1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 3
CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC............ 10
1.1. Cơ sở lý luận chung về đạo đức môi trƣờng ......................................................... 10
1.1.1. Khái niệm đạo đức ...................................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm môi trƣờng ................................................................................. 11
1.1.3. Đạo đức môi trƣờng .................................................................................... 15
1.1.3.1. Khái niệm .............................................................................................. 15
1.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá đạo đức môi trƣờng ............................................ 15
1.1.4. Khái quát về đặc điểm sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn ......................... 19
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên .............................................................................. 19
1.1.4.2. Vị trí vai trò của sinh viên .................................................................... 20
1.2. Cơ sở thực tiễn của đạo đức môi trƣờng hiện nay............................................. 21
1.2.1. Đối với thế giới ........................................................................................... 21
1.2.2. Đối với Việt Nam ........................................................................................ 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................................ 28
CHƢƠNG 2 Ý THỨC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƢỜNG CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC SÀI GÒN .................................................................................................... 29
2.1. Một vài nét về trƣờng Đại học Sài Gòn ............................................................. 29
2.2. Thực trạng hiểu biết về đạo đức môi trƣờng của sinh viên trƣờng Đại học Sài
Gòn ........................................................................................................................... 29
2.3. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trƣờng .......................................................... 44
2.3.1. Nguyên nhân chủ quan ................................................................................ 44
2.3.2. Nguyên nhân khách quan ............................................................................ 45
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................................ 46
CHƢƠNG 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO Ý THỨC
ĐẠO ĐỨC MÔI TRƢỜNG CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN ..... 47
3.1.1. Tiếp tục xây dựng và bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về môi
trƣờng và bảo vệ môi trƣờng ................................................................................. 48
nhân loại. Từ đó có thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững, nghĩa là thỏa mãn những
nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các
thế hệ tƣơng lai. Từ hàng chục năm nay, ngƣời ta bằng cách này hay cách khác, bằng
con đƣờng này hay con đƣờng khác, đã cố gắng bảo vệ môi trƣờng, song kết quả còn
nhiều hạn chế. Có lẽ, chính thực trạng hiện nay buộc chúng ta phải có nhiều cách làm
mới, nghĩa là chúng ta không thể chỉ dừng lại ở mức độ bảo vệ môi trƣờng về mặt kỹ
thuật mà phải đặt ra vấn đề đạo lí, ý thức trách nhiệm và tình cảm vì môi trƣờng, bởi
vì ý thức và tình cảm vì môi trƣờng sẽ giúp con ngƣời tự giác, tích cực bảo vệ môi
trƣờng bằng mọi cách, coi đó là đạo lí, là lƣơng tâm của mình. Để đạt đƣợc điều này,
chúng ta phải thực hiện hàng loạt các biện pháp phức tạp, trong đó, giáo dục đạo đức
môi trƣờng. Điều quan trọng hơn, giáo dục đạo đức môi trƣờng thúc đẩy mạnh mẽ
những sự thay đổi trong hành vi, giúp con ngƣời biết quyết định, biết tham gia bảo vệ
môi trƣờng một cách tự giác và tích cực.
Giáo dục đạo đức môi trƣờng có thể đƣợc tiến hành thông qua nhiều cấp học
khác nhau song giáo dục đạo đức môi trƣờng ở trƣờng đại học, cao đẳng chiếm vị trí
đặc biệt bởi vì đây là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc.
4
Giáo dục đạo đức môi trƣờng cho sinh viên vừa đạt lợi ích rƣớc mắt vừa có lợi ích lâu
dài và vì vậy mà việc này đƣợc xem là có tác dụng lớn, sâu sắc và lâu bền nhất.
Ở trƣờng Đại học sài Gòn, bên cạnh việc giáo dục chuyên môn, việc giáo dục đạo
đức nói chung và đạo đức môi trƣờng nói riêng, là một nội dung giáo dục quan trọng
của trƣờng. Mặc dù đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể, nhƣng công tác giáo dục
đạo đức môi trƣờng cho sinh viên trƣờng Đại học Sài gòn vẫn còn những hạn chế nhất
định cần khắc phục. Để góp phần khắc phục hạn chế này, nhóm chúng tôi quyết định
chọn đề tài “Nâng cao ý thức đạo đức môi trƣờng trong sinh viên trƣờng Đại học Sài
Gòn”.
