MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 4
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 4
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................. 5
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................ 5
4. Giả thuyết khoa học ................................................................................................ 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................. 5
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài ...................................................................................... 6
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................... 6
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết ............................................................. 6
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn ................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM
HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG VỀ SỐ LƢỢNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI .. 8
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu
tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi. .......................................................... 8
1.1.1. Trên thế giới .............................................................................................. 8
1.1.2. Ở Việt Nam ............................................................................................. 10
1.2. Cơ sở lý luận xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số
lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi. ............................................................................ 11
1.2.1. Khái niệm về hoạt động vui chơi ............................................................ 11
1.2.2. Khái niệm về trò chơi học tập ................................................................. 15
1.2.3 Khái niệm biểu tƣợng, số lƣợng, biểu tƣợng số lƣợng.............................17
1.2.4 Vai trò của việc hình thành biểu tƣợng số lƣợng đối với trẻ mẫu giáo nói
chung và trẻ 4 - 5 tuổi nói riêng.........................................................................18
1.2.5. Nội dung hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
trong trƣờng mầm non ....................................................................................... 19
1
1.2.6. Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ nói chung và hình
3.1.4. Khái quát một số trò chơi học tập đã xây dựng. .................................... 51
3.2. Tổ chức thử nghiệm ........................................................................................... 53
3.2.1. Mục đích thử nghiệm .............................................................................. 53
3.2.2. Nội dung thử nghiệm .............................................................................. 54
3.2.3. Khái quát về khách thể và địa bàn nghiên cứu thử nghiệm .................... 54
3.2.4. Thời gian nghiên cứu thử nghiệm ........................................................... 54
3.2.5. Tiến trình thử nghiệm.............................................................................. 54
3.2.6. Cách đánh giá thử nghiệm....................................................................... 55
3.2.7. Kết quả khảo sát ...................................................................................... 56
Tiểu kết chƣơng 3.............................................................................................................70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 73
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, những
kiến thức, kỹ năng mà trẻ tiếp thu đƣợc sẽ là nền tảng quan trọng chuẩn bị cho trẻ vào
trƣờng phổ thông. Trẻ đƣợc chú trọng phát triển toàn diện 5 lĩnh vực: nhận thức, ngôn
ngữ, thể chất, tình cảm- kĩ năng xã hội và thẩm mỹ. Tuổi mẫu giáo là giai đoạn diễn ra
sự phát triển nhanh về nhiều lĩnh vực.Việc đổi mới trong giáo dục mầm non hiện nay
nói chung và giáo dục trí tuệ nói riêng đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của
trẻ. Biểu tƣợng Toán là một trong những nội dung quan trọng đòi hỏi giáo viên mầm
non phải cung cấp cho trẻ. Tuy nhiên với bản chất khô khan của những nội dung Toán
thì làm thế nào để trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên không bị gò ép, phù hợp với
sự nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này? “Học mà chơi – chơi mà
Việc cho trẻ làm quen với biểu tƣợng về số lƣợng thông qua các trò chơi học tập
còn hạn chế có thể do một số nguyên nhân sau:
- Các trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ tƣơng đối
nhiều song chƣa có hệ thống rõ ràng.
- Giáo viên chƣa biết xây dựng và tổ chức trò chơi học tập nhằm hình thành biểu
tƣợng về số lƣợng cho trẻ.
Nếu xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi thì sẽ bổ sung vốn trò chơi có chọn lọc, đa dạng và giáo viên sẽ dễ
dàng sử dụng, nâng cao kiến thức cho trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu
tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
5.2. Điều tra việc sử dụng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số
lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi ở một số trƣờng mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh
5
5.3. Xây dựng và thử nghiệm trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số
lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi.
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu trên 60 trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ( 30 trẻ đối chứng, 30 trẻ thực nghiệm)
Nghiên cứu trên 70 giáo viên đang trực tiếp dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở một số
trƣờng mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Thu thập các loại sách báo, tạp chí, truy cập các thông tin trên internet, tài liệu có
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phƣơng pháp quan sát
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu
tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi.
Mục đích chung của GDMN là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành
cho trẻ những cơ sở của nhân cách con ngƣời, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện
về mọi mặt. Vì thế, cùng với các bộ môn khác của bậc học Mầm non thì việc hình thành
biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ cũng đƣợc đƣa vào chƣơng trình để giáo dục trẻ phát
triển toàn diện, đặc biệt là phát triển nhận thức.
Hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi là một trong
những nội dung quan trọng cho trẻ mầm non, nên đƣợc rất nhiều tác giả dày công
nghiên cứu.
1.1.1. Trên thế giới
Theo tác giả Ph.Phroebel (1789 - 1852) quan điểm chơi là một hoạt động điển hình
nhất của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và trò chơi có một ý nghĩa giáo dục rất to lớn, ông đã
sáng tác nhiều loại trò chơi trẻ em (trò chơi vận động và trò chơi học tập). Ông đặc biệt
quan tâm đến các trò chơi học tập và đã sử dụng chúng vào mục đích dạy học. Song ông
là ngƣời theo quan điểm duy tâm nên ông coi chơi chỉ là phƣơng tiện phát triển cái vốn
có sẵn của đứa trẻ. Chính vì thế, trong hệ thống trò chơi của ông có những trò chơi học
tập rất khô khan, khó hiểu và xa lạ với trẻ. Ông gạt bỏ yếu tố sáng tạo của trẻ trong khi
chơi, trẻ chơi chỉ theo sự hƣớng dẫn của ngƣời lớn.
Maria Montessori (1869 - 1952) - nhà giáo dục ngƣời Ý đã hình thành những tƣ
tƣởng của mình về giáo dục trẻ mầm non. Phƣơng pháp của Montessori là khuyến khích
trẻ học về thế giới xung quanh của mình qua khám phá, qua vận động tự do và thao tác
bằng tay, tiếp xúc với vật. Bà đã thiết kế một số đồ dùng trò chơi và các hoạt động hỗ
trợ quá trình chơi. Bà gọi đồ chơi này là “đồ dùng dạy học - phƣơng tiện dạy học” và tập
trung của việc học đếm, đọc và viết cho trẻ. Trẻ đƣợc khuyến khích làm việc một mình
8
vì Montessori cho rằng trẻ học tốt nhất khi tập trung, im lặng và hoàn toàn cuốn hút vào
9
chất của chúng, về thiên nhiên và về lao động của con ngƣời và góp phần phát triển
ngôn ngữ cho trẻ”. [6, tr. 23-35]
Các công trình nghiên cứu trò chơi học tập vừa điểm trên cho thấy trò chơi học tập
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lí và nhận thức cho trẻ. Các nhà sƣ
phạm Xô Viết khẳng định trò chơi học tập là phƣơng tiện phát triển trí tuệ cho trẻ. Song
những hệ thống trò chơi học tập đƣợc đƣa ra trong các nghiên cứu thƣờng đƣợc sử dụng
nhƣ một trong những biện pháp dạy để giải quyết nhiệm vụ , củng cố, hệ thống hóa kiến
thức.
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu trên tuy đề cập đến phƣơng diện phát triển của
chức năng tâm lí trẻ, nhƣng mới chỉ chú ý đến vai trò của trò chơi học tập, chứ chƣa đi
sâu vào để xây dựng một hệ thống nhằm hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ nói
chung và trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi nói riêng.
1.1.2. Ở Việt Nam
Với mục đích cho trò chơi học tập thực sự trở thành những phƣơng tiện dạy học
quan trọng để hình thành và phát triển các năng lực trí tuệ, nhận thức của trẻ, góp phần
vào việc phát triển toàn diện cho trẻ một số tác giả nhƣ Phan Quỳnh Hoa, Trƣơng Kim
Oanh, Lê Bích Ngọc, Đặng Thu Quỳnh, Phan Kim Liên… đã để tâm nghiên cứu và biên
soạn một số trò chơi và trò chơi học tập. Những hệ thống trò chơi học tập đƣợc các tác
giả đề cập đến chủ yếu là củng cố kiến thức, làm quen môi trƣờng xung quanh, rèn luyện
giác quan, chú ý, ghi nhớ , phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trong đó cũng có những trò chơi
hình thành rèn luyện và phát triển những kiến thức sơ đẳng về Toán, đặc biệt là hệ thống
trò chơi hình thành biểu tƣợng về số lƣợng.
