SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8 - Pdf 47

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản sẽ trở
thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
là nguồn lực con người Việt Nam, được phát triển về số lượng và chất lượng trên
cơ sỡ mặt bằng dân trí được nâng cao. Để thực hiện yêu cầu trên của thực tiễn
phát triển kinh tế - xã hội, ngành GD bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung
chương trình,... thì việc đẩy mạnh đổi mới PPDH trong hoạt động dạy học là hết
sức quan trọng.
Chiến lược phát triển GD 2001 – 2020 ( ban hành kèm theo Quyết định số
201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ Tướng Chính Phủ), ở
mục 5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp GD. Chuyển từ việc
truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ
động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự
học, tự thu thập thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp,
phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của
HS, trong quá trình học tập ”
Đối với môn Địa lý cũng giống như các môn học khác việc đổi mới
chương trình và SGK đã đòi hỏi PPDH cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên dạy học môn Địa Lý đã rất linh hoạt
trong việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại kết hợp với các phương
pháp truyền thống cho phù hợp với từng bài. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều
giáo viên chỉ máy móc áp dụng các phương pháp truyền thống như: phương
pháp giảng giải, phương pháp thuyết trình, phương pháp bản đồ. Vì vậy, trong
quá trình giảng dạy Địa lí vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: học sinh nắm kiến thức
không vững, dễ quên, “học vẹt”, thể hiện qua khâu kiểm tra, học sinh chỉ sao

1


2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
2


- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học của giáo viên và học
sinh trên lớp.
- Phương pháp điều tra: Điều tra giáo viên và học sinh đọc tài liệu có liên
quan.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Được rút ra từ khả năng dạy và học
của hoc sinh và giáo viên. Tham khảo ý kiến đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành thực nghiệm trong qua
trình giảng dạy ở trường để kiểm tra tính khả thi của sáng kiến.

PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
1. 1. Đối với việc giảng dạy của giáo viên
Trong quá trình giảng dạy môn Địa lý việc sử dụng các phương pháp dạy
học phù hợp là rất cần thiết nhằm giúp HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tùy thuộc
vào mỗi nội dung bài học mà GV có thể đưa ra nhiều phương pháp khác nhau kể
cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, trong đó phương pháp
dùng hình thức lập bảng là rất cần thiết nhằm tạo cho học sinh tính tự giác, tích
cực trong học tập.
Ví dụ: Khi dạy bài 2: Khí hậu Châu Á. GV có thể sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau như phương pháp đàm thoại, gợi mỡ để giúp HS tìm ra đặc
điểm chung về khí hậu Châu Á nhưng đến mục 2, GV có thể sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm bằng hình thức lập bảng:
Đặc điểm

Phân mùa

loạt các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra các
dấu hiệu cơ bản trong các đối tượng và hiện tượng tự nhiên.
Các khái niệm, sự vật hiện tượng chỉ sống trong trí nhớ của học sinh nếu
chúng được trình bày không phải một cách cô lập, đơn lẻ mà phải có sự liên kết
logic với những vấn đề đã được học trước đó, hình thức lập bảng là sự tổng hợp
đặc điểm, tính chất và mối quan hệ các sự vật hiện tượng nên học sinh sẽ nắm
bắt được bản chất của sự vật hiện tượng thông qua sự so sánh giữa sự vật này
với sự vật khác.
Việc sử dụng phương pháp lập bảng trong dạy và học địa lý còn giúp cho
học sinh ghi nhớ sự kiện một cách tự nhiên, không gượng ép, máy móc. Trái lại
còn phát triển tư duy của học sinh, giúp học sinh học bài dễ nhớ, dễ thuộc, có sự
liên hệ bổ sung kiến thức từ bài trước với bài sau.
Tóm lại, trong quá trình dạy học Địa Lý việc sử dụng phương pháp lập
bảng
là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa Lý ở trường THCS.
4


1. 3 Cơ sở tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh THCS.
Ở lứa tuổi 14 - 15 học sinh bước đầu có khả năng nhận thức vấn đề một
cách độc lập, có quan điểm riêng. Tuy nhiên, tư duy của các em chưa thật sắc
bén, thiếu tính chất tổng hợp, song có những em thông minh, phát triển tư duy
trừu tượng, các em có thể giải thích được hiện tượng tự nhiên, xã hội dựa trên cơ
sở kiến thức đã được học.
Trong chương trình lớp 6, 7 các em đã được làm quen với các khái niệm,
các hiện tượng địa lý chung về khoa học Trái Đất, các vấn đề kinh tế – xã hội
của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đó là những vấn đề chung
của Địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội đại cương.
Chương trình Địa lý lớp 8 lại có đặc thù riêng, nó đi sâu vào nghiên cứu
đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Châu á, đặc điểm tự nhiên của Việt Nam