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Môi trƣờng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống
con ngƣời, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc, của dân tộc
và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trƣờng sẽ gây tác động đáng kể đối
với các hệ sinh thái. Tuy nhiên, môi trƣờng chúng ta sống đang bị ô nhiễm và ngày
càng trầm trọng, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhƣng chủ yếu nhất là hoạt động
của con ngƣời. Ảnh hƣởng của những tác hại mà con ngƣời gây ra cho môi trƣờng
không chỉ giới hạn trong phạm vi vùng, quốc gia mà còn ảnh hƣởng đến các nƣớc, các
khu vực lân cận.[http://123doc.org/document/29719-e-tai-y-thuc-bao-ve-moi-truongcua-sinh-vien-tai-dai-hoc-can-tho.htm?page=4]
Đề tài này không chỉ nói đến những tác động của con ngƣời đến môi trƣờng tự
nhiên gây ra các hậu quả nghiêm trọng mà qua đó nêu đƣợc ý thức của con ngƣời về
thái độ, nhận thức, hành vi đối với môi trƣờng đặc biệt là đối với sinh viên về môi
trƣờng. Đề tài này nói đƣợc ý thức đối với môi trƣờng của sinh viên còn kém, chƣa có
trách nhiệm với hành vi, thái độ của mình và qua đó cũng nêu đƣợc giải pháp để nâng
cao ý thức của sinh viên, ta cũng thấy đƣợc việc giáo dục ý thức môi trƣờng trong
sinh viên chƣa đƣợc coi trọng đúng mức.
Trong một chuyên đề về môi trƣờng có nhắc đến việc ngƣời Việt đã đối xử nhƣ
thế nào với môi trƣờng thì qua khảo sát học cho thấy một số vấn đề cơ bản nhƣ: “Tình
trạng bẻ cành cây cối, ngắt hoa lá nơi công cộng, thản nhiên dẫm lên thảm cỏ nơi
công viên và phố xá… tuy đã bớt nhiều; song có lẽ do ngƣời ta “sợ phạt” nhiều hơn là
xuất phát từ ý thức bảo vệ môi trƣờng.Tệ xả rác thải bừa bãi, thậm chí cả rác thải bệnh
6
viện; tình trạng mất vệ sinh nơi công cộng; thói xấu “sạch mình, làm bẩn ngƣời”...;
tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề...; nạn mất an toàn vệ sinh thực phẩm,... đều là
những hiện tƣợng thuộc về đạo đức môi trƣờng. Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, chọi
trâu ở Đồ Sơn… đƣợc không ít nhà văn hóa nhiệt thành mô tả nhƣ những giá trị văn
hóa. Đƣơng nhiên, phê phán những tập tục này thật khó, song liệu có nên ca ngợi
những lễ hội này nhƣ một “giá trị tinh thần” ở ngƣời Việt? So với châu Âu, mức độ
hô hấp,…còn rất nhiều vấn đề về môi trƣờng trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ngày nay.
Không chỉ nhƣ thế tất cả cũng đều xuất phát từ lòng tham con ngƣời, đạo đức,
cách cƣ xử của con ngƣời đối với môi trƣờng vì họ nghĩ thiên nhiên là vô hạn, họ làm
chủ thiên nhiên và họ có quyền khai thác, sử dụng hay thậm chí là hủy hoại thiên
nhiên nên việc đối xử với thiên nhiên ngày một tàn nhẫn nhƣ vậy thì chúng ta cần
phải xem xét lại mối quan hệ giữa con ngƣời – tự nhiên – xã hội. Đây cũng thể hiện
đạo đức môi trƣờng của con ngƣời đối với tự nhiên.
3.Mục tiêu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu: đề tài là “Nâng cao ý thức đạo đức môi trƣờng trong sinh
viên trƣờng Đại học Sài Gòn” đƣa ra đƣợc những định hƣớng, giải pháp nhằm nâng
cao ý thức đạo đức môi trƣờng cho sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Ý thức đạo đức môi trƣờng của sinh viên trƣờng Đại học
Sài Gòn.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên của trƣờng Đại học Sài Gòn.
- Phạm vi: + Về không gian: trƣờng Đại học Sài Gòn.
+ Về thời gian: từ năm 2014 trở lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận:
8
Cơ sở lý luận của đề tài là dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học MácLênin, tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về đạo đức.
