ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH HÔNG TO BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ HUYỆT THEO KINH CÂN TÚC THÁI DƯƠNG BÀNG QUANG - Pdf 47

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH HÔNG TO BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ HUYỆT THEO KINH CÂN TÚC THÁI DƯƠNG
BÀNG QUANG
Đào Thanh Hoa1, Nguyễn Thị Thúy2
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm đanh giá tác dụng điều trị đau thần kinh hông to bằng phương pháp cấy chỉ
huyệt theo kinh cân Túc thái dương bang quang. 30 bệnh nhân đau thần kinh hông to được điều trị bằng
phương pháp cấy chỉ huyệt, xoa bóp theo Liệu pháp Kinh Cân kết hợp bài thuốc Độc hoạt ký sinh thang
trong thời gian 2 tuần. Đánh giá hiệu quả bằng thang điểm VAS, độ giãn cột sống thắt lưng, sự cải thiện
góc Lasègue, đánh giá ảnh hưởng của đau thần kinh hông to đến các chức năng SHHN. Kết quả:
Mức độ đau theo thang điểm VAS được cải thiện từ 5,94 ± 1,15 xuống còn 1,67 ± 0,63. Tỷ lệ bệnh nhân
hết đau đạt 3,3%, đau nhẹ là 80,0%, đau vừa là 16,7%; Trước điều trị góc độ Lasègue trung bình là
45,10 ± 11,02 tăng lên là 71,00 ± 6,56 sau điều trị; Sự cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày với mức
tốt là 6,7%, kém là 13,3%, trung bình chiếm 80% tại thời điểm trước điều trị xuống còn rất tốt chiếm
6,7%, tốt chiếm 76,7%, trung bình 13,3% sau 14 ngày điều trị. Kết luận phương pháp cấy chỉ huyệt, xoa
bóp theo liệu pháp kinh cân kết hợp bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh có tác dụng điều trị đau thần kinh
hông to trên bệnh nhân sau 2 tuần điều trị.
Từ khóa: Cấy chỉ, Liệu pháp kinh cân
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau dây thần kinh hông to là tình trạng đau từ thắt lưng lan xuống chân theo đường đi
của dây thần kinh hông. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên trong đó chủ yếu là
nhóm nguyên nhân tại cột sống thắt lưng. Bệnh gây ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động, học
tập và sinh hoạt của bệnh nhân [1]. Theo thống kê của Trần Ngọc Ân và cộng sự thì đau thần
kinh hông to chiếm tới 2% dân số và chiếm 17% số người trên 60 tuổi, đau thần kinh hông to
chiếm tỷ lệ 41,45% trong nhóm bệnh thần kinh cột sống và là một trong 15 bệnh cơ xương khớp
hay gặp nhất [3]. Việc điều trị đau thần kinh hông to đã được nghiên cứu rất nhiều với nhiều
phương pháp khác nhau như: Điều trị nội khoa, các phương pháp vật lý trị liệu, các phương pháp
can thiệp tối thiểu, điều trị phẫu thuật. Các phương pháp điều trị trên có ưu điểm thu được hiệu
quả điều trị nhanh nhưng nhược điểm là có nhiều tác dụng phụ và chi phí điều trị cao.
Theo Y học cổ truyền (YHCT) đau dây thần kinh hông to được mô tả trong chứng Tọa
cốt phong, Yêu cước thống,.... do các nguyên nhân ngoại tà, chấn thương, nội thương gây nên.


Phòng phong

08g

Tang ký sinh

12g

Tần giao

08g

Tế tân

06g

Đương quy

12g

Cam thảo

06g

Quế chi

06g

Bạch thược

2 lần sáng – chiều.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
30 bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và không có tiêu chuẩn loại trừ nào đến
khám và điều trị tại khoa YHCT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ tháng 1/2017
đến tháng 10/2017.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân tình nguyên theo phương pháp so sánh trước và sau điều
trị. Bệnh nhân dùng liệu pháp cấy chỉ theo Kinh Cân + xoa bóp theo Kinh Cân + uống thuốc Độc hoạt
ký sinh thang. Thời gian điều trị 14 ngày trong thời gian điều trị không dùng thuốc gì khác.
Thông qua các chỉ tiêu kết quả thay đổi thang điểm đau VAS, đánh giá hội chứng cột sống,
đánh giá hội chứng chèn ép rễ, đánh giá ảnh hưởng của đau thần kinh hông to đến các chức năng
SHHN bằng cách chọn 6 trong 10 câu hỏi của bộ câu hỏi Oswestry disability index bao gồm chăm
sóc cá nhân, nhấc vật nặng, đi bộ, ngồi, đứng và cuộc sống xã hội [45], đánh giá kết quả điều trị đau
dây thần kinh hông to của phương pháp cấy chỉ kết hợp Liệu pháp kinh cân ở các mức độ tốt, khá, trung
bình, kém, các tác dụng không mong muốn để có kết luận về hiệu quả điều trị.
2.4. Xử lý số liệu


Các số liệu thu thập được xử lý bằng thuật toán thống kê Y sinh học sử dụng phần mềm
SPSS 16.0. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p˂0.05.
III. Kết quả
3.1. Đặc điểm về các chỉ số lâm sàng trước và sau điều trị

Bảng 3.1. Các chỉ số lâm sàng trước và sau 14 ngày điều trị
D0

Ngày điều trị

X



71,00 ± 5,56

p ˂0,01

Nhận xét: Từ bảng trên ta thấy các chỉ số lâm sàng trước và sau điều trị có sự cải thiện rõ rệt. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p ˂0,01.
- Từ bảng trên ta thấy trước điều trị các bệnh nhân đều đau ở mức độ vừa và nặng. Sau
14 ngày điều tri điểm đau trung bình trên bệnh nhân giảm rõ rệt, độ giãn CSTL ở cả hai nhóm
đều tăng lên so với trước điều trị (p