Theo Đỗ Thị Minh Liên, trong nghiên cứu “Sử dụng trò chơi học tập nhằm hình
thành biểu tƣợng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non” (2007) đã chỉ rõ một trong số các
phƣơng pháp giúp trẻ học và tiếp thu biểu tƣợng về số lƣợng tốt và dễ dàng nhất là
phƣơng pháp sử dụng trò chơi, trẻ và cô thoải mái cùng nhau chơi và cũng là lúc cùng
nhau giải quyết vấn đề, bên cạnh đó tâm lí mầm non cũng là cơ sở ảnh hƣởng đến quá
-
Chơi là một hoạt động tự nguyện, ham thích của ngƣời chơi trong một hoạt động
hoặc một trò chơi.
-
Chơi là hoạt động vô tƣ, ngƣời chơi không chủ tâm nhằm vào một lợi ích thiết thực
nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con ngƣời với tự nhiên, với xã hội đƣợc
mô phỏng lại, nó mang đến cho ngƣời chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái,
dễ chịu.
-
Loại hoạt động nào có cấu trúc trong đó động cơ nằm trong quá trình hoạt động, đó
chính là hoạt động chơi.
11
Thật khó có thể đƣa ra một khái niệm chung về hoạt động chơi vì tính đa dạng cả về
nội dung và hình thức của nó trong phạm vi hoạt động rộng lớn của con ngƣời.
Qua một số công trình nghiên cứu tiếp cận khái niệm “chơi” của một số tác giả nƣớc
ngoài nhƣ A.N. Leônchiep, J. Piaget, Đ.N. Kavkadge, P.G. Xamarukôva, Kubin,
Catherin Garvery … và một số tác giả trong nƣớc nhƣ Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn
Thị Thanh Hà, Trần Thị Ngọc Châm … chúng tôi hiểu hoạt động chơi nhƣ sau:
-
Chơi là hoạt động tự do, tích cực của trẻ nhỏ. Trong khi chơi trẻ bộc lộ khả năng tự
lực và trí tƣởng tƣợng phong phú. Động cơ của hoạt động chơi luôn nằm ở quá trình
thực hiện hành động chứ không nằm ở kết quả của hoạt động.
Tính ký hiệu tƣợng trƣng trong trò chơi của trẻ đƣợc biểu hiện ở khả năng sử dụng
các vật, cử chỉ, điệu bộ, lời nói nhƣ các ký hiệu mang tính chất tƣợng trƣng để thay thế
cho những đối tƣợng khác (bao gồm cả sự vật và con ngƣời) hoặc cho một ý tƣởng, một
hoàn cảnh không tồn tại thực trong một trò chơi cụ thể nào đấy. Nhƣ vậy, từ khái niệm
này cho thấy hành vi ký hiệu tƣợng trƣng trong trò chơi của trẻ bao gồm các thành tố
sau:
+ Sử dụng vật này nhƣ một ký hiệu để biểu trƣng cho vật khác (make – believe
things).
+ Hành động biểu trƣng với vật thay thế (pretend action).
+ Nhập vai ngƣời khác (hay giả bộ là ngƣời khác) (pretend role hay role
enactment).
+ Tình huống chơi giả bộ hay tình huống chơi tƣởng tƣợng (pretend situation)
Với đặc trƣng này, khiến cho các trò chơi của trẻ mang tính linh hoạt rất rõ, thực sự
là cơ hội để hình thành, phát triển ở trẻ nhận thức và óc tƣởng tƣợng, sáng tạo
* Tính tích cực, giàu cảm xúc
Tính tích cực là sự bộc lộ các nhu cầu của cơ thể đang lớn: nhu cầu nhận thức, nhu
cầu vận động, nhu cầu giao tiếp với mọi ngƣời …Trẻ chơi là để thỏa mãn nhu cầu muốn
thể hiện mình; thể hiện về hiểu biết, về khả năng hay cảm xúc của mình về sự vật, hiện
tƣợng xung quanh mình.
Luôn sôi nổi, hào hứng, tích cực, “bận rộn” là những biểu hiện thƣờng xuyên của trẻ
khi chơi. Việc chơi luôn cuốn hút trẻ, trẻ chơi quên thời gian và không biết mệt.
13
Khi chơi trẻ đƣợc trải nghiệm, đƣợc thể hiện cảm xúc một cách chân thực, tự nhiên
mà không gò ép giả tạo, nhất là khi trẻ chơi các trò chơi đóng vai. Tính cảm xúc đƣợc
thể hiện qua cử chỉ, nét mặt, ngữ điệu, giọng nói khi trẻ nhập một vai nào đó. Mặc dù
đang chơi giả bộ đóng vai nhƣng các cảm xúc trẻ thể hiện rất là chân thực, chẳng hạn
khi trẻ nhập vai “mẹ” đang chăm sóc “em bé” …
Tích cực, chân thực và mang đậm màu sắc cảm xúc là biểu hiện thƣờng xuyên của
Trò chơi dân gian
Cách 2: Dựa theo mức độ tự lực, sáng tạo của trẻ khi chơi, trò chơi được phân loại
thành 2 nhóm:
Nhóm trò chơi sáng tạo gồm có trò chơi giả bộ có cốt chuyện, trò chơi xây dựng.