5.2. . Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập thông tin từ các công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài, lựa chọn những tài liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu để
tìm ra những vấn đề mà trƣớc đây các công trình nghiên cứu chƣa đề cập đến.
n: Số lƣợng quan sát mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra.
Z: Giá trị biến thiên chuẩn ứng với độ tin cậy P= 0.95
ε: Phƣơng sai
+ Công cụ phân tích
Đề tài sử dụng công cụ phân tích dữ liệu bằng phần mềm xử lý SPSS 16.0 thông
qua các bƣớc phân tích nhân tố khám phá và hồi quy bội nhằm khẳng định các yếu tố
cũng nhƣ các giá trị và độ tin cậy của các thang đo sự tác động của toàn cầu hóa đối
với ý thức cộng đồng à tinh thần đoàn kết của sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn và
thực trạng ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết trƣớc tác động của toàn cầu hóa cho
sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn.
6. Cấu trúc đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chƣơng:
+ Chƣơng 1: Lý luận chung về đạo đức và ý thức đạo đức.
+ Chƣơng 2: Ý thức đạo đức môi trƣờng của sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn.
+ Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản nâng cao ý thức đạo đức môi trƣờng
cho sinh viên trƣờng Đại học Sài Gòn.
10
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC
1.1. Cơ sở lý luận chung về đạo đức môi trƣờng
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một thƣớc đo giá trị con ngƣời. Cuộc sống ngày càng tiến bộ, ngày một
đi lên cùng với sự phát triển của khoa học. Khoa học công nghệ đem lại cho con
ngƣời những tiện nghi, ích lợi thì nó cũng đem lại nhiều phiền toái cho con ngƣời. Đã
có ngƣời từng nói: “Một bƣớc tiến của xã hội là một bƣớc lùi của đạo đức”.
Đạo đức là hoạt động của con ngƣời phản ánh các mối quan hệ trong hiện tại bắt
đầu từ bản thân con ngƣời. Trong xã hội, con ngƣời phải ý thức đƣợc các hành động
tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá
cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng đƣợc
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dƣ luận xã
hội.”[14,tr.8]
C.Mác và Ph.Angghen đƣa ra quan niệm đạo đức của mình:
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản
phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con ngƣời. Những quan hệ ngƣời –
ngƣời, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có
tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con ngƣời càng có đạo đức. Đạo đức “đã là
một sản phẩm xã hội, và vẫn là nhƣ vậy chừng nào con ngƣời còn tồn tại” (Mác,
Ăngghen toàn tập T3, CTQG, H 1995, tr43).[http://archive.cnx.org/contents/[email protected]]
Từ điển Tiếng Việt có định nghĩa về đạo đức nhƣ sau: “Đạo đức là những tiêu
chuẩn, nguyên tắc đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con
ngƣời đối với nhau và đối với xã hội.”[25,tr.290]
1.1.2. Khái niệm môi trường
Môi trƣờng là khái niệm gắn liền con ngƣời và sự sống, bao gồm những gì xung
quanh chúng ta và các hiện tƣợng tự nhiên. Môi trƣờng đƣợc phân loại thành: môi
trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội.
12
Môi trƣờng xã hội là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ƣớc định... ở các cấp khác nhau nhƣ: Liên Hợp Quốc,
Hiệp hội các nƣớc, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm,
các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trƣờng xã hội định hƣớng hoạt động của
con ngƣời theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự
phát triển, làm cho cuộc sống của con ngƣời khác với các sinh vật khác.
Khi nhắc đến môi trƣờng thì sẽ nghĩ đến mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên
nên việc định nghĩa về môi trƣờng thì có rất nhiều khái niệm là: “Môi trƣờng là những
Trong Luận án Tiến sĩ Môi trƣờng của Nguyễn Vinh Quy năm 2009 thì định nghĩa
môi trƣờng là: “Tập hợp các yếu tố vật chất tự nhiên, nhân tạo (lý học, hóa học, sinh
học) và các điều kiện kinh tế-xã hội. Các yếu tố này cùng tồn tại trong một không
gian và khoảng thời gian xác định, có quan hệ mật thiết, tƣơng tác lẫn nhau để cùng
tồn tại và phát triển. Tổng hòa của các chiều hƣớng phát triển của từng nhân tố này
quyết định chiều phát triển của cá thể sinh vật của hệ sinh thái và con ngƣời”.