D0
CNSHHN

D14

n

%

n

%

Rất tốt

0

0,0

2

6,7

Tốt

2

6,7


30

100

P

p˂ 0,05

Nhận xét:
Sau 14 ngày điều trị các chức năng sinh hoạt hàng ngày tăng lên rõ rệt so với trước
điều trị, năng sinh hoạt hàng ngày cải thiện tốt hơn với tỷ lệ bệnh nhân có chức năng sinh hoạt
hàng ngày ở mức tốt và rất tốt chiếm 83,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p˂0,05.
3.4. Tác dụng không mong muốn trên cận lâm sàng
Bảng 3.4. Sự thay đổi các chỉ số trên cận lâm sàng trước và sau điều trị
Ngày điều trị
D0
D14
p(D0-D14)

X

CLS
Hồng cầu
(T/L)
Bạch cầu
(G/L)
Tiểu cầu
(G/L)
Ure
(mmol/L)

>0,05

6,12±1,26

5,25±1,06

>0,05

77,15±18,11

74,08±19,88

>0,05

23,54±6,29

23,92±6,8

>0,05

34,38±5,98

36,54±4,58

>0,05

Nhận xét: Sau 14 ngày điều trị có sự thay về các chỉ số huyết học, hóa sinh ở bệnh nhân nhưng các
chỉ số hoàn toàn trong giới hạn bình thường. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
IV. Bàn luận
4.1. Sự cải thiện mức độ đau theo thang điểm VAS

tương đương với phương pháp điện châm theo tuần Kinh thủ huyệt và XBBH thông thường đã
được khẳng định rộng rãi trong các tài liệu y khoa.
4.2. Sự cải thiện nghiệm pháp Schober
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% số bệnh nhân ở cả hai nhóm đều có độ giãn CSTL
giảm với mức độ giảm nhẹ là 35%, giảm vừa là 55%, giảm nặng là 10%. Sau 14 ngày điều trị, độ
giãn Schober trung bình tăng rõ rệt so với trước điều trị là 2,06 ± 0,64, sau điều trị là 4,11 ± 0,52.
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p˂0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Quyên
(2011) sau điều trị chỉ số Schober tăng lên ở nhóm chứng là 3,21 ± 0,6, nhóm nghiên cứu là 3,65 ±
0,83[20]. Nguyễn Văn Hải (2007) sau điều trị chỉ số Schober trung bình là 3,9 ± 0,5[42].
4.3. Sự cải thiện góc Lasègue
Dấu hiệu Lasègue là dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán đau thần kinh hông to trên lâm
sàng, nó là dấu hiệu khẳng định có sự chèn ép rễ thần kinh trên bệnh nhân. Nghiệm pháp
Lasègue < 700 được coi là dương tính. Trong nghiên cứu của chúng tôi 96,67% số bệnh nhân có
nghiệm pháp Lasègue dương tính. Trong đó 16,67% số bệnh nhân có dấu hiệu chèn ép nhẹ,
31,70% bị chèn ép vừa, 48,30% bị chèn ép nặng. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu
của Trần Thị Minh Quyên (2011), có tỷ lệ nghiệm pháp Lasègue dương tính là 98,48% [20].
Nguyễn Văn Hải (2007) có tỷ lệ nghiệm pháp Lasègue dương tính là 100% [42].


Sau 14 ngày điều trị, góc độ Lasègue trung bình tăng lên từ 45,10 ± 11,02 lên 71,00±
5,56. Góc độ Lasègue trung bình tăng rõ rệt trước và sau điều trị sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với p ˂0,05
Kết quả này của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Đinh Đăng Tuệ (2013) điều trị
bệnh nhân đau thần kinh hông to bằng phương pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng kết hợp
xoa bóp bấm huyệt thấy tỷ lệ bệnh nhân trở về bình thường là 60,0%, nhẹ là 33,4%, trung bình là
3,4% [2]. Trần Thị Minh Quyên (2011) thấy góc độ Lasègue trở về bình thường là 65,15%, nhẹ
là 27,27%, trung bình là 6,06%, kém là 1,52% [20].
4.4. Sự cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày
Do đau và tầm vận động CSTL bị hạn chế nên các chức năng sinh hoạt hàng ngày ở các bệnh

trị đau thần kinh hông to dùng phương pháp cấy chỉ, xoa bóp theo Liệu pháp Kinh Cân kết hợp
bài thuốc Độc hoạt ký sinh thang.


V. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 30 bệnh nhân đau thần kinh hông to bằng cấy chỉ, xoa bóp theo Liệu
pháp Kinh Cân kết hợp bài thuốc Độc hoạt ký sinh thang chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

-

Liệu pháp Kinh Cân sử dụng 2 thủ pháp chính là cấy chỉ và xoa bóp kết hợp Độc hoạt ký
sinh thang có hiệu quả tốt trong điều trị đau thần kinh hông to. Trong đó:
Mức độ đau theo thang điểm VAS được cải thiện từ 5,94 ± 1,15 xuống còn 1,67 ± 0,63. Tỷ lệ
bệnh nhân hết đau đạt 3,3%, đau nhẹ là 80,0%, đau vừa là 16,7%
Sự cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày với mức độ kém là 23,3%, trung bình chiếm 70% tại
thời điểm trước điều trị xuống còn rất tốt chiếm 6,7%, tốt chiếm 76,7%, trung bình 13,3% sau 14
ngày điều trị. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status