hiểu một vấn đề rồi thì phải chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác, còn việc
lĩnh hội tài liệu đã học sẽ được đào sâu và mở rộng khi nghiên cứu tài liệu
mới.
Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc hết sức quan trọng, ngyên tắc đòi hỏi
việc chăm lo tích cực đến sự phát triển của tất cả các học sinh kể cả loại giỏi
và loại yếu về học tập. Đây là nguyên tắc cá biệt hóa trong dạy học. Nguyên
tắc này đòi hỏi trong chương trình ở nhà trường phải có “phần cứng” bắt buộc
và “phần mềm” có thể vận dụng linh hoạt cho các đối tượng khác nhau. Các
“giáo trình tự chọn” trong chương trình ở những lớp cuối cấp trung học rất
cần có để học sinh có thể đi sâu vào các lĩnh vực mà họ quan tâm. Cùng với
nội dung môn học các phương pháp dạy học trong quá trình dạy học cần
hướng vào các đối tượng với năng lực khác nhau trong một lớp học.
Cuối cùng nhấn mạnh tới nguyên tắc làm cho học sinh ý thức được bản
thân quá trình học và nắm vững các phương pháp làm việc trí tuệ để hiểu, ghi
nhớ tài liệu học tập, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thực hiện việc tự kiểm tra
sự lĩnh hội kiến thức. Dạy cho các em điều này là một nhiệm vụ cơ bản của
dạy học trong trường phổ thông. Về vấn đề này, L.V.Balagônađêgia đã viết:
“Sự phát triển trí tuệ diễn ra trong một quá trình hoạt động tư duy, hoạt động
này bao giờ cũng vượt ra khỏi khuôn khổ của những cái mà tri giác trực tiếp
cung cấp. Khi nói về sự cần thiết phát triển tư duy của học sinh, ta cần phải
chú ý tới một loại công tác trí tuệ, khác hẳn với sự tái hiện đơn thuần tài liệu
theo trí nhớ. Nếu không có sự “gia công” tự lực tài liệu đã lĩnh hội thì cũng
không có được những điều kiện để phát triển tư duy”.
Chỉ khi nào có tự do sáng kiến, tự nguyện lựa chọn, khi đó mới có
phương pháp tích cực. Tất nhiên, đó phải là tự do có giới hạn trong khuôn khổ
trách nhiệm về an toàn của cá nhân và cuộc sống cộng đồng.
Hoạt động dạy học phải nhằm thỏa mãn nhu cầu của trẻ em, đáp ứng sở
thích, hứng thú của trẻ em. Phương pháp tích cực đoạn tuyệt hẳn với lộ trình
định trước và câu trả lời chuẩn bị sẵn.
2.2.3. Tính tự giáo dục
Tự giáo dục không phải chỉ bao gồm tự quyết định và tự hoạt động mà
còn nhằm phát triển tính tự quản, xúc tiến việc hình thành con người. Giáo
dục có mục đích không phải chỉ là chiếm lĩnh kiến thức mà còn là thức tỉnh
tính nhạy cảm, tính phán đoán chắc chắn, phát triển nhân cách của người học.
2.3. Các yếu tố tác động đến các phương pháp dạy học tích cực
Với phương pháp tích cực, yếu tố chi phối mọi tình huống và hành động
giáo dục chính là người được giáo dục. Tuy nhiên các phương tiện vật chất và
vai trò của người thầy giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng.
2.3.1. Phương tiện vật chất
Phương tiện vật chất luôn luôn là một yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng
hợp lí có thể dẫn đến biến đổi sâu sắc quan hệ giáo dục. Chỉ cần mỗi trẻ em
được sử dụng một cái bàn kiểu bàn thợ ở nhóm học tập là tất cả được biến đổi
thuận lợi cho hoạt động nhận thức của trẻ em. Phương tiện vật chất được sử
dụng đúng liều lượng sẽ thích hợp với hứng thú và mục tiêu học tập. Trật tự
lớp học cũng biến đổi: Từ kiểu trật tự bất động và im lặng của “lớp học –
thính giảng” đến trật tự “thầm thì” và trật tự “vận động” kiểu xưởng thợ. Sách
SVTH: Lê Thị Hương
2
0
21
một số khuynh hướng, một số quy trình bổ sung cần thiêt cho sự thăng bằng
nhân cách”.