[18,tr.18]
Luật bảo vệ môi trƣờng nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội
ban hành vào ngày 23/06/2014 tại Điều 3 đã định nghĩa môi trƣờng nhƣ sau: “Môi
trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh
hƣởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật.”
[http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid
=16747]
Con ngƣời luôn tồn tại cùng với môi trƣờng. Môi trƣờng xung quanh chúng ta bị
ảnh hƣởng thì con ngƣời cũng bị ảnh hƣởng nhƣ thiên tai, bão, lũ gây thiệt hại về kinh
tế, đời sống và tinh thần của con ngƣời; nguồn nƣớc bị ô nhiễm gây ảnh hƣởng tới đời
sống sinh hoạt ngƣời dân,…Và còn rất nhiều nguyên nhân khác nên môi trƣờng có
các chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, môi trƣờng là không gian để sinh sống của con ngƣời và các loài sinh
vật khác. Hằng ngày, con ngƣời cần có không gian để phục vụ cho hoạt động của
mình nhƣ làm việc, ăn, ở, vui chơi,…Nên cần có một không gian phù hợp cho mỗi
14
con ngƣời. Không gian sống của con ngƣời cũng thay đổi theo sự tiến bộ của xã hội
nhƣng sự tiến bộ này có chiều hƣớng xấu có tác động tiêu cực tới môi trƣờng hiện
nay. Môi trƣờng tự nhiên không chỉ đem lại cho ta nơi ăn chốn ở mà còn là nơi giải
trí, phục vụ đời sống tinh thần cho con ngƣời, đem lại những danh lam thắng cảnh
đẹp, nơi giải tỏa những căng thẳng, mệt mỏi trong cuộc sống của con ngƣời.
lại các tia cực tím có hại cho con ngƣời từ mặt trời chiếu xuống.
1.1.3. Đạo đức môi trường
1.1.3.1. Khái niệm
Từ hai định nghĩa về đạo đức và môi trƣờng thì ta có thể đƣa ra đƣợc định nghĩa
về đạo đức môi trƣờng: Đạo đức môi trƣờng là các quy tắc, chuẩn mực đƣợc xã hội
thừa nhận giúp con ngƣời điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với môi
trƣờng cùng với sự tiến bộ của xã hội. Để hiểu rõ hơn về định nghĩa đạo đức môi
trƣờng thì có nhiều khái niệm về đạo đức môi trƣờng.
Trong Từ điển Bách khoa thƣ định nghĩa về đạo đức môi trƣờng nhƣ sau: “Đạo
đức môi trƣờng là một bộ phận của triết học môi trƣờng nghiên cứu mối quan hệ đạo
đức giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên. Theo quan điểm này thì đạo đức môi
trƣờng liên quan đến một số ngành khoa học nhƣ: luật học, xã hội học, kinh tế học,
sinh thái học, thần học, địa lý.” [Dẫn lại:7, tr.58]
Và trong cuốn sách Đạo đức môi trƣờng ở nƣớc ta lý luận và thực tiễn của GS.TS
Vũ Dũng thì ông đã đƣa ra định nghĩa rõ ràng về đạo đức môi trƣờng: “Đạo đức môi
trƣờng là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhờ đó con ngƣời tự giác điều
chỉnh hành vi của mình với môi trƣờng sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của
con ngƣời, với tiến bộ xã hội và với sự phát triển môi trƣờng một cách bền vững, thể
hiện sự tôn trọng của con ngƣời đối với môi trƣờng.” [7,tr.60]
1.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá đạo đức môi trường
Thứ nhất, đạo đức môi trường là hành vi thực hiện các chuẩn mực đạo đức
Đạo đức môi trƣờng là thực hiện các hành vi của con ngƣời đối với môi trƣờng.
Những hành vi cách ứng xử của con ngƣời đối với môi trƣờng đƣợc thể hiện qua hành
vi cách ứng xử hằng ngày của con ngƣời và qua đó ta mới nhận biết, đánh giá đƣợc
16
các chuẩn mực đạo đức. Những hành vi ứng xử của con ngƣời phải mang tính chuẩn
mực mà các chuẩn mực ở đây đã đƣợc GS.TS Vũ Dũng nêu ra là:
môi trƣờng. Nghĩa vụ bảo vệ môi trƣờng của con ngƣời không phải tự nhiên mà có
mà là cả quá trình lâu dài, trong cách sống, cách giáo dục và có cả bắt buộc khi cần
phải làm những việc bảo vệ môi trƣờng.