Nhóm trò chơi có luật gồm trò chơi vận động, trò chơi học tập.
Cách 3: Dựa theo lĩnh vực phát triển của trẻ, trò chơi có thể chia thành các loại:
Trò chơi phát triển thể chất.
Trò chơi phát triển nhận thức.
Trò chơi phát triển ngôn ngữ.
Trò chơi phát triển tình cảm – kỹ năng xã hội.
Trò chơi phát triển thẩm mỹ.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xây dựng trò chơi học tập nhằm
hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ 4 – 5 tuổi dựa theo lĩnh vực phát triển nhận
thức.
1.2.2. Khái niệm về trò chơi học tập
Trong tâm lý học đại cƣơng và giáo dục học trẻ em đƣa ra khái niệm trò chơi học
tập nhƣ sau: trò chơi học tập là “Trò chơi có luật và những nội dung cho trƣớc, là trò
chơi của sự nhận thức, hƣớng đến sự mở rộng, chính xác hoá, hệ thống hóa các biểu
15
tƣợng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ
trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi”.
Xét ở bình diện hệ thống các phƣơng pháp dạy học thì Trò chơi học tập (TCHT)
là một phƣơng pháp dạy học.
Bản chất của phƣơng pháp sử dụng TCHT là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt
động cho trẻ. Dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên,trẻ đƣợc hoạt động bằng cách tự chơi trò
chơi, trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi và cách
chơi thể hiện nội dung và phƣơng pháp học, đặc biệt là phƣơng pháp học có sự hợp tác
đƣa ra một quan điểm về trò chơi học tập nhƣ sau: Trò chơi học tập là một loại trò chơi
có luật, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, được nhà giáo dục lựa chọn, sáng tạo
ra một cách có định hướng, có mục đích nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra. Từ đó,
nó có tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến thức và phát triển các quá trình nhận
thức, cảm giác, tri giác,… cho trẻ.
Bản chất của trò chơi học tập là bắt buộc trẻ phải giải quyết nhiệm vụ học tập
dƣới hình thức chơi nhẹ nhàng, thoải mái. Hay nói cách khác, ở đây trẻ tiếp nhận nhiệm
vụ trí tuệ nhƣ một nhiệm vụ chơi vui vẻ, tự do, tự nguyện. [1, tr. 187]
1.2.3. Khái niệm biểu tƣợng, số lƣợng, biểu tƣợng số lƣợng.
*Khái niệm biểu tƣợng
- Theo Bách khoa toàn thƣ Wikipedia . Biểu tƣợng hay ký hiệu là một hình ảnh,
ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho một ý tƣởng, thực thể vật chất hoặc một quá
trình. Mục đích của một biểu tƣợng là để truyền thông điệp ý nghĩa một cách nhanh
chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản.
* Khái niệm số lƣợng
- Số lƣợng là các con số biểu thị sự có nhiều hay có ít
* Khái niệm biểu tƣợng số lƣợng
17
Từ khái niệm biểu tƣợng và khái niệm số lƣợng chúng tôi cho rằng: “Biểu tƣợng
số lƣợng là những hình ảnh về đặc trƣng số lƣợng phần tử của các tập hợp còn lƣu lại và
đƣợc tái hiện trong óc của ta khi các tập hợp ấy không còn đực ta tri giác trực tiếp,
không còn đang tác động vào các giác quan của ta nhƣ trƣớc”.
Biểu tƣợng số lƣợng bao gồm: Biểu tƣợng số lƣợng về số lƣợng (đếm số lƣợng
đối tƣợng trong một tập hợp), biểu tƣợng về mối quan hệ số lƣợng (so sánh số lƣợng 2
nhóm đối tƣợng xem chúng hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị).
*Khái niệm hình thành biểu tƣợng số lƣợng.