Giáo viên không chú ý đến phương pháp lập bảng so sánh nhằm làm nổi
bật lên những sự vật, hiện tượng, làm sáng tỏ, khắc sâu khái niệm để học sinh dễ
nhớ, dễ hiểu.
Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh hoàn thành bảng so sánh, giáo viên thường
đưa ra cho học sinh so sánh nội dung chung chung mà không đưa ra cho học
sinh hoàn thành những dấu hiệu yếu tố cụ thể nào => dẫn đến học sinh còn lúng
túng và bị động.
Khi sử dụng phương pháp lập bảng so sánh lại không kết hợp với vận
dụng các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy khác. Do đó kết quả đạt được
chưa cao và hiệu quả của phương pháp lập bảng so sánh không rõ ràng.
2.2. Nhận thức và việc thực hiện phương pháp lập bảng trong học tập
Địa Lý 8 của học sinh THCS
* Nhận thức:
Để nắm được nhận thức của học sinh tôi đã tiến hành gặp gỡ, trò chuyện
và đặt ra các câu hỏi trong sách giáo khoa đối với học sinh ở các lớp tiến hành
thực nghiệm. Hầu hết các em cho rằng phương pháp lập bảng so sánh là phương
pháp khó, nhất là đối với chương trình Địa Lý 8. Nhưng do đặc trưng của
chương trình và môn học, vì vậy cần phải sử dụng phương pháp này trong giảng
dạy. Các câu hỏi đặt ra cho các em cụ thể: “Sử dụng phương pháp lập bảng tổng
hợp, so sánh trong bài học có gây khó khăn gì trong việc tiếp thu bài của các em
không?”
6


Câu trả lời là “không” mà thậm chí các em còn cho rằng sử dụng phương
pháp này còn giúp các em tiếp thu bài tốt hơn, tự giác hơn nắm chắc kiến thức
và làm bài tập trên lớp cũng như ở nhà tốt hơn.
Như vậy nếu việc dạy học bằng phương pháp lập bảng được áp dụng phổ
biến sẽ là PPDH rất hữu hiệu để nâng cao chất lượng học cho HS
* Những thiếu sót của học sinh thông qua việc lập bảng:

Nhiệm vụ: Đọc SGK mục 2, Bảng 31.1, Átlát trang 7 và biểu đồ nhiệt độ,
lượng mưa Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, hãy hoàn thành bảng so sánh đặc
điểm khí hậu ba miền Bắc - Trung - Nam nước ta. Giải thích tại sao có sự khác
nhau đó.


Nhiệt độ

Biên độ

TB

nhiệt

Mưa TB Tổng lượng mưa Kết luận khí
năm

mùa mưa

hậu

Hà Nội
Huế
TP. Hồ Chí
Minh
Có thể do các em chỉ liệt kê được những đặc điểm khác nhau mà chưa tìm
ra những đặc điểm giống nhau. Hoặc các dấu hiệu đưa ra không cơ bản.
Ví dụ: Khi dạy bài: Đặc điểm dân cư xã hội Châu Á, GV yêu cầu HS
hoàn thành bảng:
Tôn giáo

CN
Thế

kỉ

VI

trước CN
Đầu CN

Thế kỉ XII
sau CN

Ấn Độ

Đấng tối cao
Bà La Môn

Ấn Độ

Phật Thích Ca

Pa-lê-xtin

Chúa Giê - Su

Ấn Độ
- Đông Nam á
- Nam á
Phi lip pin


Kéo dài

Ảnh hưởng tới
Đặc điểm

địa hình,
khoáng sản

Tân kiến tạo

Cổ kiến tạo
Tiền CamBri
- Còn đối với bài: “Sông ngòi và cảnh quan Châu Á” khi dạy mục 1 ta sẽ
có bảng sau:
Đặc điểm
Khu vực
Bắc Á

Mạng lưới sông

Hướng chảy

Chế độ nước

Có mạng lưới sông Nam lên Bắc

+ Mùa đông: sông bị

ngòi

ra lũ băng lớn.
Chế độ nước phụ

ngòi

thuộc chế độ mưa.

dày

đặc

với - Bắc - Nam

nhiều sông lớn: sông

+ Mùa mưa: sông có

A-mua, sông Hoàng

nước lớn.

Hà,

+ Mùa khô: nước

Giang,

sông

Trường

Đặc điểm phát triển kinh tế
KT- XH phát triển toàn diện
Công nghiệp hoá cao ,nhanh

Tên nước và vùng
lãnh thổ
Nhật bản
Xing ga po, Hàn

quốc
Đang phát triển
Nông nghiệp phát triển chủ yếu
Lào ,VN
Có tốc độ tăng trưởng CNH nhanh nhưng nông nghiệp TQ, Ân độ , Thái
cao
còn quan trọng
lan
Nước giàu, trình độ Khai thác dầu khí để phát triển A rập
khoa học chưa pt

kinh tế

xe

út,

Brunây…

2.2. Kết hợp phương pháp lập bảng với các phương pháp khác:
Tùy thuộc vào nội dung bài học GV lập bảng sẵn bằng bảng phụ hoặc kẻ

quan

thảo

nguyên hoang mạc...