Con ngƣời phải ý thức đƣợc việc bảo vệ môi trƣờng đem lại lợi ích cho con ngƣời
và tự nhiên. Môi trƣờng không chỉ đem cho ta nguồn sống, thức ăn để ăn, nƣớc để
uống, không khí để thở mà nó còn cho ta những điều hùng vĩ, cảnh quan phong phú,
những thứ thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời rất to lớn, thiên nhiên là kho tàng quý
giá giúp con ngƣời tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, con ngƣời lại không biết quý trọng
điều đó, loài ngƣời vẫn ra sức tàn phá hay thậm chí là hủy diệt nó mà không biết rằng
thiên nhiên không phải là vô tận đến một lúc nào đó nó sẽ phải cạn kiệt.
Trƣớc tiên ta phải nói đến rừng. Rừng là “lá phổi xanh” của con ngƣời, giúp cung
cấp oxi đem lại bầu không khí trong lành; rừng còn giúp cản lũ mỗi khi đợt lũ về;
rừng còn là nguồn cung cấp lâm sản cho con ngƣời, cho con nguời những bộ bàn ghế
độc đáo, những cuốn tập học sinh trắng đẹp, những ngôi nhà gỗ ấm áp; rừng còn là
nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật, hay có thể nói đó là nhà của chúng; rừng còn
cho ta những dƣợc liệu quý giúp chữa bệnh cho con ngƣời.
Tiếp đó là đất, đất cho các nhà nông trồng trọt, chăn nuôi là nơi lao động sản xuất
của ngƣời làm nông. Không chỉ vậy đất còn chứa những loại khoáng sản quý nhƣ
vàng, bạc, kim cƣơng…làm ra những trang sức tinh xảo.
Thứ ba là sông ngòi,biển cả; là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản; biển còn cho
con ngƣời nguồn thức ăn dồi dào nhiều dinh dƣỡng là các loài thủy, hải sản; nƣớc là
yếu tố không thể thiếu cho việc trồng trọt, giúp nuôi sống cây trồng cũng giống nhƣ
con ngƣời sống không thể thiếu nƣớc uống; con ngƣời con dùng nƣớc để tạo ra nhiệt
điện để cung cấp điện cho ngƣời sử dụng; dƣới biển còn chứa đựng nhiều dầu mỏ
mang giá trị kinh tế cao đem lại lợi ích cho quốc gia.
18
Không chỉ có thế thiên nhiên còn đem lại lợi ích cho con ngƣời về mặt tinh thần
vào thùng rác, hành vi của ngƣời đó chỉ đƣợc coi là tự giác, tự nguyện khi ngƣời đó
không thấy biển báo nhƣng vẫn tự giác bỏ rác vào thùng rác không cần nhắc nhở lúc
này hành vi của ngƣời đó mới đƣợc coi là tự giác, tự nguyện. Việc một ngƣời tự giác
thực hiện hành vi cần có của mình không bị bắt buộc nhƣ vậy mới là tự nguyện.
Đạo đức môi trƣờng không chỉ là một chuẩn mực đơn giản vì nó còn mang tính
bắt buộc vì nó bắt buộc cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện bảo vệ môi trƣờng với
tinh thần trách nhiệm. Các cá nhân và tổ chức phải ý thức đƣợc hành vi của mình là
nên làm hay không nên làm, tốt hay xấu đối với môi trƣờng. Cần phải có trách nhiệm
đối với môi trƣờng sống của mình. Đây không chỉ là việc của một cá nhân mà còn là
trách nhiệm của cả tổ chức, cộng đồng, xã hội. Một ngƣời có hành vi phá hoại môi
trƣờng đã gây ra tác hại xấu đối với tự nhiên, nếu nhƣ cả cộng đồng, xã hội đều có
hành vi phá hoại đối với tự nhiên thì hậu quả sẽ nghiêm trọng rất nhiều. Vì vậy, một
ngƣời có thể không giảm bớt đƣợc hậu quả nó gây ra bao nhiêu nhƣng ít nhất sẽ
không làm cho hậu quả nghiêm trọng hơn.
Ngoài ra, lƣơng tâm còn là một chuẩn mực đạo đức tác động đến con ngƣời và
đƣợc thể hiện qua hành vi của ngƣời đó. Nếu một ngƣời không làm điều xấu, sai trái
với quy định bảo vệ môi trƣờng thì họ sẽ cảm thấy lạc quan, vui vẻ nhƣng còn một
ngƣời làm trái quy định thì sẽ có cảm giác lo lắng, sợ hãi. Khi đánh giá hành vi đạo
đức thì ta cần phải xem xét mức độ hành vi đó nhƣ thế nào.