Biểu tƣợng số lƣợng của con ngƣời đƣợc hình thành trong quá trình phát triển của
đầu và các mối liên hệ, quan hệ toán học mà còn góp phần hình thành ở trẻ những kĩ
năng nhận biết, nhƣ: kĩ năng só sánh số lƣợng, so sánh kích thƣớc, kĩ năng đếm, kĩ năng
đo lƣờng, kĩ năng thực hiện các phép tính đơn giản…Quan trọng hơn là việc dạy trẻ tiến
hành sao cho nó đem lại những biến đổi về chất trong các hình thức nhận biết tích cực
của đứa trẻ.
Thông qua quá trình dạy học, trẻ sẽ nắm bắt đƣợc những kiến thức sơ đẳng về tập
hợp, con số, phép đếm, về kích thƣớc và hình dạng của các vật, trẻ biết định hƣớng
trong không gian, đồng thời phát triển ở trẻ khả năng ƣớc lƣợng kích thƣớc các vật…
Tất cả diều đó có tác dụng phát triển trí tuệ cho trẻ.
1.2.5. Nội dung hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi trong
trƣờng mầm non
Nội dung hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi gồm có
[1, tr. 129 - 130],[2] :
+ Phát triển và mở rộng biểu tƣợng về tập hợp và thành phần tập hợp cho trẻ, dạy
trẻ tìm và tạo thành nhóm đối tƣợng có đặc điểm hay dấu hiệu nào đó nhƣ : màu sắc,
hình dạng, kích thƣớc, dạy trẻ phân loại theo 1 – 2 đối tƣợng cho trƣớc.
+ Củng cố và phát triển kĩ năng so sánh số lƣợng các nhóm đối tƣợng bằng cách
xếp tƣơng ứng 1 : 1 để so sánh số lƣợng các nhóm đối tƣợng mà không cần đến phép
đếm. Trên cơ sở đó dạy trẻ nhận biết và phản ánh bằng lời nói mối quan hệ số lƣợng
19
giữa hai nhóm đối tƣợng nhƣ : bằng nhau – không bằng nhau, nhiều hơn – ít hơn về số
lƣợng.
+Dạy trẻ đếm và nhận biết số lƣợng các nhóm vật, các âm thanh, các chuyển
động bằng các giác quan khác nhau nhƣ : thị giác, thính giác, xúc giác…nhằm phân biệt,
so sánh và xác định số lƣợng của các tập hợp có số phần tử trong phạm vi 10.
+ Dạy trẻ tìm và tạo các nhóm vật có số lƣợng nhất định trong môi trƣờng xung
quanh theo mẫu và theo con số cho trƣớc.
Trẻ nhận đƣợc sự thỏa mãn ngày càng lớn hơn do sự nỗ lực về trí tuệ mang lại. Tính tích
cực nhận thức của trẻ đƣợc thể hiện ở sự mong muốn hiểu biết cái mới do chính trò chơi
tạo ra, do ngƣời dẫn dắt và chính đứa trẻ độc lập thực hiện nhiệm vụ nhận thức dƣới
hình thức chơi vui vẻ, thú vị. Ngay trong trò chơi học tập đã chứa đựng những điều kiện
cần thiết để phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, hình thành biểu tƣợng về số lƣợng đặc biệt
là trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi chuẩn bị vào phổ thông.
Nhƣ vậy, trò chơi học tập có ý nghĩa giáo dục và phát triển to lớn đối với trẻ em
lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo nhỡ. Nó tác động trực tiếp đến việc củng cố
kiến thức và phát triển các quá trình nhận thức nhƣ cảm giác, tri giác, tƣ duy, tƣởng
tƣợng của trẻ em. [10, tr. 49 - 50], [10, tr. 191 - 193]
Chính những vai trò to lớn như trên mà trò chơi học tập được sử dụng như một
phương tiện dạy học có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo.
1.2.7. Tiêu chí xây dựng trò chơi học tập nhằm hình thành biểu tƣợng về số lƣợng
cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
Từ cơ sở lý luận đã đề cập, chúng tôi xem xét những yêu cầu sau:
-
Mục đích cơ bản của trò chơi cần hƣớng tới việc phát triển nhận thức đặc biệt là hình
thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ 4 – 5 tuổi.
-
Tính chất của hoạt động chơi cần đƣợc bảo đảm trong trò chơi. Trẻ cần đƣợc “học”
trong hoạt động chơi thực sự. Có nghĩa là trò chơi phải làm cho trẻ thấy thoải mái,
thú vị để tự nguyện tham gia vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhằm phát triển nhận
thức đặc biệt là hình thành biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ 4 – 5 tuổi.