- Bồn địa cao, rộng: Duy Ngô Khỉ,
Phía
Đông
Hải đảo

Tarim
- Vùng đồi núi thấp xen đồng bằng
- Phía đông và hải đảo
- Đồng bằng màu mỡ, rộng, bằng có khí hậu gió mùa ẩm
phẳng: Tùng Hoa, Hoa Bắc, Hoa Trung + Mùa đông với gió Tây
bắc rất lạnh và khô
Vùng núi trẻ; núi lửa, động đất hoạt + Mùa hè với gió Đông
nam mưa nhiều
động mạnh (Núi Phú Sĩ cao nhất)
- Cảnh quan rừng là chủ
yếu

2.3. Lập bảng tổng hợp
Sau khi HS đã nắm kiến thức GV yêu cầu HS hoàn thành bảng để tổng
hợp so sánh các sự vật hiện tượng, đây thường là các trường hợp bài ôn tập hoặc
các bài học có mối liên hệ với nhau.
Ví dụ: Lập bảng so sánh ba miền tự nhiên Việt Nam:
Miền Bắc và


- Trong quá trình lập bảng GV có thể lựa chọn nhũng yếu tố hoàn thành
tùy thuộc vào các đối tượng HS.
- Cho điểm và động viên kịp thời sau khi hoàn thanh bảng để tạo hứng thú
cho HS.
- Chia nhóm HS để hoàn thành nội dung giống nhau trong cùng một bảng.
- GV cùng HS hoàn thiện bảng trong quá trình lên lớp.
- Tại cùng một bảng các nhóm hoàn thành các nội dung khác nhau.
- Ví dụ: Khi tìm hiểu về đặc điểm sông ngòi nước ta GV chia HS thành 3 nhóm.
- Nhóm 1: Đặc điểm sông ngòi Bắc Bộ.
- Nhóm 2: Đặc điểm sông ngòi Trung Bộ.
- Nhóm 3: Đặc điểm sông ngòi Nam Bộ.
Bắc Bộ
Trung Bộ
Nam Bộ
Các hệ - Sông Hồng, sông Thái - Sông Cả, sông - Sông Đồng Nai,
thống

Bình, Bằng Giang, Kì Thu Bồn, sông Đà sông Cửu Long

sông

Cùng, sông Mã.
Rằng
- Sông có dạng hình nan - Ngắn dốc
quạt.
-

Chế độ nước

- Sông có dạng hình

Lớp
8A
8B

Giỏi
5%
4%

Khá
30 %
28 %

TB
62 %
60 %

Yếu
3%
8%

Sau khi tiến hành thực nghiệm đề tài kết quả cuối học kỳ I như sau:
Lớp
8A
8B

Giỏi
20 %
18 %

Khá

người GV phải có sự chuẩn bị, đầu tư hơn về công tác chuẩn bị bài nhằm tìm ra
những nội dung bài học có thể áp dụng phương pháp lập bảng.

13


Phòng GD, nhà trường củng như tổ chuyên môn cần tổ chức những
chuyên đề về đổi mới PPDH để các GV giảng dạy bộ môn Địa lý có cơ hội học
hỏi, giao lưu chia sẽ các kinh nghiệm của mình.
Hy vọng rằng với sáng kiến kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ thực sự hữu ích
đối với những ai quan tâm tới đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là các thầy
giáo - cô giáo đang dạy bộ môn Địa Lý.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn không tránh khỏi sự
thiếu sót. Có thể sau khi tham khảo đề tài, các bạn đồng nghiệp chưa thấy được
sức thuyết phục cao và tầm quan trọng của đề tài, nhưng tôi tin rằng các đồng
nghiệp sẽ nhận thấy mục đích của các vấn đề thể hiện trong đề tài mà bản thân
tôi muốn gửi tới các đồng nghiệp, để ngày một nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho HS.
Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ các đồng nghiệp để đề tài
hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU:

Trang 1

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trang 1


PHẦN II: NỘI DUNG:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:

Trang 3
Trang 3

1. Cơ sở lý luận:

Trang 3

2. Cơ sở thực tiễn:

Trang 5

II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:

Trang 7

1. Vận dụng PP lập bảng vào giảng dạy Địa lý 8 THCS:

Trang 7

2. PP và hình thức khi tiến hành dạy học bằng PP lập bảng: Trang 9
3. Kết quả thực nghiệm đề tài:
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

Trang 14
Trang 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status