Tóm lại, đây là các tiêu chí cơ bản đánh giá đạo đức môi trƣờng. Qua các tiêu chí
này ta có thể đánh giá hành vi đạo đức của con ngƣời đối với bảo vệ môi trƣờng hiện
nay.
1.1.4. Khái quát về đặc điểm sinh viên trường Đại học Sài Gòn
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên
Trong đó, sinh viên là một bộ phận của thanh niên và theo nhƣ Camelia (Sinh viên
khoa Tâm lý học Rumani) : “Một sinh viên hiện đại phải là ngƣời ngoài chuyên môn
của mình, phải học để biết cả những chuyên ngành khác, bất kì một chuyên ngành nào
20
21
của thời đại. Cũng chính vì vậy cho nên sinh viên phải không ngừng nâng cao năng
lực chính trị và không ngừng rèn luyện, thử thách để có một tƣ tƣởng chính trị vững
vàng.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đạo đức môi trƣờng hiện nay
1.2.1. Đối với thế giới
Các vấn đề về môi trƣờng đã và đang ngày càng đƣợc quan tâm, thảo luận ở các
diễn đàn trên thế giới kể từ Hội nghị đầu tiên của Liên hợp quốc về Môi trƣờng con
ngƣời diễn ra tại Stốckhôm vào năm 1972. Song, ở mỗi giai đoạn phát triển, các thách
thức về môi trƣờng toàn cầu có sự khác nhau. Vào những năm 1970-1980, các vấn đề
môi trƣờng cần quan tâm là ô nhiễm do khí thải công nghiệp, nhƣng tới giai đoạn
những năm 1990-2010 lại là sự suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và sa mạc
hóa. Đến những năm gần đây, với xu thế toàn cầu hóa, dân số tiếp tục gia tăng và đô
thị hóa nhanh chóng, các vấn đề môi trƣờng toàn cầu ngày càng có những diễn biến
phức tạp, đặt ra những thách thức mới cho tất cả các nƣớc trên thế giới.
a) Các áp lực mà môi trƣờng phải đối mặt
Trong giai đoạn tới, các áp lực đối với môi trƣờng bao gồm gia tăng dân số và đô thị
hóa.
Gia tăng dân số: Từ năm 1970 – 2005 dân số thế giới đã có sự gia tăng chóng mặt
từ 3,7 tỷ ngƣời vào năm 1970 lên đến hơn 7,3 tỷ ngƣời vào năm 2015. Theo số liệu
mới nhất đến năm 2017 thì dân số thế giới hiện nay đã hơn 7,5 tỷ ngƣời, nghĩa là chỉ
trong vòng 2 năm mà dân số đã tăng thêm 200 triệu ngƣời. Các chuyên gia đã dự báo
rằng dân số sẽ tiếp tục tăng lên đến gần 10 tỷ ngƣời vào năm 2050. Và để đáp ứng cho
nhu cầu lƣơng thực và chỗ ở cho số lƣợng dân số khổng lồ đó sẽ phải chuyển đổi đất
tự nhiên sang đất nông nghiệp, nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên sẽ ngày một
tang cùng với việc chặt cây, phá rừng để tìm chỗ ở. Đồng thời sự gia tang của các loại
rác thải do con ngƣời thải ra trong quá trình sinh hoạt cũng khiến cho sự ô nhiễm môi
trƣờng ngày một trầm trọng hơn.Ngoài ra, sử dụng hóa chất trừ sâu tiếp tục gia tăng
23
ngƣỡng an toàn 350 ppm và đƣợc dự kiến sẽ lên đến 560ppt mức chƣa từng có trong
suốt 650.000 năm qua. Biến đổi khí hậu đã tác động đến tất cả các lĩnh vực nhƣ sản
xuất lƣơng thực, hệ thống sản xuất và sinh kế ven biển. Dự báo nếu không có biện
pháp cắt giảm khí thải nhà kính, đến năm 2100, nhiệt độ Trái đất có thể tăng từ 3,74,8oC so với thời kỳ tiền công nghiệp. Mƣa bão, hạn hán, thiên tai sẽ ngày một nặng
nề hơn, ngập lụt diễn ra trên phạm vi rộng, đặc biệt là ở các thành phố ven biển, gây
thiệt hại nặng nề đến cuộc sống con ngƣời và tiếp tục hủy hoại các hệ sinh thái.