21
chơi theo cách riêng của trẻ, gắn với biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ chơi.
22
- Nội dung trò chơi chứa đựng biểu tƣợng về số lƣợng, các hành động chơi thú vị, có
chú ý đến các đặc điểm của vui chơi nhƣ: tính tự do tự nguyện, tính tích cực, giàu cảm
xúc và tính linh hoạt sáng tạo.
Tiêu chí 4: Có nhiều cơ hội cho sự sáng tạo, học hỏi.
- Từ phía GV: có cơ hội cải biên trò chơi, mở rộng các nhiệm vụ sáng tạo, kết hợp các
nhiệm vụ về biểu tƣợng số lƣợng cho trẻ chơi.
- Về phía trẻ: Có cơ hội thay đổi các hành động chơi thú vị với bản thân, đƣợc tự lựa
chọn các vật liệu cần thiết cho trò chơi, thay đổi các nội dung tạo hình và thể hiện theo
ý thích, song song điều đó trẻ học đƣợc biểu tƣợng số lƣợng qua các trò chơi nhẹ nhàng,
thoải mái, không gò bó hay ép buộc.
Tiểu kết chƣơng 1
Chơi là một trong những hoạt động có mặt trong đời sống con ngƣời ở mọi lứa
tuổi, là hoạt động chỉ nhằm cho vui thôi, không có mục đích gì khác, là một hoạt động
giải trí hoặc nghỉ ngơi, là một hoạt động tự nguyện, ham thích của ngƣời chơi trong một
hoạt động hoặc một trò chơi. Và chơi là hoạt động vô tƣ, ngƣời chơi không nhằm vào
một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con ngƣời với tự nhiên,
với xã hội đƣợc mô phỏng lại, nó mang đến cho ngƣời chơi một trạng thái tinh thần vui
vẻ, thoải mái, dễ chịu.
TCHT là một loại trò chơi có luật, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, đƣợc
nhà giáo dục lựa chọn, sáng tạo ra một cách có định hƣớng, có mục đích nhằm thực hiện
mục tiêu giáo dục đề ra. Từ đó, nó có tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến thức và
phát triển các quá trình nhận thức, cảm giác, tri giác,… cho trẻ.
TCHT không chỉ là nguồn sống nuôi dƣỡng trẻ cả về thể chất lẫn tâm hồn mà
còn là nguồn thông tin vô tận, là điều kiện thuận lợi để phát triển khả năng độc lập, óc
sáng tạo của trẻ. Song những trò chơi rất hữu dụng này còn khá lẻ tẻ, rời rạc, xa lạ, thiếu
hệ thống. Vì thế việc nghiên cứu để bổ sung và xây dựng hệ thống trò chơi học tập nhằm
tuổi tại trƣờng mầm non Tuổi Thơ Quận 8.
24
2.1.4. Thời gian nghiên cứu
-
Từ 1/12/2016 đến 20/02/2017 tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của giáo
viên tại các trƣờng MN trong phạm vi nghiên cứu.
-
Từ 20/02/2017 đến 30/03/2017 tiến hành khảo sát thực trạng mức độ nhận thức
biểu tƣợng về số lƣợng của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua trò chơi học tập.
2.1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng một số phƣơng pháo nghiên cứu để thực nghiệm trên giáo viên
và trẻ nhƣ sau :
a) Phương pháp quan sát
Mục đích
Nhằm đánh giá mức độ nhận thức về các biểu tƣợng về số lƣợng cho trẻ 4 - 5 tuổi
qua việc tham gia các trò chơi học tập đƣợc xây dựng cụ thể.
Nội dung
Quan sát những biểu hiện về khả năng nhận thức về các biểu tƣợng về số lƣợng
cho trẻ 4 - 5 tuổi trong quá trình thực hiện các bài tập khảo sát. Cụ thể:
- Quan sát khả năng thực hiện hành động đếm, tách, gộp các đối tƣợng riêng lẻ
vào cùng một nhóm theo một hoặc hai dấu hiệu chung do trẻ tự đề xuất hoặc do GV yêu
cầu. Các hành động của trẻ có thể bỏ vào, lấy ra, nối, kết hoặc vẽ thêm tạo một nhóm,
loại của những đối tƣợng có số lƣợng theo yêu cầu.