2.3.3. Trẻ em và dạy học cá thể
Mục tiêu của dạy học phải xuất phát từ những gì ta hiểu biết về trẻ em
để tiến tới những gì trẻ em phải đạt được. Dù có muốn thống nhất học vấn cần
cung cấp cũng phải quan tâm đến “khả năng của mỗi người vươn tới trình độ
kĩ năng cao trong một lĩnh vực nhất định”. Học sinh không có những tài năng
giống nhau, dạy học cần phải thích ứng với trình độ trí khôn của chúng. Trẻ
em cần phải được hưởng “chế độ trị bệnh trên giường bệnh” tức là đánh giá
trẻ em trên cơ sở năng lực của chính trẻ em.
2.4. Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao tính
tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh.
Các nguyên tắc dạy học nêu trên đòi hỏi các phương pháp dạy học tích
cực trong quá trình dạy học ở trường phổ thông.
Người ta thường đặt ra các câu hỏi là trên thực tế, phương pháp tích cực
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh có làm giảm nhẹ vai trò của thầy
giáo không?
Trong mọi trường hợp, thầy giáo với tầm vóc người lớn và trình độ học
thức cao, phải là người hướng dẫn thường xuyên cho học sinh. Tính chất, vai
trò thầy giáo gần gũi với tính tinh xảo, độc đáo nhân từ của người sáng tạo
cũng như tinh thần trách nhiệm kĩ thuật của người khởi động.
Hơn nữa trong lúc giao trách nhiệm về công việc học tập cho học sinh
để cho công việc đó được hợp lí và có hiệu quả, thầy giáo phải kích thích cho
học sinh hành động với các gợi ý thật kín đáo trong phạm vi có thể, quản lí
phương tiện và cả thời gian cũng như thông tin và đặc biệt là các cách thức
làm việc. Lúc đó thầy giáo không phải là người “thúc giuc” nữa mà trở thành
người “hiện diện”, “người trọng tài thông thạo trong mọi tình huống”; Tùy
2.5. Khó khăn và thuận lợi của phương pháp dạy học tích cực
Thực tế đã chỉ ra rằng: Tổng kết phương pháp “tích cực” không phải
hoàn toàn chỉ có mặt tích cực.
2.5.1. Một vài khó khăn
Rõ ràng phương pháp tích cực không thể bao quát toàn bộ lĩnh vực giáo
dục. Có những kiến thức không thể do học sinh phát hiện được mặc dù đã
cung cấp cho học sinh bất cứ phương tiện nào.
Có nhiều trường hợp, khi trẻ em giải quyết vấn đề, phát hiện một quy
tắc, thực hiện một thí nghiệm,..., các công việc đó chiếm quá nhiều thời gian
đến nỗi không thể nào triển khai công thức đó cho toàn bộ chương trình. Đó
là “mặt không hiện thực” của phương pháp “tích cực”.
Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng một số học sinh chấp hành rất kém
trách nhiệm cá nhân, tất nhiên phải dìu dắt học sinh đi đến tự giáo dục, song
phải thấy rằng áp lực đó phần nào đi ngược lại với tinh thần của phương pháp.
Nói chung phương pháp “tích cực” phù hợp khá tốt với tâm lí trẻ em,
song đặc điểm tâm lí đó thường ảnh hưởng không hay đến những yếu tố giáo
dục khác không kém phần quan trọng: ví dụ phủ nhận vai trò của môi trường
hoặc là do phương pháp tích cực, vai trò trẻ em được tăng trưởng có thể dẫn
đến xóa bỏ quá đáng vai trò của thầy giáo. Dạy học là một quá trình phức tạp
xuất phát từ bản thân trẻ em, song không dừng lại ở đấy. Mục đích của nhà
giáo dục vượt quá tầm nhìn của trẻ em, còn trẻ em thì cần đến hình mẫu. Hơn
nữa, dạy học nhằm tạo ra một hệ thống giá trị, song các giá trị từ phương
pháp “tích cực” có khuynh hướng dẫn học sinh đến sự tự cao tự đại, xem
mình là trung tâm vũ trụ. Học sinh tích cực đôi khi có thể là “kẻ thích phô
trương” và “phô diễn lung tung”.
Mặt khác, mọi hệ thống dạy học dựa vào bản thân học sinh đều mang
tính mơ hồ: Dạy học tiến hóa giữa các mục tiêu tự chủ (được xác định trong
cách xử thế) và các mục tiêu phát triển. Nếu khuyến khích mục tiêu tự chủ