Ô nhiễm hóa chất và chất thải tiếp tục đe dọa hệ sinh thái và sức khỏe con người
Ô nhiễm hóa chất, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), và kim
loại nặng tiếp tục là mối đe dọa đến sức khỏe con ngƣời và hệ sinh thái. Trong bản
Báo cáo Triển vọng Hóa chất toàn cầu UNEP 2012 đã chỉ ra rằng, việc gia tăng sản
xuất, sử dụng và thải bỏ các loại hóa chất ở những nƣớc đang phát triển đã tạo ra các
nguy cơ đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Ô nhiễm hóa chất đã hủy hoại các hệ
sinh thái, sự đa dạng sinh học, nguồn nƣớc, hệ thống sản xuất nông nghiệp và đặc biệt
là ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời. Một số chất POP có thể tồn tại trong cơ thể đến
hơn 50 năm, hủy hoại hệ thống thần kinh, nội tiết, sinh sản của con ngƣời. Ngoài ra,
khoảng 50 triệu tấn chất thải điện tử hàng năm là nguồn phát thải lớn POP và các kim
loại nặng độc hại. Điều cần đặc biệt lƣu ý là nguy cơ vận chuyển các chất thải điện tử,
chất thải hóa chất xuyên biên giới dƣới dạng phế liệu. Nếu không có các biện pháp
kiểm soát hữu hiệu, một số nƣớc đang phát triển có nguy cơ trở thành “bãi rác” do
nạn vận chuyển trái phép chất thải.
Tiếp tục mất rừng và suy thoái đất
Từ năm 2000 đến năm 2010, khoảng 50.000 km2 rừng đã tiếp tục bị mất. Những
dữ liệu mới nhất về rừng trên thế giới do Tổ chức Lƣơng Nông Liên hợp quốc (FAO)
cho thấy hiện nay rừng chỉ còn bao phủ khoảng 31% diện tích toàn cầu và cứ mỗi
năm thì thế giới mất từ 120.000 – 150.000 km2 diện tích rừng. Điều đó khiến cho
loài trong số đó hiện đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
25
Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nƣớc ta cũng là mối nguy lớn
cho môi trƣờng sinh thái, nhƣ: ốc bƣơu vàng, cây mai dƣơng, bọ cánh cứng hại dừa,
đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã đƣợc quốc tế cảnh báo là một
trong những loài xâm hại nguy hiểm.
Sự biến đổi khí hậu diễn ra ngày một nghiêm trọng
Công ty ARIA Technologies (Pháp) là công ty chuyên cung cấp giải pháp phần
mềm tính toán, mô phỏng ô nhiễm môi trƣờng không khí và hỗ trợ dự báo khí tƣợng
cho biết: Nếu không có biện pháp nào thì nồng độ khí thải và bụi mỗi năm tại Hà Nội
có thể đạt 200mg/m3 vào năm 2020, gấp 10 lần mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế
giới. Nếu tình huống này xảy ra thì số lƣợng ngƣời nhiễm bệnh do ô nhiễm không khí
sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản cấp và mạn tính,
hen suyễn, vấn đề tim mạch sẽ tăng gấp đôi, đặc biệt là với trẻ nhỏ và ngƣời già.
Nghiên cứu dữ liệu khí tƣợng chi tiết của Trung tâm Khí tƣợng Thủy văn Quốc gia
cho thấy trong vòng 30 năm qua, ở Việt nam nhiệt độ có xu huớng gia tăng đáng kể,
các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè
với biên độ lớn hơn. Hiện tƣợng El Nino và La Nina ảnh hƣởng đến Việt Nam mạnh
mẽ hơn trong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều dị thƣờng về thời tiết nhƣ nhiệt độ cực
đại, nắng nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng khiến cho hàng loạt cây
trồng chết gây thiệtt hại nghiêm trọng về nông nghiệp cho nƣớc ta.
Sự thu hẹp rừng
Trƣớc 1945, nƣớc ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả
nƣớc, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn
khoảng 6,5 triệu ha (tƣơng đƣơng 19,7%). Độ che phủ của rừng nƣớc ta đã giảm sút
đến mức báo động. Chất lƣợng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp.
Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh.